Trang chủ   /   Dư Địa Chí Huyện Quan Sơn   /   Chương 1 ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
Chương 1 ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Quan Sơn là huyện miền núi vùng cao biên giới, nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, trung tâm huyện lỵ cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 150km. Nơi xa nhất là Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo cách thành phố Thanh Hóa 200km.

Quan Sơn có tọa độ địa lý:

- Điểm cực Bắc có vĩ độ 21006’15” Bắc, thuộc địa phận phía bắc bản Chanh, xã Sơn Thủy;

- Điểm cực Nam có vĩ độ 20024’30” Bắc, thuộc bản Xum, địa phận xã Sơn Hà;

- Điểm cực Đông có tọa độ 104015’30” Đông, thuộc địa phận bản Phú Nam, xã Trung Xuân;

- Điểm cực Tây có tọa độ 104015’30” - 105008’25” Đông, thuộc địa phận bản Cha Khót, xã Na Mèo.

Vị trí địa lý:

- Phía đông giáp huyện Bá Thước và Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa;

- Phía nam và phía tây giáp huyện Sầm Tớ, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào);

- Phía bắc giáp huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Lãnh thổ Quan Sơn trải dài theo hướng tây - đông. Chiều dài đường chim bay theo hướng tây - đông, từ bản Cha Khót (xã Na Mèo) đến phía đông bản Phú Nam (xã Trung Xuân) là 80km và chiều rộng trung bình theo hướng bắc - nam là 40km.

Diện tích tự nhiên của huyện 92.662,3ha, bằng 8,35% diện tích tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa, là huyện có diện tích tự nhiên đứng thứ ba trong tỉnh (sau huyện Thường Xuân và Quan Hóa); trong đó đất nông nghiệp: 81.337,5 ha, đất phi nông nghiệp 2.574,56ha; đất chưa sử dụng 8.750,44ha. Quan Sơn còn là huyện có thế mạnh về rừng, năm 2015 độ che phủ rừng là 88,8%, là huyện có độ che phủ rừng cao nhất tỉnh Thanh Hóa.

Huyện Quan Sơn có 13 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Quan Sơn và 12 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo. Toàn huyện có 99 khu, bản. Trung tâm hành chính của huyện là thị trấn Quan Sơn (Km 35 đường 217, tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Huyện có 06 xã biên giới: Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo với 64km đường biên.

Dân số của huyện là 37.139 người (tính đến năm 2015), trong đó phân theo giới tính là 18.884 nam và 18.255 nữ; phân theo thành thị, nông thôn: thành thị 2.830 người, nông thôn: 34.309 người. Mật độ dân số trung bình 40 người/km2.

Vùng đất Quan Sơn là nơi sinh sống đoàn tụ của nhiều dân tộc anh em: Thái, Kinh, Mường, Mông (trong đó, dân tộc Thái chiếm 81% dân số, dân tộc Kinh 9,1%, dân tộc Mường 7,4%, dân tộc Mông, 2,3%,), còn lại là các dân tộc khác 0,2%.

Có thể nhận thấy, hệ tọa độ địa lý mang đến cho Quan Sơn nhiều lợi ích: Toàn bộ lãnh thổ huyện đều nằm trọn trong múi giờ thứ 7 (giờ quốc tế GMT), nên thuận tiện cho việc quản lý thống nhất các hoạt động hành chính, sản xuất, văn hóa, xã hội và mọi mặt sinh hoạt của con người. Lãnh thổ Quan Sơn nằm trọn trong vùng nhiệt đới nên có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào. Đấy là động lực để hàng loạt quá trình tự nhiên diễn ra liên tục với cường độ mạnh, đảm bảo sự sinh sôi, nảy nở và phát triển của thế giới sinh vật; làm cho thiên nhiên Quan Sơn in đậm tính chất của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.

Về mặt vị trí địa lý kinh tế, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với các lãnh thổ khác thông qua Quốc lộ 217. Khoảng cách từ thị trấn Quan Sơn (theo Quốc lộ 217) tới Quốc lộ 15A tại ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước là 35km và tới đường Hồ Chí Minh là 80km, tới Quốc lộ 1 tại thành phố Thanh Hóa là 150km. Thông qua Quốc lộ 15A, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với các tỉnh ở khu vực Tây Bắc của đất nước. Thông qua tuyến đường Hồ Chí Minh, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (cách Hà Nội gần 170km), với cảng biển và Khu kinh tế Nghi Sơn và các vùng phát triển khác trong cả nước. Theo Quốc lộ 217, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) qua Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và Cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh.

Nằm ở vùng cao biên giới phía tây tỉnh Thanh Hóa, Quan Sơn không chỉ có vị thế quan trọng về kinh tế đối ngoại, quốc phòng an ninh mà còn có vai trò là rừng phòng hộ giữ cân bằng môi trường sinh thái của tỉnh Thanh Hóa.

Chính nhờ vị trí địa lý đặc biệt đó mà trong suốt chiều dài lịch sử, lãnh thổ này đã trở thành điểm hẹn của cộng đồng người Thái, Mường, Mông, Kinh... từ các vùng khác nhau mang theo những sắc thái văn hóa tộc người, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng hội tụ về đây khám phá thiên nhiên, lập nghiệp sinh sống và cùng tạo nên tính phong phú và độc đáo của văn hóa Quan Sơn.

Trong lịch sử, Quan Sơn cũng là hậu phương quan trọng của Mặt trận Thượng Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ. Quan Sơn là địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh của tỉnh, của Quân khu IV và cả nước, là đầu mối giao thương chính giữa hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa Phăn (Lào).

Với vị trí địa lý là cửa ngõ phía tây của tỉnh và địa bàn có vai trò trọng yếu về quốc phòng, an ninh, với quỹ đất cho phép, Quan Sơn đã và sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư, phát triển các trung tâm thương mại ở các khu đô thị như: thị tứ Km 19 Trung Hạ; Km 22 Trung Tiến; thị trấn Quan Sơn; chợ biên giới Tam Thanh; Khu dân cư Km 54, Km 61, Km 66, Trung tâm xã Sơn Thủy và Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Phát triển kinh tế du lịch với các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử như cầu Pha Lò (Phà Lò), động Bo Cúng, động Nang Non (pha Su Lú), núi Pù Mằn, thác Ma Hao, suối nước nóng bản Khạn, đền thờ Tư Mã Hai Đào,... Trong thời đại hiện nay, vị trí địa lý này đang mở ra nhiều cơ hội để huyện Quan Sơn khai thác những tiềm năng, lợi thế giúp cho Quan Sơn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển.

1.2. ĐỊA HÌNH

Về điều kiện tự nhiên, bề mặt địa hình là nơi gặp gỡ và tiếp xúc của các hợp phần tự nhiên như nham thạch, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật. Vì thế sự phân hóa của địa hình là nguyên nhân làm cho tự nhiên huyện Quan Sơn có sự khác nhau theo lãnh thổ.

Về mặt xã hội, bề mặt địa hình cũng là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động cư trú, sinh hoạt và sản xuất của con người. Vì thế, đặc điểm và sự khác biệt theo lãnh thổ của địa hình có tác động rất lớn đến phát triển và phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội, cư trú và sinh hoạt của con người trên địa bàn huyện.

1.2.1. Đặc điểm chung

Theo các bản đồ nền tỷ lệ 1/100.000 và 1/50.000 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ảnh vệ tinh Landsat, tư liệu ở các trang website: google earth.com, maps.google.com cùng các tài liệu đo đạc, nghiên cứu thực tế trong nhiều năm qua của các cơ quan chuyên môn, có thể nhận ra một số đặc điểm của địa hình Quan Sơn như sau:

1.2.1.1. Quan Sơn có địa hình núi chia cắt phức tạp

Nhìn chung, địa hình Quan Sơn chủ yếu là núi cao và sâu hình thành nhiều lòng máng dọc theo các khe suối và các thung lũng dọc theo hai bên bờ sông Lò và sông Luồng, thấp dần đổ về hướng tây nam - đông bắc. Phần lớn núi cao trung bình trên 600m, cao nhất trên 1.000m như đỉnh Pha Phanh (giữa 2 xã Sơn Điện, Sơn Lư) cao 1.100m - 1.300m, Pù Mằn (xã Sơn Hà) cao 1.247m. Diện tích đồi núi chiếm khoảng 91% diện tích toàn huyện, còn lại xen kẽ là những thung lũng nhỏ, khu vực đất thấp tương đối bằng, chủ yếu nằm dọc theo sông Lò và sông Luồng. Mặc dù có các di tích của các bề mặt san bằng cổ với các bậc độ cao: 900m - 1.247m, 600m - 800m và 300m - 500m, do sự chia cắt phức tạp nên phần lớn địa hình Quan Sơn có độ dốc lớn.

Sự chia cắt phức tạp của địa hình tuy có mang lại một số lợi ích như xây dựng các công trình cấp nước tự chảy, đỡ tốn năng lượng, nhưng lại gây ra rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, xây dựng các công trình, tăng chi phí xây dựng và ẩn chứa nguy cơ trượt đất, lũ ống, lũ quét, lũ bùn đá,... đó cũng là khó khăn trở ngại trong việc quy hoạch dân cư. Sự chia cắt phức tạp của địa hình cũng làm cho thời gian chiếu sáng tại các thung lũng thường ngắn hơn khu vực đỉnh núi và đồng bằng từ 1 đến 2 giờ. Do vậy, giờ làm việc, học tập, sinh hoạt của con người nơi đây phải bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn so với các khu vực đồng bằng và ven biển.

Với hơn 60% diện tích của Quan Sơn có độ cao trên 700m. Nhờ sự giảm nhiệt độ khi lên cao mà những nơi này có khí hậu cận nhiệt đới mát mẻ, có thể mở ra khả năng phát triển tập đoàn cây dược liệu, rau và hoa quả xứ lạnh và các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

Khoảng 97% diện tích tự nhiên của huyện có độ dốc trên 150 và không hề có một sơn nguyên, cao nguyên nào. Đặc điểm này chi phối phương hướng hoạt động kinh tế chủ yếu của huyện là tập trung vào các hoạt động lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên và du lịch. Các hoạt động canh tác nông nghiệp, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi và dân sinh khó khăn hơn các huyện đồng bằng vì phải khắc phục độ dốc lớn.

Các khu vực có độ dốc dưới 150 chủ yếu tập trung tại các thung lũng sông Luồng và sông Lò. Tại đây có thể phát triển các hoạt động lâm nghiệp và nông nghiệp với điều kiện phải xây dựng ruộng bậc thang để giữ nước, giảm bớt sự rửa trôi các chất dinh dưỡng và chống xói mòn cho đất.

Nơi có độ cao tuyệt đối lớn nhất của Quan Sơn là các đỉnh núi tại biên giới Việt - Lào thuộc phía tây xã Sơn Thủy và phía nam xã Mường Mìn. Tại đây độ cao đạt 1.300m - 1.400m. Nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất là thung lũng sông Lò tại phía đông xã Trung Xuân có độ cao chưa đầy 70m. Độ cao trung bình của địa hình Quan Sơn giảm từ 1.200m ở phía tây và phía nam xuống thung lũng sông Luồng, sông Lò và dọc hai bên Quốc lộ 217.

1.2.1.2. Các dãy núi ở Quan Sơn phần lớn nghiêng, dốc và kéo dài theo hướng tây - đông

Các dãy núi ở Quan Sơn là sự tiếp tục của các dãy núi chạy từ nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào rồi thấp dần về phía đông và phía đông bắc. Đây là nguyên nhân làm cho mạng lưới sông, suối ở Quan Sơn chủ yếu chảy theo hướng tây nam - đông bắc.

Các dãy núi chính ở Quan Sơn gồm: dãy Pù Mằn - Sơn Hà, cao 1.247m; dãy Pha Phanh - Sơn Điện - Sơn Lư cao 1.146m - 1.346m; Pù Xa Lày, xã Mường Mìn cao 1.416m.

Dãy Pù Mằn - Sơn Hà phát triển trên nền đá trầm tích cát kết, cát kết tụ, cát bột kết xen ryolit và thấu kính cuội kết, sạn kết... có tuổi (T2a đt1). Dãy núi này chạy từ nước bạn Lào qua phía nam bản Cha Khót (xã Na Mèo) chạy dọc biên giới Việt - Lào theo hướng tây - đông, tới đông nam bản Yên (xã Mường Mìn) bị khối macma bản Bin (yaT2 sm1) chia thành 2 nhánh, một nhánh chạy theo hướng đông - đông bắc và chạy tới bản Hậu (xã Sơn Lư); nhánh thứ hai tiếp tục chạy theo hướng đông - đông nam, sau khi hạ thấp độ cao còn 230m ở thung lũng sông Lò tại bản Kham (xã Tam Thanh) đạt độ cao trên 1.300m ở Sơn Hà và sau đó hạ thấp độ cao và đi vào lãnh thổ Lang Chánh.

Dãy Na Mèo - Sơn Lư. Dãy này chạy từ Lào qua bản Na Mèo theo hướng tây - đông đến phía tây - nam bản Bin (xã Sơn Lư). Dãy núi này nằm ở phía nam và chạy gần song song với Quốc lộ 217. Móng địa chất của dãy núi là các loại cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng của Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn). Nếu như dãy Pù Mằn - Sơn Hà chạy tương đối liên tục, thì dãy Na Mèo - Sơn Lư lại bị chia cắt phức tạp bởi sông Luồng và các nhánh của nó.

Dãy núi phía bắc chạy từ Lào qua phía nam bản Son (xã Na Mèo) theo hướng tây - đông về tận phía tây bản Bàng (xã Trung Thượng). Nửa phía đông của dãy núi này như là địa giới thiên nhiên giữa hai huyện Quan Sơn và Quan Hóa. Đây là dãy núi cao hiểm trở được cấu tạo bởi tập hợp đá rất phức tạp xen kẽ nhau bao gồm cát kết dạng quarzit, đá phiến silic, đá vôi silic của Hệ tầng La Khê (C1lk); cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng của Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn); granit biotit và granit hai mica thuộc Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1). Chính điều này làm cho địa hình dãy núi này rất hiểm trở, nhiều vách đứng, chia cắt phức tạp. Dãy núi phía bắc cũng bị các dòng sông, suối chạy theo hướng tây nam - đông bắc của sông Luồng chia cắt phức tạp. Đặc điểm này tạo thuận lợi cho việc mở những tuyến đường qua lại giữa huyện Quan Sơn và Quan Hóa.

1.2.1.3. Bề mặt địa hình Quan Sơn vẫn đăng tiếp tục thay đổi

Ngày nay vận động tân kiến tạo vẫn tiếp tục diễn ra và sẽ nâng cao thêm địa hình, làm xuất hiện các bậc địa hình mới, các thềm sông. Hệ thống sông suối tiếp tục đào lòng, chia cắt bề mặt địa hình. Các quá trình: phong hóa, cacxtơ, xói mòn, trượt đất, lở đất, rửa trôi, bồi tụ... và cuối cùng là hoạt động ngày càng mạnh thêm của con người sẽ làm cho bề mặt địa hình Quan Sơn thay đổi và chúng ta khó có thể hình dung được địa hình Quan Sơn sẽ như thế nào trong hàng vạn, hàng triệu năm sau. Vấn đề quan trọng là cần phải nhận thức được quy luật và xu hướng thay đổi của chúng để có những biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo phù hợp, để vừa thuận lợi cho sinh hoạt, phát triển sản xuất, vừa phòng tránh được các tai biến thiên nhiên vừa bảo vệ được cảnh quan môi trường.

1.2.2. Các kiểu địa hình

Quan Sơn có 4 nhóm kiểu địa hình: địa hình kiến tạo, địa hình xâm thực, địa hình cacxtơ và địa hình tích tụ. Mỗi kiểu, nhóm địa hình đều có những đặc điểm riêng biệt. Sự đa dạng của các kiểu, nhóm địa hình không chỉ làm cho cảnh quan Quan Sơn thêm đa dạng, ngoạn mục mà điều quan trọng hơn là làm cho các hoạt động sản xuất, cư trú và sinh hoạt của con người ở đây có sự khác nhau từ bản này sang bản khác. Do vậy khó mà có thể áp dụng một mô hình sinh hoạt, sản xuất và cư trú đồng nhất cho tất cả các khu vực trên địa bàn huyện.

1.2.2.1. Địa hình kiến tạo

Địa hình kiến tạo gồm các sườn và vách dốc dọc theo các đứt gãy tuyến tính, thể hiện rất rõ dọc theo đứt gãy sâu phân miền kiến tạo Điện Biên - Núi Nưa, đứt gãy theo phương vĩ tuyến chạy song song theo hướng tây - đông ở phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa, các đứt gãy theo phương á kinh tuyến ở phía bắc Quốc lộ 217... Hệ thống các đứt gãy này nhiều khi làm ranh giới giữa các kiểu loại đá có thành phần và tuổi khác nhau, thậm chí giữa các nếp uốn khác nhau trong cùng một loại đá, cùng một thành hệ đất đá. Ngoài ra, còn có nhiều đoạn sườn và vách dốc ngắn, hẹp dọc theo các đứt gãy phương đông bắc - tây nam như ở các xã: Trung Thượng, Trung Xuân, Sơn Thủy, Sơn Điện. Hai hệ thống sườn và vách dốc này cắt nhau, cùng nhau chia cắt các dãy núi thành từng khối. Tại những nơi giao cắt, có thể nhận thấy thung lũng đột nhiên mở rộng ra, hoặc phát triển các trũng hoặc phễu sụt nếu ở diện phân bố đá vôi.

1.2.2.2. Địa hình xâm thực

Địa hình xâm thực phát triển chủ yếu trên các macma và trầm tích. Địa hình xâm thực trên đá macma của phức hệ sông Mã và phức hệ Phia bioc pha. Các sườn dốc nhóm này phát triển ở độ cao tương đối khoảng 700m - 1.000m. Bề mặt sườn thường thẳng hoặc hơi uốn lượn, góc dốc sườn tăng dần lên trên tới khoảng 300. Mức xâm thực sâu thường khá cao, tới 200m - 700m, trong khi mạng lưới sông suối lại không phát triển. Bề mặt sườn lộ đầy đá gốc bị dập vỡ, chia cắt, đôi khi được lớp đất mỏng màu nâu vàng che phủ.

Địa hình xâm thực phát triển trên đá trầm tích của hệ tầng sông Mã (Cambri giữa Î2 sm), hệ tầng Hàm Rồng (Î3 - O1hr), hệ tầng La Khê (C1lk), hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn), hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt). Các kiểu địa hình trên đá lục nguyên có thể được chia nhỏ thêm thành các nhóm phụ sau: Các bề mặt san bằng, vạt gấu (pediments), sườn xâm thực tổng hợp, sườn xâm thực do các rãnh xói hoặc nước chảy tràn trên mặt;

Bề mặt san bằng: Tàn dư của các bề mặt san bằng thấy khá nhiều trên các đỉnh hoặc sườn núi ở các mức độ cao khác nhau, khiến cho địa hình trong vùng có dạng bậc, chẳng hạn như các bậc 900m - 1.200m, 600m - 800m và 300m - 500m. Bề mặt chúng hơi lượn sóng, được phủ một lớp mỏng sườn tích, tàn tích hoặc sản phẩm phong hóa bở rời.

Vạt gấu là một dạng bề mặt san bằng thấp, chưa hoàn chỉnh, chủ yếu do nước chảy trên mặt các đá lục nguyên. Có hai loại vạt gấu là vạt gấu thung lũng và vạt gấu trước núi, ở dạng các dãy đồi thấp (300m - 500m), có đỉnh tròn, sườn thoải. Vạt gấu trước núi thấy ở dạng các đồi thoải dưới chân núi.

Sườn xâm thực tổng hợp hình thành do nhiều yếu tố như gió, nước chảy bề mặt hoặc trọng lực... nhưng không yếu tố nào được coi là chủ yếu. Các sườn kiểu này thường thẳng, không dốc hơn 200 và thường không có rãnh xói. Bề mặt chúng thường được phủ bởi tàn tích, sườn tích, đôi chỗ bởi lớp vỏ phong hóa mạnh của đá gốc; Sườn xâm thực do rãnh xói hoặc nước chảy bề mặt phát triển ở thấp hơn một chút so với sườn xâm thực tổng hợp, với góc dốc khoảng 20 - 400, bị xâm thực và biến dạng thành các bậc ở độ cao 300m - 500m; 600m - 800m và 900m - 1.200m. Rãnh xói thường thấy ở các dạng song song, tỏa tia hoặc lượn sóng, trong khi các thung lũng thường có dạng “chữ V”. Những sườn kiểu này thấy ở Trung Xuân, Trung Thượng, Sơn Hà, Tam Thanh... Sườn xâm thực do rãnh xói có thể nhận thấy dễ dàng qua mạng lưới dày đặc các dòng chảy bậc cao. Bề mặt sườn dốc thường uốn cong lên, dốc dần lên đỉnh tới trên 300, hơi lượn sóng và bị chia cắt mạnh mẽ bởi các rãnh xói. Các rãnh xói thường có dạng tỏa tia, dạng cành cây trong khi các thung lũng thường có dạng “chữ V” hoặc thậm chí “chữ U”.

Sườn trọng lực: Sườn trọng lực dễ thấy nhất trên đá gốc cứng, giòn, dập vỡ mạnh dọc các thung lũng sông suối lớn và trên sườn các cao nguyên đá vôi, bị nâng mạnh trong giai đoạn tân kiến tạo. Sườn trọng lực thường phân cắt yếu với các vách dốc (>600) và tích tụ vật liệu trượt ở chân dốc. 

1.2.2.3. Địa hình cacxtơ và cacxtơ - xâm thực

Chúng chủ yếu tập trung ở phía bắc Quốc lộ 217 thuộc các xã: Sơn Điện, Sơn Thủy, Sơn Lư... Địa hình kiểu này có sườn rất dốc, tạo nên chuỗi các tháp karst cao thấp không đều rất độc đáo xen giữa các thung lũng karst - xâm thực hẹp, song song cùng phương. Mạng lưới dòng chảy mặt không phát triển nhưng lại có nhiều hố sụt hoặc dãy các phễu sụt cũng chạy dài theo phương đông - tây. Ở nơi giao cắt giữa các thung lũng karst - xâm thực đôi khi hình thành nên các cánh đồng karst rộng 1 - 2km với dòng chảy mặt thường xuyên.

Thung lũng cacxtơ có dạng chữ U phân tách các khối cacxtơ. Thung lũng thường khô, hẹp, dốc đứng với lớp phủ đất đỏ “terrarosa” tích tụ dưới chân. Ngoài ra, trên các trũng sụt kéo dài, ở nơi đá vôi xen kẹp với các đá lục nguyên khác cũng phát triển các đồi karst dạng nón, sườn không dốc mà lại được phủ bởi đất tàn tích. Chúng phân bố rải rác làm nên địa hình karst tàn dư, rất điển hình ở Sơn Điện, Sơn Thủy.

1.2.2.4. Địa hình tích tụ

Thuộc nhóm địa hình này có bãi bồi, thềm tích tụ bậc I và bậc II, thềm xâm thực bậc III và IV, các nón sườn tích và lũ tích... hình thành chủ yếu do tác động của các dòng chảy thường xuyên, tạm thời và ít hơn là các quá trình trọng lực.

Bãi bồi phát triển liên tục dọc sông Luồng, sông Lò và các dòng suối lớn khác, thường bị ngập trong mùa mưa lũ. Dạng địa hình này thường chỉ rộng 10 - 15m, dày 0,5 - 1,0m, chủ yếu gồm cuội sỏi, cát sạn, sét bột bở rời...

Thềm tích tụ bậc I, phát triển không liên tục dọc sông Luồng, sông Lò, cao khoảng 5 - 12m, rộng khoảng 20 - 100m và dài vài trăm km. Bề mặt thềm khá phẳng, hơi lượn sóng do phân cắt trung bình (0,7 - 1,2km/km2) và chúng thường cấu tạo bởi bột cát và sét, cuội sỏi và tảng, dày 2 - 4m, nằm phủ trên đá gốc là phiến sét phong hóa.

Thềm tích tụ - xâm thực bậc II, nằm cao hơn thềm bậc I khoảng 1 - 3m và tồn tại dọc sông Luồng, sông Lò.

Thềm xâm thực bậc III và IV chỉ còn sót lại dọc sông Lò, sông Luồng, nằm cao hơn mực nước sông khoảng 60 - 80m ở dạng đồi thoải, lộ toàn đá gốc phong hóa.

Các nón tích tụ sườn tích - lũ tích. Các nón tích tụ cả cổ lẫn hiện đại phát triển khá rộng rãi trên địa bàn huyện. Các hiện tượng xói rửa, bóc mòn, trượt lở hiện nay vẫn tiếp tục xảy ra, để lại dọc Quốc lộ 217 vô số tảng lăn, nhiều khi phá hủy, làm ách tắc đường, cuốn theo nhiều vạt nương rẫy. Các nón tích tụ sườn và lũ tích quy mô nhỏ hơn cũng khá phát triển ở cửa các dòng chảy tạm thời, gồm nhiều loại tảng, dăm hỗn độn.

1.3. ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Theo Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1: 200.000 của Cục Địa chất Việt Nam xuất bản năm 1995 thì đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa là đứt gãy sâu phân miền kiến tạo đi qua lãnh thổ Quan Sơn và chia Quan Sơn thành hai miền kiến tạo với những đặc điểm địa tầng, hoạt động macma và thạch học khác nhau: Đới phức nếp lồi sông Mã ở phía bắc và đới võng chồng Sầm Nưa ở phía nam. Hướng chạy của đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa gần trùng với tuyến đường 217.

Đáng chú ý là hiện nay đứt gãy này vẫn đang hoạt động, gắn liền với vận động Tân kiến tạo và sự chuyển dịch của các kiến trúc địa chất của miền Tây Bắc Bộ. Đấy chính là nguyên nhân làm cho lãnh thổ Quan Sơn nói riêng và khu vực Mường Lát, Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước vẫn thường xuyên xảy ra động đất cấp 3, cấp 4 độ richter. Chẳng hạn như trận động đất lúc 21 giờ ngày 13/3/2015 có cường độ 2,9 độ richter, độ sâu chấn tiêu khoảng 8km tại các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Thủy... Trận động đất xảy ra lúc 19 giờ 38 phút ngày 19/01/2015 tại vị trí khu vực giữa xã Nam Động, huyện Quan Hóa và Sơn Điện, huyện Quan Sơn, độ sâu chấn tiêu là 10km, cường độ 3 độ richter. Trong năm 2010, trên địa bàn huyện cũng đã xảy ra 3 trận động đất, với cường độ từ 3,5 - 4 độ richter. Các trận động đất gây ra tình trạng sụt, lở đất, đá, xuất hiện hố tử thần, đổ nhà và phá hoại các công trình xây dựng...

1.3.1. Địa tầng

Địa tầng (các tầng đất đá) - dấu ấn của hoạt động địa chất trong quá khứ. Phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa thống trị chủ yếu là các hệ tầng của đới phức nếp lồi sông Mã như: Hệ tầng Hàm Rồng, hệ tầng sông Mã, hệ tầng Bắc Sơn và hệ tầng La Khê. Phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa có sự thống trị của các hệ tầng thuộc võng chống Sầm Nưa: hệ tầng Huổi Nhị và hệ tầng Đồng Trầu.

Đới phức nếp lõi sông Mã gồm các hệ tầng:

Hệ tầng sông Mã (Cambri giữa Î2sm) chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ tại đông bắc xã Trung Xuân. Bề dày của hệ tầng 500m - 600m và cấu tạo bởi đá phiến thạch anh chứa cuội thạch anh, đá phiến thạch anh sericit xen các lớp mỏng đá vôi tái kết tinh.

Hệ tầng Hàm Rồng (Î3 -O1hr): dày 650m - 850m cấu tạo bởi đá phiến sericit, đá phiến thạch anh sericit xen đá vôi phân lớp trung bình. Hệ tầng này chiếm diện tích rất lớn tại Mường Lát và Quan Hóa. Tại Quan Sơn chỉ có một diện tích nhỏ thuộc đông bắc xã Trung Xuân.

Hệ tầng La Khê (C1lk): gồm cát kết dạng quarzit, đá phiến silic, đá vôi silic. Độ dày 115 m. Hệ tầng này chủ yếu phân bố ở nơi tiếp xúc của hệ tầng Bắc Sơn với tập nham granit biotit và granit hai mica của phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1); hoặc tại đới tiếp xúc của hệ tầng Bắc Sơn với tạp nham cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng. Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn). Chúng chiếm diện tích không lớn và phân bố rải rác tại các xã: Sơn Thủy, Sơn Điện, Trung Thượng và Trung Tiến.

Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs): Tầng kiến trúc này gồm chủ yếu là đá vôi hệ tầng Bắc Sơn (C-P1 bs) dày trung bình 400m có nơi tới 800m - 900m, với xen kẽ luân phiên giữa đá vôi, đá vôi sét, đá vôi silic, dăm kết vôi màu xám, xám sẫm, phân lớp mỏng; đá vôi xám vàng, phân lớp dày; đá vôi dạng trứng cá bị hoang hóa; và đá vôi tái kết tinh dạng đường màu xám trắng, phân lớp dày, cùng tạo nên cánh của một nếp lõm lớn, cắm thoải 20 - 400 về phía đông bắc. Tầng kiến trúc này phân bố trên địa bàn rất rộng chiếm tới gần 1/5 diện tích huyện Quan Sơn và phân bố khá liên tục trên địa bàn các xã phía bắc Quốc lộ 217: Na Mèo, Sơn Thủy, Sơn Điện, Trung Thượng và Trung Tiến. Chuyển động nâng nhanh và các quá trình xói mòn mạnh mẽ đã làm nên cái gọi là “rừng đá” trên các diện lộ đá vôi này, với các đỉnh nhọn nhô lên sàn sàn nhau trên nền của các cánh đồng karst bên dưới.

Đới võng chồng Sầm Nưa gồm các hệ tầng sau:

Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn): Có bề dày hơn 1.000m, cấu tạo bởi cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng. Hệ tầng Huổi Nhị phân bố ngay sát rìa Nam của đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa, chiếm khoảng 1/6 diện tích huyện Quan Sơn và phân bố khá liên tục dọc hai bên Quốc lộ 217 chạy từ Biên giới Việt - Lào tới phía đông nam huyện chạy qua rìa Tây thung lũng sông Âm ở Lang Chánh, Ngọc Lặc, tới Thường Xuân và chìm xuống các hệ tầng trẻ hơn ở lòng hồ Cửa Đặt. Ngoài ra hệ tầng này còn phân bố rải rác, xen kép giữa các địa phân bố của các hệ tầng: Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), hệ tầng La Khê (C1lk) và đá xâm nhập Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1) ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa.

Hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt), chiếm gần 1/4 diện tích và phân bố chủ yếu ở phía nam của huyện. Hệ tầng này phân bố song song với hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn và chạy dọc theo biên giới Việt - Lào tạo thành một dải tương đối liên tục từ các xã Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Điện, Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Hà và sau đó qua lãnh thổ Lang Chánh. Vận động kiến tạo nâng hệ tầng này lên rất mạnh và tạo thành những đỉnh núi cao trên 1.000m chạy dọc theo biên giới Việt - Lào (phía tây nam của Quan Sơn). Hệ tầng Đồng Trầu gồm 2 phân hệ tầng:

T2ađt1: Phân hệ tầng dưới, bề dày 700 - 800m cấu tạo bởi cát kết, cát kết tuf, cát bột kết xen ryolit và thấu kính cuội kết, sạn kết.

T2ađt2: Phân hệ tầng trên dày 500 - 600m, cấu tạo bởi cát bột kết, cát kết tuf, xen ít đá vôi phân lớp mỏng.

1.3.2. Lịch sử địa chất  - kiến tạo

Trên bình đồ địa chất - kiến tạo, Thanh Hóa là một bộ phận của đới phức nếp lồi sông Mã và đới võng chồng Sầm Nưa. Ranh giới của đới võng chồng Sầm Nưa và đới phức nếp lồi sông Mã là đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa. Các đơn vị cấu trúc trên đây lại là một bộ phận của vùng biển cổ Tetit - một vùng biển cổ nằm giữa lục địa cổ Âu - Á ở phía bắc và lục địa Gônvana ở phía Nam. Quá trình phát triển lâu dài qua nhiều giai đoạn khác nhau của mỗi đới kiến tạo trên đây là nguyên nhân cơ bản hình thành những đặc điểm của lãnh thổ Thanh Hóa và Quan Sơn ngày nay.

Lãnh thổ Quan Sơn cũng thuộc 2 đới kiến tạo lớn quy mô khu vực là: Đới phức nếp lồi sông Mã ở phía bắc và đới võng chồng Sầm Nưa ở phía nam, ngăn cách nhau bởi đứt gãy sâu Điện Biên - Núi Nưa nổi tiếng phương tây bắc - đông nam. Lịch sử kiến tạo - địa chất của Quan Sơn diễn ra theo các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn Tiền Cambri (Cách đây khoảng 550 - 570 triệu năm). Cũng như toàn bộ Việt Nam, lãnh thổ Thanh Hóa là một vũng biển rộng lớn, chỉ nhô lên một vài đảo nhỏ. Các mỏm nhô cổ ấy còn tồn tại đến ngày nay hiện có mặt ở Mường Lát, Quan Hóa, núi Trường Lệ (Sầm Sơn) và núi Hoằng Trường (Hoằng Hóa). Một diện tích rất nhỏ phía bắc Quan Sơn là rìa Nam của đảo cổ Mường Lát. Phần lớn diện tích còn lại lúc này còn đang nằm dưới biển và chịu tác động của quá trình lắng đọng trầm tích.

Giai đoạn Cổ sinh (Cách đây từ 270 đến 550 triệu năm). Giai đoạn này có chu kỳ kiến tạo Calêđôni và Hecxini. Chu kỳ tạo núi Calêđôni (từ Cambri tới hết Silua - cách đây từ 420 đến 570 triệu năm) có hai pha: pha sụt lún để lắng đọng trầm tích kéo dài từ Cambri đến O2 và pha uốn nếp kéo dài từ O3 đến S2. Lãnh thổ Quan Sơn lúc này cũng đang nằm trong quá trình nhận trầm tích lắng đọng để hình thành các thành hệ trầm tích từ O3 - S1 của hệ tầng sông Cả với thành hệ đá phiến sericit, đá phiến thạch anh sericit xen đá vôi phân lớp trung bình.

Chu kỳ kiến tạo Hecxini kéo dài từ Dêvôn hạ đến hết Pecmi thượng (cách đây từ 270 đến 400 triệu năm). Vào D1 có hiện tượng biển tiến mạnh tại các khu vực ven rìa đới phức nếp lồi sông Mã. Trong khi ở đới võng chồng Sầm Nưa vẫn là chế độ biển. Theo S.K Kitôvani (1964), trong khi hầu hết lãnh thổ Thanh Hóa là vùng biển lắng đọng trầm tích, thì Quan Sơn (cùng với Mường Lát, Quan Hóa) đã trở thành lục địa. Đến giai đoạn D2 - P, miền núi Thanh Hóa, trong đó có Quan Sơn lại bị lún chìm để lắng đọng thành hệ trầm tích đá vôi (ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa) và đá phiến sét, đá vôi, cát kết ở phía nam đứt gãy này.

Giai đoạn Trung sinh (Cách đây từ 65 đến 270 triệu năm). Giai đoạn này có chu kỳ kiến tạo Inđôxini và kimeri. Chu kỳ Inđôxini diễn ra trong thời gian tương đối ngắn (chỉ khoảng 40 triệu năm) nhưng là chu kỳ quan trọng nhất trong việc hình thành lãnh thổ Việt Nam, Thanh Hóa nói chung và Quan Sơn nói riêng. Nguồn gốc của vận động này chủ yếu có sự liên quan trực tiếp với sự tiến lại gần nhau và xô húc của hai mảng lục địa Ấn Độ ở phía nam và Âu - Á ở phía bắc. Vào đầu chu kỳ, lục địa Cổ sinh bị phân cắt do sự xuất hiện một mạng lưới các đứt gãy mới và sự hồi sinh các đứt gãy cũ tạo nên hàng loạt vùng nâng và sụt có kích thước nhỏ hơn. Lúc này, ở phía bắc Thanh Hóa, địa máng sông Đà sụt lún trước, từ T1 đầu T3 và sụt lún rất mạnh, biển tiến cực đại vào T2a, tốc độ có thể đạt 0,18 - 0,20mm/năm. Đới võng chồng Sầm Nưa trong đó có Quan Sơn bị sụt lún muộn hơn, với tốc độ dưới 0,18mm/năm.

Vào T3 - nr (Triat muộn kỳ nori) có hiện tượng uốn nếp ở địa máng sông Đà và võng chồng Sầm Nưa. Đới sông Mã có lẽ uốn nếp sớm hơn (cuối T2 ?). Hoạt động macma cũng đã diễn ra để hình thành các khối macma xâm nhập thuộc Phức hệ sông Mã pha 1 (yt T2 sm1) ở phía nam và Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1) ở phía bắc Quốc lộ 217. Cho đến trước Nêôgen, giai đoạn tổng nâng là chủ yếu, làm cho biển lùi và Quan Sơn là lục địa, chịu tác động rửa xói.

Theo S.K Kitovani (1964), vào T1 lãnh thổ Thanh Hóa thuộc phạm vi đới phức nếp lồi sông Mã là lục địa và chịu tác động rửa xói, còn võng chồng Sầm Nưa là vùng biển lắng đọng phiến sét, cát kết. Nhưng vào T3 đầu kỳ Nori, lãnh thổ Thanh Hóa lại bị biển bao phủ, chỉ có mỏm cực Tây thuộc huyện Mường Lát và Vịnh Bắc Bộ là lục địa chịu tác động của quá trình rửa xói. Sang Đệ Tam toàn bộ lãnh thổ Quan Sơn là lục địa, chịu tác động rửa xói.

Giai đoạn Tân sinh bắt đầu từ kỷ Đệ tam cũ (Palêôgen) - cách đây 65 triệu năm và kéo dài đến ngày nay. Trong suốt 40 triệu năm đầu tiên (kỷ Palêôgen) đã diễn ra quá trình bán bình nguyên hóa. Sau sự kiện xô húc vào Trung sinh, đến giai đoạn này diễn ra sự sáp vào nhau của hai mảng lục địa Ấn Độ và Âu - Á (kết quả là hình thành dãy núi Hymalaya vĩ đại). Chính đây là nguyên nhân làm nảy sinh vận động Tân kiến tạo và được bắt đầu từ Nêôgen (cách đây 25 triệu năm). Chúng đã làm làm trẻ lại các bán bình nguyên cổ hình thành vào Palêôgen, bóc mòn các nếp núi hình thành trong Trung sinh, chia cắt, hạ thấp địa hình và san bằng các chỗ lõm, làm sụt lún mạnh Vịnh Bắc Bộ và khu vực đồng bằng Thanh Hóa (Vào Plêixtôxen giữa - Plêixtôxen muộn, cách đây 700.000 đến 300.000 năm) tạo điều kiện để lắng đọng vật liệu hình thành đồng bằng Thanh Hóa ngày nay. Vận động Tân kiến tạo trong giai đoạn này diễn ra theo 6 chu kỳ và kết quả đã để lại trên lãnh thổ Thanh Hóa các bậc địa hình có độ cao khác nhau: 1.500 - 1.800m, 1.000 - 1.400m, 600 - 900m, 200 - 600m, 25 - 100m và các bậc thềm sông - biển 15 - 20m, 10 - 12m, 6 - 8m và 4 - 5m. Tại Quan Sơn ngày nay vẫn còn bảo lưu các bề mặt san bằng cổ với các độ cao 1.000 - 1.400m, 600 - 800m và 300 - 500m. Vận động Tân kiến tạo ngày nay vẫn còn tiếp diễn, động đất vẫn thường xảy ra và chúng ta cũng khó lòng mà hình dung được những đặc điểm của địa hình và mạng lưới thủy văn ở Quan Sơn trong nhiều triệu năm nữa.

1.3.3. Các thành tạo macma

Phức hệ sông Mã (yaT2 sm1): phân bố dọc đứt gãy chạy từ bản Bin (xã Sơn Lư) tới bản Lầu (xã Sơn Hà). Chúng được cấu tạo bởi granit biotit dạng porphyr, granođiorit horblend - biotit porphyr và lộ diện ở 4 điểm nằm xen kẽ trong khu vực phân bố của hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn).

Phức hệ sông Mã pha 1 (yt T2 sm1): granit biotit dạng porphyr, granođiorit horblend - biotit porphyr. Phức hệ này phân bố gần như ở giữa hệ tầng Đồng Trầu (từ Na Mèo, Mường Mìn), đến khu vực các xã Sơn Điện và Tam Thanh thì phía nam là hệ tầng Đồng Trầu và phía đông bắc là hệ tầng Huổi Nhị.

Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1): gồm granit biotit và granit hai mica. Trên lãnh thổ Quan Sơn chúng phân bố chủ yếu ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa và có mặt ở hầu hết các xã trong khu vực này. Ngoài ra phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa cũng có một diện lộ chạy từ bản Bàng (Trung Thượng) về hướng đông nam tới tận lãnh thổ Lang Chánh.

1.3.4. Tài nguyên khoáng sản

Điểm sắt bản Muống, xã Sơn Thủy. Tọa độ trung tâm (VN 2.000): X= 04 74 591, Y= 22 50 094. Quặng phân bố ở sư­ờn núi thuộc làng Muống, xã Sơn Thủy. Thân quặng có dạng thấu kính dài khoảng 30m, dày từ 2 - 3m kéo dài theo phư­ơng 400 - 2.200, thế nằm 3.100Ð850. Quặng manhêtít có màu đen đặc xít, nằm trong đới tiếp xúc giữa đá granit và các trầm tích lục nguyên. Quặng chư­a bị phá hủy nên phần quặng lăn rất ít. Hàm l­ượng Fe: Cao nhất: 68,10%, Thấp nhất: 16,56%, Trung bình: 52,44%. Trữ lượng 2.000 tấn có thể sử dụng cho luyện kim.

 Điểm sắt bản Sủa, xã Sơn Điện. Tọa độ trung tâm (VN 2.000): X= 04 84 441,Y = 22 47 041. Quặng dư­ới dạng lăn trên s­ườn đồi thuộc đội 1, bản Sủa, xã Sơn Điện và d­ưới chân của đá vôi, diện tích lăn khoảng 1.000m2, dài 100m, rộng 10m. Kích thư­ớc quặng lăn đường kính từ 1,2 - 50cm; hầu hết đã bị phong hóa. Quặng có màu nâu vàng, từ tính yếu. Hàm suất quặng: 10%. Hàm l­ượng quặng Fe: Cao nhất: 50,42%, Thấp nhất: 14,70%, Trung bình: 32,08%. Trữ lượng 3.000 tấn có thể sử dụng làm phụ gia.

Ngoài ra, trên địa bàn huyện Quan Sơn có các loại khoáng sản: Mỏ chì, kẽm ở xã Sơn Thủy, chì, bạc ở xã Sơn Hà, sắt ở xã Tam Lư, Molipden ở xã Mường Mìn, Graphit ở xã Na Mèo, về trữ lượng chưa xác định. Huyện Quan Sơn có nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là cát vàng từ các sông suối với chất lượng tốt, đảm bảo xây các công trình nhà cửa kiên cố, cầu, đường; Sỏi khai thác ven các suối và 2 con sông Lò, sông Luồng; Đá có nhiều núi đá dọc tuyến đường 217 và các đường liên xã, đường vành đai biên giới, đường tuần tra biên giới, trong đó nhiều núi đá đen đạt tiêu chuẩn xây dựng công trình kiên cố có thể xay thành đá 1×2, đá mạt, đảm bảo yêu cầu chất lượng công trình cao cấp.

1.4. ĐẤT ĐAI, THỔ NHƯỠNG

1.4.1. Đá gốc (đá mẹ)

Lãnh thổ Quan Sơn có ba nhóm đá mẹ (thường gọi là đá gốc) là cơ sở để hình thành lớp vỏ phong hóa và cùng với các nhân tố tự nhiên khác: khí hậu, sinh vật, thủy văn, địa hình để hình thành các loại đất khác nhau.

Nhóm đá trầm tích: có đá vôi, sa thạch, phiến thạch, sét...

Nhóm đá biến chất có gnai, phiến thạch mica,...

Nhóm đá macma: gồm đá gabro, granit, fooc phia rit...

1.4.2. Đặc điểm các loại đất

Địa hình toàn huyện chủ yếu là núi cao và vừa thuộc các thung lũng sông Lò và sông Luồng, thấp dần theo hướng tây nam - đông bắc. Diện tích đồi núi chiếm khoảng 91%, còn lại xen kẽ là những thung lũng nhỏ, khu vực đất thấp tương đối bằng chủ yếu nằm dọc theo sông Lò và sông Luồng. Diện tích đất của Quan Sơn phân theo độ dốc địa hình bao gồm:

- Đất có độ dốc cấp I (< 30): 5ha chiếm 0,005% diện tích tự nhiên. Đất có độ dốc cấp II (4 - 80): 215ha chiếm 0,23%

- Đất có độ dốc cấp III (9 - 150): 2.285ha chiếm 2,46%

- Đất có độ dốc cấp IV,V,VI (> 150): 84.837ha chiếm 91,36%

Quan Sơn có các nhóm đất chính sau

Nhóm đất xám Ferralit điển hình (Fa, Fq, Fv): Diện tích 34.162,24ha, chiếm 36,73% diện tích tự nhiên, thường có ở độ dốc từ 80 trở lên. Loại đất này có đặc điểm tầng đất dày có thể đến vài mét, tỷ lệ sét cao (trên 50%) nên thành phần cơ giới nặng. Tuy nhiên, do cấu tượng tốt nên vẫn tơi xốp, thoáng khí. Đất giàu các cation Ca++, Mg++, Fe+++, Al+++, đạm và lân tổng số cao, nghèo kali. Nhưng lân dễ tiêu (P205) lại rất thấp, do lân thường kết hợp với Al và Fe ở dạng khó hoà tan: Al(PO4)3 và Fe(PO4)3. Tại nơi có độ dốc 8 - 150 nên trồng cây công nghiệp ngắn ngày, trên 150 nên trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâm kết hợp, lâm nghiệp. Khi khai thác cần phải có các biện pháp bảo vệ cho đất như chống xói mòn, giữ ẩm cho đất, bón lân, kali và cả đạm nếu cần thiết.

Đất xám Feralit giàu mùn (ACfa - hu): diện tích 18.769,79ha, chiếm 20,18% diện tích tự nhiên, phân bố ở độ dốc 3 - 150, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm.

Đất xám Feralit đá lẫn nông (ACfa - L1): Diện tích 6.682,71ha, chiếm 7,18% diện tích tự nhiên. Thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày ở nơi có độ dốc dưới 150 và trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâm kết hợp và trồng cây lâm nghiệp ở nơi có độ dốc trên 150. Loại đất này phát triển trên đá mẹ giàu sét (đá phiến sét) nên thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp. Đất có độ dày trung bình, phẫu diện đất phân tầng rất rõ. Khi mất lớp phủ rừng, đất rất dễ bị rửa trôi và bào mòn trong mùa mưa, do đó nếu không có biện pháp bảo vệ, đất sẽ bị nghèo đi nhanh chóng.

Đất xám giàu mùn điển hình (AChu - h): diện tích 19.025,97ha, chiếm 20,45% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm và cây lâm nghiệp.

Đất xám giàu mùn đá lẫn sâu (AChu - L2): diện tích 8.701,72ha, chiếm 9,35% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm và cây lâm nghiệp.

- Nhóm đất mùn Halít trên núi cao (Ha; Hq), chiếm diện tích không lớn và phân bố chủ yếu ở các khu vực núi cao trên 1.000m. Do tác động của độ cao địa hình đã dẫn đến sự giảm nhiệt độ đồng thời lại tăng lượng mưa hạn chế tốc độ phong hóa, nhưng lại thuận lợi cho quá trình tích lũy mùn. Địa hình núi dốc làm cho phẫu diện đất mỏng đi, nhưng lại không có nước đọng, nên không có kết von đá ong và glây, phẫu diện đồng nhất. Lượng mùn có thể lên tới 5 - 8%, đặc biệt xuất hiện tầng thảm mục chưa phân giải triệt để (tầng A0). Đất ẩm, ngả sang màu vàng, phản ứng rất chua do axit mùn, độ pH xấp xỉ 4. Tại các khu vực có đất này, rừng tự nhiên thường phát triển mạnh, đất được che phủ, ít bị rửa trôi, xói mòn, tầng mùn khá dày, màu sắc đỏ sẫm hay đỏ nâu, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất xốp, giữ ẩm tốt, các chất dinh d­­ưỡng tổng số và chất dễ tiêu đều giàu. Cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp, rừng gỗ, rừng tre nứa, hỗn giao, luồng... Loại đất này chỉ nên sử dụng vào mục đích nông nghiệp ở mức độ hạn chế. Nếu những khu vực độ dốc thấp có thể khai thác để trồng dược liệu, rau, quả có gốc xứ lạnh.

Nhóm đất Feralit biến đổi do trồng lúa (Fl) phân bố chủ yếu ven đồi do khai hoang xây dựng đồng ruộng sản xuất lương thực theo hệ thống ruộng bậc thang. Đây là loại đất được hình thành từ nguồn gốc ban đầu là các loại đất feralit khác nhau nhưng được sử dụng vào trồng lúa nước, cho nên thành phần đất đã thay đổi so với các loại đất feralit ban đầu. Nhìn chung, chúng đều ẩm, đôi chỗ có tầng đá ong với độ dày, mỏng khác nhau, trên cùng có tầng canh tác (dày 15 - 30 cm) và xuất hiện tầng đế dày.

- Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (FL): chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ven sông Luồng, sông Lò và rải rác ven một số suối lớn. Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, độ phì khá cao, thích hợp trồng lúa, ngô, khoai, rau đậu, hiện chủ yếu đang trồng lúa, hoa màu.

Nhóm đất này gồm đất phù sa và đất dốc tụ. Đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (Py) phân bố ven sông Luồng, sông Lò và một số suối lớn. Loại đất này có đặc điểm: tầng đất dày, thường xuyên được bổ sung một lớp phù sa vào mùa nư­­ớc lũ, thành phần tầng đất không đồng nhất, phụ thuộc vào thời gian và l­­ưu tốc của dòng chảy. Đất này rất tốt cả về lý lẫn hóa tính và rất thích hợp cho trồng lúa và rau màu. Tuy nhiên, cần chú ý bố trí cơ cấu cây trồng tránh mùa lũ.

Đất dốc tụ chân đồi (D): Loại đất này thường phân bố tại các vùng thấp ngay chân núi, chân đồi nên thành phần của nó gần gũi với thành phần của các sườn dưới, sườn giữa và xa hơn là sườn trên của các quả đồi, núi ngay trên đó. Tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, nghèo chất dinh dư­­ỡng. Hiện đang đ­­ược sử dụng để trồng lúa, màu và cây công nghiệp hàng năm.

 Nhóm đất glây (GL): diện tích chiếm khoảng 0,2% diện tích tự nhiên, phân bố ở các địa hình trũng, dốc tụ, bị ngập nước thường xuyên hoặc không thường xuyên, một số nơi được nhân dân cải tạo để trồng lúa 1 vụ.

1.4.3. Tình hình sử dụng đất

Trên địa bàn huyện Quan Sơn, diện tích đất tự nhiên giữa các xã không đồng đều. Các xã có diện tích tự nhiên lớn là xã Sơn Thủy; Na Mèo. Diện tích tự nhiên nhỏ là thị trấn Quan Sơn, xã Trung Hạ.

 

Bảng 1: Diện tích đất phân theo loại đất và phân theo xã, thị trấn

Đơn vị tính: ha

TT

Xã, thị trấn

Tổng số

Trong đó

Đất nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp

Đất chưa sử dụng

 

Tổng số

92.662,5

81.337,5

2.574,56

8.750,44

1

Trung Xuân

4.908,39

4.349,04

157,07

402,28

2

Trung Hạ

3.473,02

3.236,87

216,45

19,70

3

Trung Tiến

4.005,46

3.760,87

138,90

105,69

4

Trung Thượng

5.617,85

5.109,52

163,38

344,95

5

Sơn Lư

4.557,24

4.059,87

167,08

330,29

6

Sơn Hà

8.896,37

8.560,59

157,30

178,48

7

Tam Lư

6.175,69

4.333,09

180,01

1.662,59

8

Tam Thanh

9.924,36

9.367,19

200,72

356,45

9

Sơn Điện

9.437,35

8.522,01

297,45

617,89

10

Mường Mìn

8.920,51

7.823,86

181,35

915,30

11

Sơn Thủy

13.157,79

11.008,03

271,63

1.878,13

12

Na Mèo

12.744,16

10.458,40

360,98

1.924,78

13

Thị trấn Quan Sơn

844,31

748,16

82,24

13,91

 

Bảng 2: Diễn biến sử dụng đất giai đoạn (2010 - 2014)

TT

Mục đích sử dụng

DT năm 2010 (ha)

CC

(%)

DT năm 2014 (ha)

CC

(%)

Tăng (+)
giảm (-)

 

Tổng diện tích đất của ĐVHC (1+2+3)

 

93.017,44

100

92.662,73

100

-354,71

1

Đất nông nghiệp

NNP

73.950,7

79,50

81.422,95

87,87

7.472,25

1.1

Đất sản xuất nông nghiệp

SXN

2.521,16

2,71

2.495,78

2,69

-25,38

1.1.1

Đất trồng cây hàng năm

CHN

1.544,37

1,66

1.547,5

1,67

3,13

1.1.1.1

Đất trồng lúa

LUA

1.195,1

1,28

1.209,28

1,31

14,18

1.1.1.2

Đất trồng cây hàng năm khác

HNK

349,27

0,38

338,24

0,37

-11,03

1.1.2

Đất trồng cây lâu năm

CLN

976,79

1,05

948,28

1,02

-28,51

1.2

Đất lâm nghiệp

LNP

71.359,8

76.72

78.854,63

85,10

7.494,83

1.2.1

Đất rừng sản xuất

RSX

35.804,46

38,49

43.171,12

46,59

7.366,66

1.2.2

Đất rừng phòng hộ

RPH

35.555,34

38,22

35.683,53

38,51

128,19

1.2.3

Đất rừng đặc dụng

RDD

 

0,00

 

0,00

 

1.3

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS

69,83

0,08

72,49

0,08

2,66

1.4

Đất làm muối

LMU

 

0,00

 

0,00

 

1.5

Đất nông nghiệp khác

NKH

 

0,00

0,02

0,00

0,02

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

2.688,84

2,89

2.689,83

2,90

0,99

2.1

Đất ở

OCT

367,07

0,39

393,77

0,42

26,7

2.1.1

Đất ở tại nông thôn

ONT

357,36

0,38

383,01

0,41

25,65

2.1.2

Đất ở tại đô thị

ODT

9,71

0,01

10,76

0,01

1,05

2.2

Đất chuyên dùng

CDG

550,69

0,59

774,59

0,84

223,9

2.2.1

Đất xây dựng trụ sở cơ quan

TSC

14,4

0,02

8,48

0,01

-5,92

2.2.2

Đất quốc phòng

CQP

11,93

0,01

74,52

0,08

62,59

2.2.3

Đất an ninh

CAN

0,25

0,00

1,78

0,00

1,53

2.2.4

Đất xây dựng công trình sự nghiệp

DSN

45,61

0,05

63,32

0,07

17,71

2.2.5

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

CSK

3,71

0,00

46,42

0,05

42,71

2.2.6

Đất có mục đích công cộng

CCC

500,65

0,54

580,08

0,63

79,43

2.3

Đất cơ sở tôn giáo

TON

 

0,00

 

0,00

 

2.4

Đất cơ sở tín ngưỡng

TIN

 

0,00

 

0,00

 

2.5

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, NHT

NTD

230,27

0,25

226,81

0,24

-3,46

2.6

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

SON

1540,71

1,66

1.294,66

1,40

-246,05

2.7

Đất có mặt nước chuyên dùng

MNC

 

0,00

 

0,00

 

2.8

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

 

0,00

 

0,00

 

3

Đất chưa sử dụng

CSD

16.377,49

17,61

8.549,96

9,23

-7.827,53

3.1

Đất bằng chưa sử dụng

BCS

426,46

0,46

347,25

0,37

-79,21

3.2

Đất đồi núi chưa sử dụng

DCS

14.520,29

15.61

7.946,09

8,58

-6.574,2

3.3

Núi đá không có rừng cây

NCS

1.430,74

1.54

256,62

0,28

-1.174,12

1.5. KHÍ HẬU
1.5.1. Đặc điểm chung

Do sự tác động của các nhân tố: vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung - Ấn, quy mô lãnh thổ, sự tác động của hướng sơn văn và độ cao của địa hình mà Quan Sơn có đặc điểm khí hậu của khu vực miền núi Bắc Trung Bộ. Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, lạnh và mưa ít. Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam mưa nhiều, có gió Tây khô nóng.

Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, mùa đông nhiệt độ trung bình tháng 1 khoảng 14 - 150C, nơi núi cao dưới 130C, có năm thấp nhất dưới 40C, mùa hè nhiệt độ trung bình tháng 7 khoảng 30 - 310C, cao nhất lên tới 38 - 400C.

Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao 1.800 - 1.900mm nhưng phân bố không đều theo mùa. Mùa hè tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm. Mùa đông mưa ít chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, ít mưa nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình tháng 20mm.

Tổng tích ôn trung bình năm 8.3000C - 8.5000C. Độ ẩm không khí trung bình 86%. Số giờ nắng hàng năm trung bình 1.700 - 1.800 giờ, tháng có nhiều ngày nắng là tháng 7, tháng có ít ngày nắng là các tháng 1, 2.

- Bão xuất hiện vào tháng 7 đến tháng 10, trung bình hằng năm có 3 - 4 cơn bão kèm theo mưa to, tốc độ gió cao nhất lên đến 30m/s.

Đặc điểm khí hậu, thời tiết ở Quan Sơn nhìn chung tương đối ôn hòa, nhất là ở các đai núi cao, thuận lợi cho dân sinh và phát triển du lịch. Phát triển sản xuất đa dạng với nhiều loại cây trồng như luồng, thông, chè, cao su, mía, cây ăn quả, cây dược liệu. Nền nhiệt, ẩm cao có tác động mạnh đến thúc đẩy tăng năng suất cây trồng nhất là cây mía, tre luồng. Hạn chế lớn nhất về mùa đông ở Quan Sơn lượng mưa ít gây khô hạn ở nhiều nơi, vùng núi cao thường có sương giá, rét đậm rét hại xảy ra nhiều và kéo dài ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi. Mùa hè, có những đợt mưa bão lớn, gây lũ quét, lũ ống, sạt lở đất ảnh hưởng đến sản xuất, đi lại và sinh hoạt.

1.5.2. Các yếu tố của khí hậu

1.5.2.1. Chế độ bức xạ mặt trời, mây, nắng

Hằng năm lãnh thổ Quan Sơn có 2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh. Độ cao mặt trời lớn nhất vào tháng 5: 88011’ và nhỏ nhất vào tháng 12: 46023’.

Độ dài ngày lớn nhất vào tháng 6 (13 giờ 12 phút) và ngắn nhất vào tháng 10 (10 giờ 48 phút). Thời gian chiếu sáng trung bình hằng năm trên 4.400 giờ. Tuy nhiên, tại các thung lũng thời gian chiếu sáng thường thấp hơn 1 - 2 giờ mỗi ngày.

Lượng mây trung bình 7,5/10 - 8,0/10 bầu trời và tập trung nhiều vào những tháng cuối mùa đông và mùa xuân. Do có nhiều núi cao nên Quan Sơn có nhiều mây hơn các địa phương ở đồng bằng và ven biển.

Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1.684 giờ và ít thay đổi theo các khu vực trong huyện (trừ sự khác nhau giữa đỉnh núi và thung lũng), nhưng lại thay đổi theo mùa: cao nhất vào tháng 7 (235 giờ), sau đó là tháng 6 (200 giờ) và thấp nhất vào tháng 2, tháng 3 (chỉ khoảng 47 - 50 giờ).

Tổng lượng bức xạ hàng năm 100 - 120 kcal/cm2, ít biến đổi theo khu vực khác nhau của lãnh thổ (trừ sự khác nhau giữa đỉnh núi và thung lũng), nhưng lại thay đổi theo mùa. Tháng 5 có lượng tổng xạ cao nhất (trên 12,5 kcal/cm2) và thấp nhất là các tháng 1 - 2 (chỉ 6 kcal/cm2).

Cân bằng bức xạ trung bình năm là 65 - 80 kcal/cm2. Sự khác biệt cân bằng bức xạ giữa các tháng rất lớn. Tháng 5 có cân bằng bức xạ lớn nhất (9,52 kcal/cm2) và tháng 1 chỉ có 2,71 kcal/cm2.

1.5.2.2. Chế độ gió

Các hệ thống gió mùa tác động quanh năm tới lãnh thổ Quan Sơn. Vào mùa đông hướng gió có thành phần thiên Bắc và thiên Đông chiếm ưu thế, các thành phần gió có hướng tây và Nam có tần suất rất nhỏ. Các trường hợp lăng gió có tần suất là 31%. Vào mùa hè, gió có thành phần Nam chiếm ưu thế. Tốc độ gió trung bình năm và trung bình các tháng chỉ dao động 1 - 2 m/giây và ít có sự khác biệt giữa các tháng trong năm. Tốc độ gió giảm dần từ Đông Nam lên Tây Bắc. Chẳng hạn vào tháng 10, tháng 11 tốc độ gió trung bình là 1,3 m/giây. Tuy nhiên, tốc độ gió cực đại ở Quan Sơn có thể đạt tới 40m/giây và thuộc thành phần thiên Đông vào những thời kỳ có nhiều bão. Còn hướng gió thay đổi phức tạp nhất là trong các cơn dông, lốc, xoáy.

1.5.2.3. Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22,70C và sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng không lớn, trừ vùng núi cao, nhưng lại rất khác nhau theo mùa và các tháng trong năm.

Vào mùa nóng (từ tháng 3 đến tháng 8), nhiệt độ không khí đều cao hơn 200C, ba tháng nóng nhất là 5, 6, 7 đều trên 270C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27,60C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối ở các vùng của Quan Sơn đều dao động trong khoảng 39 - 400C và tập trung vào tháng 5, tháng 7.

Biên độ giao động năm của nhiệt độ là 6 - 80C. Biên độ giao động nhiệt ngày đêm cao nhất tới 11,40C vào tháng 2.

Các cực trị nhiệt độ cao nhất đạt gần 410C và xảy ra vào tháng 5, thấp nhất là 2,60C vào tháng 12, tháng 1 năm sau. Tại các đỉnh núi cao trên 1.100m vẫn có khả năng gặp nhiệt độ dưới 00C.

Tổng nhiệt độ hoạt động trong năm ở các thung lũng là 8.2850C và 7.000 - 7.5000C tại các đỉnh núi cao.

1.5.2.4. Chế độ mưa, ẩm và bốc hơi

Do nằm ở vị trí bị núi che khuất (về hướng đông nam) nên lượng mưa của Quan Sơn thấp hơn Lang Chánh. Lượng mưa trung bình năm của Quan Sơn dao động trong khoảng 1.600 - 1.800mm. Khu vực mưa ít nhất là thị trấn Quan Sơn dưới 1.600mm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (tháng có lượng mưa trên 100mm). Tháng có lượng mưa < 100mm là tháng 12; 1; 2; 3 và tháng 4 năm sau. Số ngày mưa 194 ngày/năm, tháng có số ngày mưa nhiều nhất là các tháng 6, 7 và 8.

Độ ẩm tuyệt đối của không khí trung bình năm là 25mb, mùa khô là 16 - 21mb và mùa mư­­a là 28 - 32mb. Độ ẩm t­ương đối trung bình năm là 87%, vào đầu thời kỳ khô hanh có thể xuống tới 45%. L­­ượng bốc hơi trung bình năm là 792mm. Các tháng 5, 6 và 7 có lượng bốc hơi cao nhất và l­­ượng bốc hơi thấp nhất là vào các tháng 1, 2 và 3.

1.5.2.5. Thời tiết đặc biệt và thiên tai

Trung bình hàng năm có 3,11 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hóa. Tuy nhiên, do vị trí xa biển và địa hình thung lũng, nên bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Quan Sơn không nhiều như các địa phương đồng bằng. Tác hại chủ yếu là gây mưa lớn, lũ quét, lũ ống.

Do nằm ở vị trí phía tây nên số ngày có gió tây khô nóng trung bình năm là 21,5 ngày/năm và gió tây khô nóng tác động tới Quan Sơn sớm hơn vùng đồng bằng khoảng ½ tháng. Gió tây khô nóng chi phối khá mạnh các đặc điểm tự nhiên và hoạt động sản xuất, sinh hoạt của Quan Sơn.

Gió mùa Đông Bắc mang tính chất lạnh khô vào đầu mùa đông và lạnh ẩm vào cuối mùa đông. Trung bình hằng năm, số đợt gió mùa Đông Bắc ở Quan Sơn là khoảng 18 đợt, chủ yếu vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Dông: Trung bình hằng năm Quan Sơn có 53 - 55 ngày dông. Các tháng mùa hè có thể có tới 10 - 15 ngày dông/tháng.

Số ngày rét đậm có sương giá trung bình 5,4 ngày/năm; Số ngày có khả năng sương muối 1,2 ngày/năm (vào tháng 12 và tháng 1 năm sau);

Số ngày mưa phùn trung bình 48,2 ngày/năm (vào tháng 1 - 3);

Số ngày hanh heo trung bình 11,4 ngày/năm (vào tháng 11 - 12);

Trung bình cũng có 15 - 18 ngày có s­­ương mù và thường tập trung nhiều vào các tháng 1, 2 và 3.

Những đặc điểm trên đây của khí hậu cho phép Quan Sơn có thể tiến hành các hoạt động sản xuất và sinh hoạt quanh năm mà không bị gián đoạn bởi một mùa băng tuyết như ở các nước xứ lạnh; có thể phát triển được một nền lâm nghiệp, nông nghiệp nhiệt đới, với đặc điểm đa dạng cây trồng, vật nuôi, làm được nhiều vụ trong năm, thực hiện được các biện pháp xen canh, gối vụ, tăng vụ nhằm tăng năng suất và sản lượng trên một diện tích đất canh tác hạn chế ở một huyện miền núi. Với số giờ nắng lớn, cho phép đồng bào có thể phơi nông, lâm sản, lắp đặt các thiết bị làm nước nóng phục vụ sinh hoạt, hay sản xuất nguồn năng lượng sạch (điện Mặt Trời)... nhằm hạn chế sử dụng nguồn nhiên liệu từ rừng vốn đang có nguy cơ cạn kiệt và tài nguyên rừng còn có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau.

Tuy nhiên, nóng ẩm cao cũng làm cho sâu bệnh, dịch bệnh phát triển mạnh, nông sản khó bảo quản sau khi thu hoạch. Cường độ của những trận mưa nhiệt đới rất mạnh, kéo dài và tập trung làm cho quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra rất mãnh liệt, xuất hiện các trận lũ quét, lũ bùn đá, lũ ống gây thiệt hại lớn cho sinh hoạt và sản xuất. Những ngày có nhiều sương mù hạn chế tốc độ giao thông. Giông, tố lớn cũng gây ra nhiều thiệt hại về nhà cửa và hoa màu. Mùa khô có thể gây tình trạng thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, dễ gây nguy cơ cháy rừng.

Bởi vậy, cần làm tốt công tác dự báo thời tiết, xây dựng lịch sản xuất, bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý... để hạn chế bớt tác động tiêu cực của khí hậu.

1.5.3. Sự phân hóa của khí hậu

1.5.3.1. Sự phân hóa theo các tháng trong năm

Tháng 1: là tháng rét nhất, với 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc và 9 - 10 ngày rét đậm. Nhiệt độ trung bình 15,50 - 16,50C, thấp nhất trên núi cao có khi 20 - 30C và cao nhất 220 - 250C. Lư­ợng mư­a 10 - 40 mm, độ ẩm không khí 84 - 89%.

Tháng 2: Trời rét ẩm, nhiều ngày âm u và mư­­a phùn, có 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc hoạt động với 6 - 8 ngày rét đậm, nhiệt độ trung bình 17 - 180C, thấp nhất 50 - 70C, cao nhất 230 - 270C. Lượng mư­­a 15 - 45mm, độ ẩm không khí 85 - 91%. Tổng số giờ nắng 30 - 70 giờ.

Tháng 3: Trời lạnh và rất ẩm, nhiều ngày có m­­ưa phùn, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình 190 - 200C, thấp nhất 80 - 100C, cao nhất 270 - 290C. Tổng lượng m­­ưa 30 - 60mm, độ ẩm 85 - 93%.

Tháng 4: có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về gây ra mư­­a rào và dông đầu mùa. Nhiệt độ trung bình 230 - 240C, thấp nhất 110 - 130C, cao nhất 310 - 330C. Tổng l­­ượng m­­ưa 40 - 90mm, độ ẩm không khí 84 - 92%. Tổng số giờ nắng 90 - 120 giờ.

Tháng 5: Tháng đầu mùa nóng và mùa mư­a, có 2 - 3 ngày có gió Tây khô nóng và 1 - 2 đợt gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình 270 - 280C, thấp nhất 140 - 160C, cao nhất 360 - 380C. L­­ượng mư­­a 110 - 230mm. Độ ẩm không khí trung bình 83 - 86%. Tổng số giờ nắng 170 - 220 giờ. Có khả năng xảy ra lũ Tiểu mãn.

Tháng 6: Trời rất nóng, có thể xuất hiện bão đầu mùa. Có 1 - 2 đợt không khí lạnh yếu tràn về. Nhiệt độ trung bình 28,50 - 29,50C, cao nhất 370 - 390C. Tổng l­ượng mưa 140 - 255mm. Độ ẩm không khí trung bình 80 - 85%. Tổng số giờ nắng 160 - 210 giờ. N­ước sông nâng lên nhiều và bắt đầu bước vào mùa lũ.

Tháng 7: là tháng nóng nhất và bắt đầu chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão. Trong tháng có 1 - 2 ngày m­­ưa rất to. Nhiệt độ không khí trung bình 290 - 300C, cao nhất 37,50 - 39,50C. Tổng l­ượng mư­­a 165 - 335mm. Độ ẩm không khí 79 - 86%. Tổng số giờ nắng 170 - 240 giờ.

Tháng 8: Có nhiều ngày mư­a to và rất to do chịu ảnh h­­ưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình 27,50 - 28,50C, cao nhất 360 - 380C. Tổng l­­ượng m­­ưa 450 - 330mm, độ ẩm không khí trung bình 85 - 88%. Khả năng xảy ra lũ quét, lũ ống, lũ bùn đá lớn. Tổng số giờ nắng 180 - 200 giờ. Các sông có lũ lớn.

Tháng 9: Là tháng có sự tác động bão và áp thấp nhiều nhất và tổng lượng mưa lớn nhất. Tổng l­­ượng m­­ưa 400 - 600mm, nhiệt độ trung bình 26,50 - 27,50C, cao nhất 340 - 360C. Tổng số giờ nắng 160 - 200 giờ. Khả năng xảy ra lũ quét, lũ ống, lũ bùn đá lớn. Có năm đã xuất hiện 1 - 2 đợt không khí lạnh đầu mùa tràn về.

Tháng 10: Thời tiết chuyển từ mùa nóng sang mùa lạnh, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về. Nhiệt độ không khí trung bình 240 - 250C, thấp nhất 15 - 170C và cao nhất 310 - 330C. Tổng l­­ượng m­­ưa 160 - 400mm. Độ ẩm không khí 84 - 87%. Tổng số giờ nắng 120 - 170 giờ.

Tháng 11: Trời lạnh và khô hanh, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về, gây ra 1 - 2 ngày rét đậm. Nhiệt độ không khí trung bình 21 - 220C, thấp nhất 100 - 120C và cao nhất 290 - 310C. Tổng l­­ượng mư­­a 40 - 110mm. Độ ẩm không khí 83 - 87%. Tổng số giờ nắng 110 - 150 giờ.

Tháng 12: Trời rét xen kẽ nhiều ngày khô hanh, có 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về, gây ra 4 - 6 ngày rét đậm. Nhiệt độ không khí trung bình 180 - 190C, thấp nhất 60 - 80C, cao nhất 280 - 300C. Tổng số giờ nắng 120 - 140 giờ, l­­ượng mư­­a 15 - 35mm. Độ ẩm không khí trung bình 83 - 86%.

Sự phân hóa theo mùa, theo tháng của khí hậu Quan Sơn đã tạo nên sự thay đổi theo mùa của cảnh sắc thiên nhiên và các quá trình tự nhiên, làm cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người cũng in đậm nhịp điệu mùa. Đấy cũng là nền móng để tạo nên sự đa dạng về văn hóa của Quan Sơn. Đồng thời đặc điểm này cũng đòi hỏi phải làm tốt công tác dự báo thời tiết, xác lập nông lịch một cách khoa học và chính xác, xây dựng lịch canh tác cụ thể cho từng thời kỳ trong năm.

1.5.3.2. Phân hóa khí hậu theo đai cao (từ thấp lên cao)

Theo quy luật chung càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Đây là nguyên nhân làm cho Quan Sơn có 2 đai và 4 á đai khí hậu:

1. Đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt chân núi từ 0m đến 750m. Đai này có hai á đai:

1a: Dưới 350m: Á đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt chân núi có 1 tháng mùa đông rét (nhiệt độ dưới 150C). Á đai khí hậu này chiếm khoảng 15% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở khu vực dọc thung lũng sông Luồng, sông Lò.

1b: Từ 350 - 750m: Á đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ư­­ớt chân núi có mùa đông rét (3 tháng nhiệt độ dưới 150C). Á đai khí hậu này chiếm khoảng 50% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở khu vực trung tâm và phía đông, phía nam Quan Sơn.

2. Đai cận nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt trên núi từ 700m đến 2.700m, với tổng nhiệt độ từ 4.500 - 7.5000C, t­­ương quan nhiệt ẩm trên 1,5 và có mùa hạ cận nhiệt đới mát, nhiệt độ trung bình năm d­ưới 220C. Đai có hai á đai:

2a: Từ 750 - 1.100m: Á đai chuyển tiếp từ nhiệt đới sang cận nhiệt đới. Á đai khí hậu này chiếm khoảng 28% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu có ở biên giới Việt - Lào và địa giới Quan Sơn - Mường Lát.

2b: Từ 1.100 - 1.750m: Á đai cận nhiệt đới điển hình. Á đai khí hậu này chiếm khoảng 5% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở biên giới Việt - Lào.

Sự phân hóa theo đai cao của khí hậu ở đây không chỉ tạo nên sự khác biệt lớn giữa khí hậu Quan Sơn với khí hậu các khu vực đồng bằng và ven biển mà còn tạo nên tính vành đai theo độ cao của các hoạt động sản xuất mà nhất là nông và lâm nghiệp. Trong khu vực nhiệt đới, khí hậu mát mẻ trên núi cao là một lợi thế cần được nghiên cứu khai thác, sử dụng.

1.6. TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ MẠNG LƯỚI SÔNG SUỐI

1.6.1. Tài nguyên nước

Một số thông số về tài nguyên nước của lãnh thổ Quan Sơn:

Tổng lượng nước mưa rơi xuống trung bình năm là 1,581 tỷ m3.

Tổng lượng nước bốc hơi trung bình năm là 0,736 tỷ m3.

Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy ngầm: 0,210 tỷ m3

Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy mặt: 0,635 tỷ m3.

Tổng trữ lượng ẩm của lãnh thổ là 0,845 tỷ m3

Theo số liệu tính toán trên thì tài nguyên n­ước của Quan Sơn rất phong phú. Trữ lượng nước ngọt tính theo đầu người của Quan Sơn là 17.500m3 nước/người. Trong khi trung bình cả nước chỉ 10.163m3/người.

Hằng năm, hệ thống sông của Quan Sơn vận chuyển trên 0,635 tỷ m3 nước.

Độ sâu lớp dòng chảy là 908mm, modul dòng chảy mặt trung bình là 37,9 lít/giây/km2. Chất l­­ượng n­­ước mặt khá tốt.

Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2,5 l/s/km2 đến 19,0 l/s/km2. Nhìn chung chất l­­ượng n­­ước ngầm tốt, hầu như­­ ch­­ưa bị ô nhiễm.

1.6.2. Mạng lưới sông suối

1.6.2.1. Đặc điểm chung

Do cấu tạo địa hình và địa chất phức tạp, có nhiều núi cao, độ dốc lớn cùng với l­­ượng m­­ưa khá lớn nên Quan Sơn có mạng l­­ưới sông suối khá dày đặc. Toàn huyện có trên 300 khe, suối lớn nhỏ với tổng chiều dài của các khe, suối gần 1.000km. Mật độ lưới sông biến đổi từ 0,8 tới 1,3km/km2, trung bình là 1,05km/km2.

Phần lớn các sông trên địa phận Quan Sơn đều ngắn, dốc với độ dốc biến thiên từ 10,0 - 33,9%, lòng hẹp n­­ước chảy xiết, lắm ghềnh thác, mang tiềm năng thủy điện lớn, nhưng cũng thường xuyên gây ra lũ ống, lũ quét khi có mưa to. Các địa điểm đã xảy ra lũ quét trong những năm gần đây là bản Xộp Huổi (xã Na Mèo); bản Yên, bản Mìn (xã Mường Mìn); Km 35, bản Bon (xã Sơn Lư); bản Khạn, bản Bôn, bản Máy (xã Trung Thượng); bản Xày, bản Bá (xã Trung Hạ); bản Muống, bản Cạn, bản Phú Nam (xã Trung Xuân); bản Lầu (xã Sơn Hà); bản Muống, bản Hát (xã Tam Lư); bản Bôn (xã Tam Thanh); bản Chanh (xã Sơn Thủy).

Sông, suối Quan Sơn có nhiều n­­ước, nước chảy quanh năm, nh­­ưng lượng nước thay đổi theo mùa. Mùa kiệt từ tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau chỉ chiếm 20 - 30% tổng l­­ượng nư­­ớc, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm tới 70 - 80% tổng lượng n­ư­ớc và đến chậm so với sông Mã từ nửa tháng đến 1 tháng. Các hệ thống sông ở Quan Sơn hằng năm vận chuyển ra biển 0,186 triệu tấn phù sa (modul xâm thực là 20 tấn/km2) cùng nhiều phù du sinh vật và các chất khoáng hòa tan trong nước.

Đáng chú ý là mạng lưới sông suối của Quan Sơn ít có giá trị giao thông. Trên nhiều vị trí, nhân dân đã đặt các guồng nước hoặc xây các đập dâng nước để lấy nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Hiện trên địa bàn huyện có trên 40 đập ngăn giữ nước phục vụ phát triển sản xuất và cấp nuớc sinh hoạt cho nhân dân.

1.6.2.2. Các hệ thống sông

Sông Lò

Sông Lò bắt nguồn từ Mường Pao, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đoạn nguồn ở đất Lào gọi là Nặm Pao. Đoạn chảy vào Việt Nam thuộc địa giới bản Kham, xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tiếng Thái gọi là Nặm Mò (sông chảy vào Mường Mò, xã Tam Thanh). Tiếng phổ thông gọi là sông Lò.

Sông Lò chảy qua huyện Quan Sơn dài trên 62km chạy qua các xã: Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Lư, Sơn Hà, thị trấn Quan Sơn, xã Trung Thượng, Trung Tiến, Trung Hạ, Trung Xuân rồi đổ ra sông Mã ngoài Pha Lý, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.

Trên địa bàn huyện Quan Sơn, sông Lò được bổ sung nguồn nước từ hàng trăm con suối lớn nhỏ ở các địa bàn mà nó chảy qua. Trong đó có các suối lớn: suối Cáng, suối Pa, suối Khà, suối Tình, suối Tuốp (nguồn suối Tuốp là suối Sỏi), suối Hạ, suối Máy Bàng, suối Ngàm, suối Cum, suối Đe, suối Xày, suối Din, suối Bá, suối Phụn, suối Cắn, suối Túng, suối Pa O, suối Cạn, suối Dú, suối La.

Sông Lò chảy từ hướng tây - nam về hướng đông - bắc là con sông có nguồn nước tương đối lớn cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, thủy lợi, nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng. Mỗi năm đồng bào các dân tộc dọc tuyến sông Lò đánh bắt được hàng chục tấn cá, ốc... Con sông Lò là mạch giao thông đường thủy chính vận chuyển hàng hóa lâm sản của đồng bào các xã dọc tuyến về Hồi Xuân, huyện bán cho nhà nước rồi mua hàng hóa vật tư về phục vụ đời sống sinh hoạt sản xuất canh tác của người dân.

Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở về trước, sông Lò có lưu lượng nước lớn, nhiều vụng nước sâu đến 10 sải tay người lớn (khoảng 16 - 17m độ sâu). Sông Lò có nhiều loài cá, trong đó nổi tiếng có loài cá Dốc, con to đến 15kg, cá Lăng, cá Ké, cá Chày vây đỏ to như cá Dốc, các loại cá nhỏ khác thì nhiều vô kể. Đây là nguồn lợi thủy sản lớn nuôi sống đồng bào dọc hai bên bờ sông. Cá sông Lò ngon, nhiều mỡ hơn cá sông Luồng do nhiều vụng nước sâu và trong veo, nước chảy chậm hơn sông Luồng.

Sông Lò gắn với nhiều dấu ấn lịch sử, danh thắng và những câu chuyện dân gian ly kỳ: Cầu Pha Lò tại Km 33 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) nơi dân quân xã Trung Thượng bắn cháy máy bay F105 vào năm 1966, Km 35 nơi đặt thị trấn huyện lỵ Quan Sơn, nay có cây cầu bắc qua sông Lò; Động Nang Non (pha Su Lú) Km 39 núi đá giao với sông Lò tạo thành cảnh quan đẹp với hang động Nang Non kỳ vĩ; Noong Dạ là ao nước tự nhiên, quanh năm trong veo, ở đỉnh Pù Dạ, xã Trung Tiến; Vằng Hậu (Vụng Hậu) sông Lò ở bản Hậu, xã Tam Lư; Pù Kùn - Đỉnh Pù Kùn, bản Xum, xã Sơn Hà, nơi đó có “Bo Lồm” (Mỏ gió), một hang đất suốt ngày có gió thổi tuôn từ trong hang ra, người xưa truyền lại nếu ta thả một bó lá dong rừng xuống đó thì sau 7 ngày nó sẽ xuất hiện ở Vụng Hậu, bản Hậu, xã Tam Lư.

Trong những năm gần đây, do nhiều yếu tố tác động, sông Lò bị cạn hơn, chỗ sâu nhất chỉ vào khoảng 4 - 5m nước, cá đã giảm nhiều, cá Dốc, cá Chày, cá Ké to, nặng đến 10kg hầu như không còn. Nhưng cho đến nay, sông Lò vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân huyện Quan Sơn. Sông Lò là một biểu tượng đẹp, luôn sống mãi trong tâm thức, tình cảm của người dân các bản huyện Quan Sơn.

Sông Luồng

Sông Luồng do hai con suối lớn của Lào là Nặm Xôi và Nặm Pùn hợp nhau tại Cửa khẩu Quốc Tế Na Mèo tạo thành Nặm Tuông, tiếng phổ thông gọi là sông Luồng.

Sông Luồng có tổng chiều dài trên 106km, đoạn chảy qua huyện Quan Sơn dài 46km, chảy qua các xã Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn, Sơn Điện rồi về các xã Nam Động, Nam Tiến, Nam Xuân của huyện Quan Hóa, dài gần 60km. Sông Luồng đổ ra sông Mã tại hòn Đá Ngang (Cón hín khoáng) sộp Tuồng ngoài hang Ma, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.

Lưu lượng nước sông Luồng cũng ngang với sông Lò, nhưng dòng chảy ở địa phận Quan Sơn xiết hơn vì độ dốc cao hơn. Sông Luồng có hàng trăm con suối lớn nhỏ dẫn nước về sông, trong đó đáng kể nhất là các con suối lớn như: suối Sàng, suối Cài, suối Cha Khót, suối Son, suối Xia, suối Lế, suối Bóng, suối Yên, suối Nhài, suối Bun, suối Sủa (bản Na Phường, bản Sủa).

Trong các suối lớn đổ ra sông Luồng thì lớn nhất và dài nhất là suối Xia (dài khoảng 30km), bắt nguồn từ Lào, chạy qua Xia Nọi, đổ ra sông Luồng tại bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy.

Suối Yên bắt nguồn từ bản Yên, giáp với biên giới Việt - Lào đổ ra sông Luồng tại bản Chiềng (Mường Mìn) dài khoảng 25km. Trước đây các con suối này rất nhiều cá, có cả cá Dốc là loại cá chuyên ở nước sâu, nay nước suối Yên, suối Xia đã cạn, chỗ sâu nhất chỉ có 2 - 3m.

Sông Luồng từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo chảy theo hướng tây - đông, càng xuống hạ lưu thì lượng nước càng nhiều, sông càng rộng do nhiều con suối có nước đổ vào.

Cũng như sông Lò, trước thập niên 70, thế kỷ XX sông Luồng là mạch giao thông đường thủy quan trọng giúp đồng bào xuôi bè đưa lâm sản và hàng hóa về Hồi Xuân, Quan Hóa trao đổi, mua bán. Hai con sông Lò, sông Luồng mỗi năm đưa hàng triệu cây vầu, nứa, luồng, hàng ngàn mét khối gỗ từ thượng nguồn về Hồi Xuân bán cho nhà nước, do ngành lâm nghiệp tổ chức thu mua.

Sông Luồng có nguồn lợi thủy sản lớn, là nguồn nước giúp đồng bào làm thủy lợi tưới tiêu cho ruộng đồng dọc theo hai bờ sông. Sông Luồng có nhiều cảnh đẹp, nhiều thác nước gắn với những câu chuyện dân gian ly kỳ như “Vằng chạng nặm” (vụng Voi Nước), “vằng Xuốm” (vụng Xuốm), thác Nhài.

“Vằng chạng nặm” (vụng Voi Nước) ở bản Xuân Thành, xã Sơn Thủy gần bản Bo, xã Na Mèo, đây là vụng nước rộng, sâu, ngày xưa có hai con voi thường tắm mát ở đó, tương truyền rằng mỗi khi có người, nó lặn xuống chỗ sâu nhất ở ngay chỗ dòng nước lao vào núi đá cuộn thành vụng nước sâu khoảng 9 - 10 sải tay (15 - 17m).

“Vằng Xuốm” (vụng Xuốm) ở đoạn xã Mường Mìn sâu khoảng 10 - 12m nước, có hẻm đá là nơi ở của rồng, tiếng Thái gọi là “Nghém ngước”, dưới đáy hang sâu chảy dài khoảng 10m vào hang đá, chỗ này rất nhiều cá nhưng người không có tài không thể lặn xuống bắt cá được vì hai lý do. Một là nước sâu, hang dài, phải có hơi dài mới lặn xuống mà vào hang bắt cá được. Hai là sợ xuống đó gặp thuồng luồng. Nay vụng nước này đã bị nhiều cát, đá, gốc cây vùi lấp, nước đã cạn, chỉ còn sâu khoảng 4 - 5m, cá đã ít đi nhiều, thuồng luồng cũng không còn nữa.

Thác Nhài, đoạn sông Luồng chảy qua bản Nhài, xã Sơn Điện có một hòn đá rộng ở cuối thác đầu vũng nước, dưới hòn đá có một hang sâu vào núi. Tương truyền, trước đây người xuôi bè xuống đó thường bị con “Kô Kê” (bạch tuộc) đón sẵn ở tràn đá bắt ăn thịt. Người xuôi bè xuống đến gần đó phải dỡ bè ra, vác qua khúc sông ấy rồi đóng bè lại mới xuôi tiếp. Nếu ai làm liều xuôi bè xuống thác sẽ bị con Kô Kê ăn thịt. Vào khoảng thế kỷ XVII, con Kô Kê này đã chết do ăn thịt một bà lão người Xá (Khơ mú) chết trôi từ suối Yên ra, trong người bà có gói thuốc độc dùng để tẩm tên nỏ để bắn thú, con Kô Kê ăn phải đã chết, người dân cắt lấy đầu nó về trình tạo Mường Mìn, lúc đó là ông Mường Đồng ở bản Luốc Làu. Từ đó trở đi thác nước này không làm cho người xuôi bè sợ hãi nữa. Do Tạo Mường Mìn giữ đầu con Kô Kê nên năm đó thuồng luồng làm nước sông Luồng dâng lên ngập bản và nhà Tạo Mường bị cuốn ra sông Luồng, may mà tạo mường Mìn và một số dân thoát chết. Từ đó nhân dân đặt tên là bản “Ngước Làu” (thuồng luồng ăn), sau này gọi chệch đi là bản Luốc Làu, để khỏi bị ám ảnh, sợ hãi. Bản Luốc Làu nay thuộc xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn.

Còn nhiều cảnh đẹp và những câu chuyện ly kỳ liên quan đến dòng sông Luồng, như “Cánh mé nài” (Thác bà ngoại) ở bản Bau, xã Nam Động, “Cánh Luông”, “Cánh Tạng” ở bản Lở, xã Nam Động, hang Phí (hang ma), xã Hồi Xuân (huyện Quan Hóa)... Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hầu hết thanh niên trai tráng lên đường tòng quân vào miền Nam đánh giặc cứu nước, ở lại quê nhà phần lớn là phụ nữ, người già và trẻ em. Nhiều chị em phụ nữ lứa tuổi trung niên, thanh niên đã xuôi bè đưa luồng, nứa, gỗ theo sông Luồng về sông Mã nhập cho nhà nước để góp phần xây dựng hậu phương phục vụ tiền tuyến.

Ngoài việc phục vụ dân sinh kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân địa phương, phục vụ quốc phòng, an ninh, du lịch sinh thái, hai con sông Luồng và sông Lò còn là cầu nối tình hữu nghị Việt - Lào, vì ngọn nguồn của hai con sông này đều ở đất Lào chảy về Việt Nam. Từ xa xưa, đồng bào hai bên biên giới đã có câu tục ngữ:

Cáy khắn hâu hó phăng

Ngua khoai lí hó căng kín nhá

Dịch:

Gà gáy ta cùng nghe

Trâu, bò đẹp cùng chung đồng cỏ

Hoặc:

Kín cuối hó bí

Kín pí hó cáp

Áp nặm hau hó vằng điếu

Dịch:

Ăn chuối cùng nải

Ăn hoa chuối cùng bẹ

Tắm suối cùng vụng nước trong

 

1.6.2.3. Hệ thống suối chính

Ngoài sông Luồng, sông Lò, địa bàn huyện Quan Sơn còn có hàng trăm con suối lớn nhỏ dồn về hai con sông. Chính hệ thống suối này đã tạo ra nguồn tài nguyên nước tự nhiên ở Quan Sơn trở nên phong phú, đồng thời tạo ra môi trường sinh thái cảnh quan cho vùng đất Quan Sơn thêm đa dạng, hấp dẫn. Sau đây là hệ thống suối tiêu biểu ở các xã:

* Xã Na Mèo

Suối Tà Ngơn

Suối Tà Ngơn chạy theo hướng bắc - nam, bắt nguồn từ Pù Xam Lán (Pù Lông Lênh) giáp bản Son, xã Na Mèo chảy ra suối Pùn. Suối Tà Ngơn dài khoảng 9km, cũng là đường ranh giới Việt Nam - Lào. Từ giữa suối Tà Ngơn về phía đông là đất Việt Nam, từ giữa suối Tà Ngơn về phía tây là đất Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Quá trình dòng chảy của suối Tà Ngơn do nhiều con suối nhỏ hợp thành, trong đó đáng kể nhất là suối Sài Lương ở phía đông ngọn nguồn Tà Ngơn. Dọc theo hai bờ suối Tà Ngơn có nhiều bãi bằng được bù đắp bởi phù sa. Hiện nay đồng bào Việt - Lào hai bên bờ suối làm ruộng nước, trồng cây, cá ở suối Tà Ngơn, dân hai bên cùng hưởng, nước suối Tà Ngơn hai bên cùng sử dụng.

Suối Pùn

Suối Pùn thuộc huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chảy theo hướng tây - đông đến Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo gặp suối Xôi tạo thành sông Luồng, đoạn từ cửa suối Pùn vào gặp suối Tà Ngơn là đường biên giới Việt - Lào đi giữa suối. Trên đoạn suối này, thủy sản, nguồn nước, đồng bào hai bên cùng dùng chung, từ lâu đời đã lưu truyền câu ca:

“Xong Mường hàu kín pá huốm hát

Áp nặm hàu hó bằng điếu

Pành yêu cắn tay dàm páng cón”

Dịch:

 “Hai Mường (hai nước) ta ăn cá chung thác

Tắm mát chung vụng nước

Yêu quý nhau từ trước đến nay”

Suối Xôi

Suối Xôi cũng thuộc huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chảy theo hướng tây nam về đông bắc, gặp suối Pùn tạo thành sông Luồng tại Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo.

Từ ngã ba suối Xôi, suối Pùn, sông Luồng theo suối Xôi vào có một đoạn khá dài là đường biên giới Việt - Lào đi giữa suối, phía đông nam là đất Việt Nam, phía tây bắc là đất Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Dọc hai bên suối từ xưa đến nay nhân dân hai nước cùng hòa thuận làm ăn, không xâm canh, xâm cư, cùng giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng vun đắp tình hữu nghị Việt - Lào.

Suối Sàng

Suối Sàng, bắt nguồn từ Pù Xam Lán giáp bản Son, chảy theo hướng đông bắc về tây nam đổ ra sông Luồng tại bản Na Mèo. Suối Sàng dài khoảng 8km được hợp thành bởi nhiều con suối nhỏ, trong đó có một số suối lưu lượng nước tương đối lớn chảy quanh năm vào suối Sàng là: suối Coọng Vắng, suối Pha Tán, suối Tín Cánh... suối Sàng có thác 20 sải (cao khoảng 35 - 36m) đổ nước trắng xóa quanh năm rất đẹp, cách sông Luồng vào khoảng 3km theo đường biên phòng mở đi bản Ché Làu, bản Mùa Xuân. Lưu vực suối Sàng có nhiều gỗ quý với trữ lượng lớn như: dổi, chò chỉ, lát hoa, de thơm, vàng tâm, bi, sú...

Suối Pu

Suối Pu thuộc địa phận xóm 87, xã Na Mèo, bắt nguồn từ Pha Lanh giáp bản Xa Ná, xã Na Mèo chảy theo hướng bắc - nam đổ ra sông Luồng tại Km 86, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối dài khoảng 5km, nước chảy quanh năm, có nhiều gỗ, vầu, nứa là nguồn lâm sản quý. Lưu vực suối Pu trước đây do Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo quản lý, đến năm 2008 chuyển về cho xã Na Mèo quản lý.

Suối Cài

Suối Cài thuộc tiểu khu 208 do Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo quản lý trên địa bàn xã Na Mèo, suối bắt nguồn từ giáp bản Cha Khót, xã Na Mèo theo hướng nam - bắc chảy ra sông Luồng tại Km 84, đường 217 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Bên dưới cửa suối là bản 83, thuộc xã Na Mèo, lên trên cửa suối là Trạm Bảo vệ rừng suối Cài, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo.

Suối Cài dài khoảng 6km, nước chảy quanh năm, lưu lượng nước tương đối lớn. Suối Cài nổi tiếng có “Pung Quáng” (Vũng Nai), cách đường 217 vào khoảng 5km, ở đó có một bãi có mó nước mặn tạo thành ao, hồ, trước đây nai khắp nơi tập trung về đây uống nước, tắm mát thành từng đàn. Lưu vực suối Cài có nhiều gỗ nứa, vầu, bương với trữ lượng, sản lượng lớn, đây là nguồn lợi về kinh tế, môi trường rất tiềm năng.

Vào khoảng năm 1955 - 1957, Hoàng thân Xu Pha Nu Vông, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Lào và một số cán bộ Trung ương Lào đã đến ở suối Cài trước khi dời lên ở Căn cứ kháng chiến Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn - Lào.

Suối Cha Khót

Suối Cha Khót bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào (bản Chía - Lào) chảy qua bản Cha Khót, Na Pọng, Sộp Huối của Quan Sơn, đổ ra sông Luồng tại cầu Km 79, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Cha Khót dài trên 20km, lưu lượng nước tương đối lớn, là nguồn lợi về thủy sản, thủy lợi tưới tiêu cho hàng chục héc-ta ruộng dọc 2 bên bờ suối.

Lưu vực suối Cha Khót có nhiều gỗ, vầu, nứa, bương, giang, lá dong, song, mây, dược liệu, lâm đặc sản khác... và thú rừng như: bò tót, nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, vượn, chim, các loại này trước đây rất nhiều, các thợ săn năm xưa khi đã vào suối Cha Khót đi săn thường bắn được nhiều chim, thú. Hiện nay thú đã hiếm, nước cạn hơn trước, gỗ, vầu, nứa cũng bị khai thác nên giảm nhiều.

Suối Cha Khót có nhiều suối nhỏ hợp thành như suối “Hin Lặp” (suối đá mài), suối “Pá” (suối cá), suối “Bum”, suối “Pọng”...

Suối Son

Suối Son bắt nguồn từ hướng Đông Pù Xam Lán (Lông Lênh) giáp biên giới Việt - Lào cùng chụm đầu về với các suối Tà Ngơn, suối Sàng. Suối Son chảy theo hướng tây - đông qua bản Son, Sa Ná, xã Na Mèo đổ ra sông Luồng tại bản Hiềng, xã Na Mèo. Suối Son dài khoảng 18km, lượng nước tương đối lớn, chảy quanh năm.

Trước đây suối Son nổi tiếng lắm cá, nhiều tôm, có cánh đồng bản Son rộng lớn, có tiếng ở mường Xia. Tạo mường Xia, Chánh tổng mường Xia trước năm 1945 là người bản Son, cai quản đất mường Xia rộng lớn qua nhiều thế hệ.

Lưu vực suối Son thuộc địa phận bản Son, Sa Ná, giáp Ché Làu, trước đây rất nhiều gỗ quý mà nơi khác không có như Xa Mu dầu, Xa Mu trắng, thông ba lá, gỗ lát, dổi, chò, de thơm, de hương, vàng tâm... và các loại thú rừng như bò tót, bò rừng, trâu rừng, nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, vượn, gấu, chim thú.

* Xã Sơn Thủy

Suối Muống

Suối Muống thuộc địa phận bản Muống, xã Sơn Thủy, bắt nguồn do 2 con suối “Mưn Bằng” và suối “Keo Nưa” hợp nhau tạo thành suối Muống, dài trên 4km, có lưu lượng nước tương đối lớn, chảy theo hướng tây - đông, đổ ra suối Xia tại “Vằng Muống” bản Muống.

Nếu đi theo hướng suối “Mưn Bằng” thì lên gặp bản Ché Làu - Na Mèo, đi theo hướng suối Keo Nưa sẽ lên bản Khà, bản Mùa Xuân của xã Sơn Thủy.

Suối Khà

Suối Khà là suối nhỏ hơn suối Muống đổ ra suối Xia ở địa phận bản Khà trong bản Chanh.

Suối Xia

Suối Xia là suối lớn nhất xã Sơn Thủy. Suối Xia bắt nguồn từ Na Ham - Lào, đầu nguồn ở phía Lào gọi là suối Hin Đăm (suối Đá Đen) chảy vào Việt Nam qua địa phận bản Xia Nọi gọi là Nặm Xia (suối Xia) rồi qua bản Khà, qua hang Bo Cúng, bản Chanh về bản Hiết, bản Muống, Na Cò, Thủy Chung đổ ra sông Luồng tại cầu Sơn Thủy, đường vành đai biên giới thuộc địa phận bản Thủy Chung. Suối Xia kéo dài trên 30km, nước trong veo, có nhiều tôm, cá, ốc, ếch, cua là nguồn thủy sản lớn.

 Nặm Xia trước đây có nhiều vũng nước sâu, có cá Dốc, loài cá lớn ở sông Mã, sông Luồng di cư lên sinh sống. Cá suối Xia ngon có tiếng, ốc suối Xia trước đây nhiều vô kể, chỉ cần xuống suối 30 - 40 phút, một người có thể bắt được 10kg ốc suối rất ngon. Ngày nay, do nước cạn, tôm cá thưa dần, việc đánh bắt chúng khó khăn hơn trước rất nhiều.

Suối Cóc

Suối Cóc bắt nguồn từ phía trong bản Cóc, ra suối Xia tại bản Muống theo hướng đông - tây. Suối Cóc dài khoảng 5km, nước trong, có nhiều tôm, cá, cua, ếch. Lưu lượng nước suối Cóc khá lớn, phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt cho các cánh đồng bản Cóc, bản Muống và làm nước dùng sinh hoạt cho người dân. Bản Cóc ở đầu nguồn suối Cóc trước đây nổi tiếng có nhiều cây quế to, vỏ dày, độ dầu cao, khách thập phương rất ưa thích loại quế này.

* Xã Mường Mìn

Suối Lế

Suối Lế thuộc địa phận bản Bơn, xã Mường Mìn, suối Lế giáp suối Cóc, xã Sơn Thủy và suối Sủa, xã Sơn Điện ở phía bắc. Suối Lế chạy theo hướng bắc về hướng tây nam, dài khoảng 5km đổ ra sông Luồng tại Vằng Lế, bản Bơn, xã Mường Mìn.

Suối Bóng

Suối Bóng bắt nguồn từ Pù Cút, chảy qua đường 217 tại Km 73, thuộc tiểu khu 212 B (bản Chiềng), chảy qua tiểu khu 203 của bản Luốc Làu, xã Mường Mìn qua cầu suối Bóng, đường vành đai biên giới Km 66, đường 217 vào Sơn Thủy, đổ ra sông Luồng tại Hát Bóng (thác Bóng) thuộc địa phận bản Luốc Làu, xã Mường Mìn.

Suối Bóng dài khoảng 15km, lưu vực suối Bóng có nhiều khe suối nhỏ dồn nước vào như: Suối Cánh Giáng, suối Cha Khụ, suối Pán, suối Tá Nọi, suối Bó, suối Co Mác, suối Khuông, suối Co Phày, suối Sộp Mu, suối Dồm...

Dọc theo suối Bóng là rừng vầu, nứa bạt ngàn của các tiểu khu 212B, 203. Suối Bóng có Cánh Giáng (thác Cánh Giáng) cao khoảng 20m, dưới chân thác Cánh Giáng có vụng nước sâu gọi là “Văng Pa O” (vũng cá dồn) vì cá từ sông Luồng theo suối Bóng ngược lên chừng 10km thì gặp thác nước dựng đứng bởi phiến đá lớn ngăn cách, cá không thể nhảy lên được đành dồn lại vụng nước chân thác, tạo cơ hội tốt cho người vào quăng chài, thả lưới bắt cá rất thuận lợi.

Từ sông Luồng theo suối Bóng vào khoảng 3 - 5km dọc 2 bên bờ có nhiều bãi bằng, từ xưa đồng bào Thái ở bản Chiềng, bản Luốc Làu đã vào khai hoang làm ruộng, lập bản gọi là bản Huối Bóng (thuộc bản Chiềng ngày nay).

Suối Yên

Suối Yên bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, đầu nguồn suối Yên là suối Khé, suối Pha Phứng, suối On hợp lại tạo thành suối Yên chảy qua bản Yên theo hướng tây nam về đông bắc qua bản Yên, bản Cha, bản Na Pạng, bản Mìn về bản Luốc Làu, bản Chiềng đổ ra sông Luồng tại bản Chiềng.

 Suối Yên dài khoảng 25km, có nhiều con suối nhỏ dồn nước vào suối Yên. Ngoài các con suối đã nêu ở trên, còn có suối Cộng, suối Hặc, suối Phứng, suối Cha, suối Ngóm, suối Én, suối Xá, suối Nà Mòn cũng dồn nước vào suối Yên.

Dọc suối Yên có nhiều cánh đồng rộng. Thượng nguồn suối Yên có nhiều chim, thú quý. Theo ông cha kể lại, từ thế kỷ thứ XIX trở về trước, vùng rừng núi thượng nguồn suối Yên có voi, tê giác, trâu rừng, bò rừng, bò tót, gấu, khỉ, vượn rất nhiều. Đặc biệt, đầu suối Yên có nhiều cây cọ nên chim phượng hoàng, chim mỏ sừng trắng, mỏ sừng nâu bay từng đàn lớn hàng trăm con đến ăn quả cọ. Nay các loài thú, chim, gà rừng, công, trĩ đã thưa dần, có loài vắng bóng. Hiện nay, bên trong bản Yên có Đồn Biên phòng Mường Mìn. Nước suối Yên phục vụ tốt cho việc tưới tiêu đồng ruộng bậc thang 2 vụ của bản Yên, bản Mìn, bản Luốc Làu, bản Chiềng, xã Mường Mìn, bản Tân Sơn xã Sơn Điện.

Khu vực suối Yên cũng có nhiều phong cảnh đẹp, là tiềm năng tốt cho du lịch sinh thái như Pù Xà Lày cao 1.416m, Pù Phạ Mứt cao 1.380m so với mặt nước biển.

Suối Én

Suối Én bắt nguồn từ Pù Cút, giáp biên giới Việt - Lào chảy ra suối Yên tại bản Luốc Cháo (bản Mìn) tại Km 67, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Én dài trên 10km, có lưu lượng nước khá lớn. Lâm phần suối Én chảy qua là tiểu khu 213 của bản Mìn, xã Mường Mìn, qua xóm Nà Kéo, Luốc Cháo rồi đổ ra suối Yên, dồn nước về sông Luồng. Suối Én cung cấp nước tưới tiêu cho nhiều cánh đồng của bản Mìn, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cây trồng, vật nuôi cho hàng trăm hộ dân từ ngàn đời nay.

* Xã Sơn Điện

Suối Nhài

Suối Nhài chảy theo hướng nam - bắc đổ ra sông Luồng tại bản Nhài, đập tràn bản Nhài (suối Nhài) tại Km 63, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên), đây cũng là điểm nóng thời chiến tranh, máy bay Mỹ thường bắn phá ác liệt.

Suối Nhài có thác Cánh Nhài, cách đường 217, theo suối vào khoảng 5km, thác có 3 tầng, tầng cao nhất là 20 sải tay (khoảng 32 - 35m), tổng chiều ba bậc 50 - 60m, nước tung bọt trắng xóa, không khí trong lành, mát rượi, đây cũng là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, có tiềm năng trong tương lai. Suối Nhài tưới cho hàng chục héc-ta ruộng bậc thang của bản Nhài và Na Nghịu, xã Sơn Điện, cung cấp nước sinh hoạt cho bản Nhài có đường nước sạch lấy từ độ cao ở nguồn suối về bản. Dân gian gọi thác này là thác nàng Han (thác nàng Gan Dạ). Tương truyền, thời quân giặc cờ đỏ, mũ đỏ (quân Thanh) sang quấy nhiễu nước ta, có 3 tên giặc đuổi theo một cô gái người dân tộc Thái vào suối Nhài. Tại thác này, cô gái đã mưu trí, dũng cảm dùng sào nứa xô 3 tên giặc xuống thác làm chúng chết khi đang đuổi bắt cô.

Suối Xa Mang

Suối Xa Mang bắt nguồn từ bản Xa Mang do suối Côi và suối Lào hợp lại. Suối Xa Mang chạy theo hướng tây - đông hướng ra đường 217, khi cách đường 217 khoảng 2km gặp suối Cải chảy theo hướng nam - bắc dồn lại thành suối Bun. Đoạn suối Xa Mang dài khoảng 3km, suối Bun do suối Xa Mang và suối Cải hợp thành chảy qua bản Ban, bản Bun, xã Sơn Điện qua đường 217 tại đập tràn Km 54 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối dài gần 10km, đổ ra sông Luồng tại bản Na Hồ, xã Sơn Điện.

Suối Bun tưới tiêu cho hàng chục ha ruộng 2 vụ của các bản Ban, Bun, Na Hồ và cung cấp nước sinh hoạt cho con người, nơi dòng suối đi qua. Trước đây suối Bun có lưu lượng nước khá lớn, tôm, cá suối rất nhiều, nay suối đã cạn hơn trước nên tôm, cá ít dần.

Tại piềng Púng Quáng cạnh suối Xa Mang về phía nam, năm 2008 Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo đào hồ chứa nước đã phát hiện 3 cổ vật bằng đá hình lưỡi mai. Các hiện vật này đã được giao cho Phòng Văn hóa huyện Quan Sơn lưu giữ.

Suối Súa (Sủa)

Suối Sủa người Thái gọi là suối Súa, dài khoảng 8km, thuộc địa phận bản Na Phường, bản Súa, xã Sơn Điện. Suối Súa bắt nguồn giáp với suối Lế ở xã Mường Mìn, suối Cóc, xã Sơn Thủy. Suối Súa chạy theo hướng tây bắc về hướng đông nam đổ ra sông Luồng tại bản Sủa nên nhân dân đặt tên là suối Sủa. Suối Sủa có lưu lượng nước khá lớn, đủ tưới tiêu cho ruộng nước 2 vụ của các bản Na Phường, bản Sủa và nước sinh hoạt cho nhân dân 2 bản. Thời kháng chiến chống Pháp (1947 - 1953); lưu vực suối Sủa từng là căn cứ kháng chiến của xã Sơn Điện, có nhiều đơn vị du kích, bộ đội vào tập kết trước khi đi đánh giặc.

* Xã Sơn Lư

Suối Sỏi

Suối Sỏi bắt nguồn từ dãy núi Keo Pán giáp ranh giữa bản Sỏi, xã Sơn Lư và bản Tình, xã Tam Lư, chảy theo hướng tây nam - đông bắc ra gặp suối Bìn tại Km 46 + 700 đường 217 thuộc địa phận bản Sỏi nên người dân địa phương gọi là suối Sỏi.

Từ đập tràn suối Sỏi nơi giao nhau giữa suối Sỏi và suối Bìn, suối được đổi tên thành suối Tuốp (suối Tuốp chảy theo hướng tây - đông qua bản Sỏi, bản Hẹ, bản Hao, bản Bon, xã Sơn Lư đổ ra sông Lò tại bản Bon). Chiều dài suối Sỏi khoảng 6km, chiều dài suối Tuốp gần 8km.

Suối Sỏi, suối Tuốp là nguồn nước thủy lợi cung cấp cho ruộng nước hai vụ của bản Sỏi, bản Hẹ, Hao, Bon với diện tích hàng chục ha mà suối đi qua.

* Xã Tam Thanh

Suối Cáng

Suối Cáng hợp lưu giữa suối Hừa và nhiều suối nhỏ khác nằm ở phía đông sông Lò thuộc địa phận bản Ngàm, xã Tam Thanh. Suối chảy theo hướng đông nam về tây nam đổ ra sông Lò, cách biên giới Việt - Lào về phía Việt Nam trên 1km. Chiều dài và lưu lượng nước suối Cáng tương đương với suối Khà (bản Ngàm - Tam Thanh).

Suối Pa

Suối Pa bắt nguồn từ hang Trình gần biên giới Việt - Lào bên trong bản Pa, xã Tam Thanh, chảy qua bản Pa, Cha Lung, Phe, Bôn đổ ra sông Lò tại bản Bôn, nay là địa điểm chợ Tam Thanh (thuộc bản Piềng Pa), trụ sở xã Tam Thanh và cầu treo bắc qua sông Lò đi bản Ngàm.

Suối Pa dài trên 25km, có nhiều con suối nhỏ hợp vào nên lưu lượng nước khá lớn, suối Pa cung cấp nước cho ruộng 2 vụ của các bản có suối chảy qua. Suối Pa theo tiếng Thái là “suối Cá”, ngày xưa suối rất nhiều cá, ở bản Pa có thác nước dựng đứng, cao khoảng 10m, cá vào đến đó không vượt lên được, đồng bào gọi thác đó là “Cánh Pa Tốt”, tiếng Thái “tốt” có nghĩa là “dừng” (thác cá dừng). Hàng năm vào mùa cá lên, nhân dân bản Pa ra bắt được rất nhiều, cũng từ đó đồng bào đặt tên cho bản mình là bản Pa (bản Cá).

Suối Khà

Suối Khà thuộc địa phận bản Ngàm, xã Tam Thanh. Suối bắt nguồn từ “sắn co Mòn” (dông cây Dâu) giáp ranh với xã Sơn Hà và xã Tam Lư chảy theo hướng đông nam về tây bắc qua xóm Co Lương, Nà Pa Vai (bản Ngàm) đổ ra sông Lò. Đoạn suối đi qua có nhiều ruộng nước 2 vụ của người dân địa phương. Suối Khà dài khoảng 7km.

* Xã Tam Lư

Suối Tình

Ngọn suối Tình là suối La, đoạn chảy qua địa phận bản Tình gọi là suối Tình. Suối Tình chảy theo hướng tây nam qua bản Tình, bản Hát, đổ nước ra sông Lò tại phía trên bản Hát, suối dài khoảng 15km.

Suối Cha Loóc

Suối Cha Loóc có chiều dài khoảng 9km, thuộc bản Sại, xã Tam Lư, bắt nguồn từ Pom Pha Sần (Núi Pha Sần) giáp ranh với xã Sơn Hà và xã Tam Thanh chạy theo hướng đông nam về tây bắc qua Na Sắng (bản Nà Sắng trước đây) chạy ra bản Sại rồi đổ ra sông Lò. Đoạn suối đi qua có nhiều ruộng nước (trên 25ha) của bản Sại và bản Piềng Khóe.

* Xã Sơn Hà

Suối Hạ

Bắt nguồn từ dãy Pù Món, Pha Mè giáp biên giới Việt - Lào và xã Yên Khương, huyện Lang Chánh. Suối Hạ chảy theo hướng nam - bắc qua bản Xum, bản Làu, bản Hạ, bản Làng ra sông Lò tại Km 36, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Hạ dài trên 20km, thượng lưu suối Hạ có mỏ bạc sâu dưới lòng đất, thời quân Thanh chiếm đóng nước ta, chúng đã cho khai thác, đến nay chưa có ai vào khai thác lại.

Suối Hạ có nhiều suối nhỏ dồn nước về như suối Sài Khao từ Pù Mằn ra, suối Xum từ Pù Kùn xuống, suối Nà Ơi từ hướng tây dồn về và nhiều con suối có nước chảy quanh năm đổ dồn vào nữa nên suối Hạ có lưu lượng nước khá lớn. Trước đây đồng bào các bản ven suối thường xuôi bè nứa, vầu, luồng ra sông Lò bán cho trạm lâm nghiệp tại Km 35. Đầu nguồn suối Hạ là rừng nguyên sinh, có nhiều gỗ, vầu, nứa. Hiện nay Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò cùng các hộ dân bản Xum, bản Làu, xã Sơn Hà quản lý. Suối Hạ có nguồn nước phục vụ tưới tiêu cho các bản nơi nó chảy qua, đồng thời cá, tôm, ốc suối rất sẵn, là nguồn thực phẩm cung cấp cho dân bản hàng ngày.

* Xã Trung Thượng

Suối Ngàm

Bắt nguồn từ hướng tây - bắc của Pù Mằn chảy ra sông Lò tại Km 28 - bản Ngàm, xã Trung Thượng. Suối Ngàm là nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng bản Ngàm, nước sinh hoạt cho dân bản, suối Ngàm cũng có nhiều cá, tôm, là nguồn thủy sản cho đồng bào đánh bắt.

Suối Máy Bàng

 Bắt nguồn từ dãy Pha Phanh giáp với xã Nam Động, huyện Quan Hóa. Suối Máy Bàng dài khoảng 13km, chảy qua bản Bàng ra bản Mảy đổ ra sông Lò tại Km 30, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên).

Suối Máy Bàng có tiếng là nước trong, con gái tắm nước suối Máy Bàng da đẹp hồng hào.

Suối Khạn

Bắt nguồn từ phía trong bản Khạn, đầu nguồn có 3 mỏ nước nóng là: Bo Khằm, Bo Ngoang, Bo Khạn. Bo Khạn là bến của bản, suối Khạn lượng nước khá lớn. Cả 3 mỏ nước đều ấm về mùa Thu - Đông, mát về Xuân - Hè. Đây là tiềm năng du lịch chưa được khai thác.

* Xã Trung Tiến

Suối Cum

Bắt nguồn từ hướng đông của dãy Pù Mằn, chảy qua bản Cum, Pa Chè ra sông Lò tại Km 25 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Cum dài khoảng 12km, là nguồn nước tưới tiêu đồng ruộng, cây trồng và nước sinh hoạt cho các khu dân cư mà nó đi qua.

Suối Đe

Suối Đe bắt nguồn từ bản Bất, xã Nam, Động huyện Quan Hóa. Suối chảy theo hướng bắc - nam ra sông Lò tại Km 22, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Đe dài khoảng 18km, chảy qua bản Đe, bản Poọng, bản Lầm, xã Trung Tiến. Suối Đe cũng có nhiều suối nhỏ dồn nước vào nên lưu lượng nước khá lớn, đủ sức tưới tiêu cho đồng ruộng, cây trồng và nước sinh hoạt cho các bản mà nó đi qua. Nguồn thủy sản suối Đe cũng dồi dào, tạo nguồn thực phẩm sạch tại chỗ cho đồng bào dọc lưu vực suối Đe.

* Xã Trung Hạ

Suối Din (suối Cánh)

Suối Din ở phía bắc sông Lò, thuộc địa phận bản Din tại Km 21, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). “Din” tiếng Thái có nghĩa là “mát”, suối chảy theo hướng bắc nam bắt nguồn từ dãy Pha Phanh, giáp xã Nam Tiến đổ về. Suối Din có độ dài khoảng 4km, cách sông Lò khoảng 500m có một đoạn suối nhiều thác liên tục, thác cao nhất khoảng 15m dựng đứng, tỏa hơi nước mát rượi quanh vùng. Đối diện với suối Din về phía nam sông Lò có bãi rộng dân địa phương gọi đó là “Piềng Din” (Bãi mát). Hiện nay Piềng Din có bản Din ở phía nam, đường 217, phía bắc đường 217 là trung tâm các cơ quan xã Trung Hạ.

Suối Xày

Suối Xày chính là phần hạ lưu của suối Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh. Suối Tiên bắt nguồn từ bản Đôn, xã Lâm Phú, chảy qua bản Đôn, bản Cháo, bản Tiên ra bản Xày thuộc xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn. Từ bản Tiên, xã Lâm Phú ra sông Lò thuộc địa phận bản Xày, nhân dân địa phương gọi đoạn suối này là suối Xày, suối dài khoảng 4km, chạy qua đường 217, thuộc bản Xày tại cầu Xày Km 19, xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn ra sông Lò.

Suối Bá

Suối Bá bắt nguồn từ bản Xanh, đoạn qua bản Xanh gọi là suối Xanh, đoạn qua bản Bá gọi là suối Bá. Đoạn qua bản Xanh dài trên 2km, có nhiều đá mài nổi tiếng khắp vùng, đoạn qua suối Bá ra sông Lò tại Km 18, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) dài trên 3km, đổ xuống sông Lò trên tầm cao 100m, tạo thành thác nước trắng xóa rất hùng vĩ, nên thơ.

Suối Xanh, suối Bá là nguồn nước tưới tiêu cho bản Xanh, bản Bá, xã Trung Hạ, suối chảy theo hướng nam - bắc đổ ra sông Lò.

* Xã Trung Xuân

Suối Phụn

Bắt nguồn từ Pù Đền, giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, chảy theo hướng nam - bắc ra sông Lò qua bản Phú Nam, bản Phụn, xã Trung Xuân. Suối dài trên 4km, có lưu lượng nước khá lớn, nước không bị ô nhiễm, đủ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân ở các bản mà suối đi qua. Suối đổ ra sông Lò tại bản Phụn nên dân địa phương đặt tên suối là suối Phụn. Trên địa bàn xã Trung Xuân còn có nhiều suối nhỏ nữa như:

Suối Cắn

Suối Cắn ở phía bắc sông Lò, dài hơn 3km, bắt nguồn từ triền núi Pu Ngua có độ dốc cao, lượng nước mùa mưa đổ về sông Lò rất lớn.

Suối Túng: Ở phía nam sông Lò, dài khoảng 2km, bắt nguồn từ dông giáp ranh bản Lang, xã Trung Hạ, đổ ra sông Lò.

Suối Pa O: Ở phía bắc sông Lò, bắt nguồn từ triền núi Pu Ngua, có độ dốc cao, mùa mưa có lượng nước rất lớn chảy ra sông Lò.

Suối Cạn: Ở phía bắc sông Lò, dài hơn 4km, bắt nguồn từ triền núi Pu Cọ và Pu Ngua chảy được khoảng 500m thì vào hang Nặm Kháu Hu, đi ngầm trong hang khoảng 2km ra 2 cửa: một ra cửa Pác Bo, một ra cửa Cộc Bó Cạn chảy 2km đến sông Lò. Suối Cạn có lượng nước tưới và nước sinh hoạt quanh năm, rất thuận lợi cho nhân dân trong bản.

Suối Dú: Nằm ở phía bắc sông Lò, dài hơn 4km, bắt nguồn từ địa phận bản Hui và bản Đun Pù, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, suối có độ dốc cao, quanh năm có lượng nước lớn đủ nước tưới, nước sinh hoạt cho nhân dân bản Mòn.

Suối La: Ở phía nam sông Lò, dài khoảng 3km, bắt nguồn từ dông Pu Sâm, phía bên kia là bản Buốc, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, chảy qua Pu Cú đổ về sông Lò. Suối La cung cấp lượng nước tưới và sinh hoạt cho cánh đồng bản La và nhân dân trong bản.

Nhìn chung sông, suối ở Quan Sơn có giá trị cung cấp nước khá sạch cho các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, tạo khả năng sản xuất nguồn năng lượng thủy điện (điển hình như sông Lò tại xã Tam Lư có thể cho phép xây dựng nhà máy thủy điện có công suất 6MW). Đồng bào các dân tộc sử dụng năng lượng nước để giã gạo. Sông Luồng, sông Lò còn là con đường vận chuyển lâm sản, là môi trường để nuôi cá bè, cá lồng và cung cấp một nguồn thủy sinh cho con người (cá, tôm, cua...). Một số bãi đất vùng ven sông là nơi sinh hoạt cộng đồng của dân cư. Một số thác nước đẹp trên sông Luồng, sông Lò tạo khả năng để phát triển du lịch.

Quan Sơn còn có nguồn nước ngầm khá phong phú. Tổng lượng dòng chảy ngầm khoảng 0,210 tỷ m3. Nước ngầm chủ yếu nằm trong lớp vỏ phong hóa và trầm tích lục địa rời bở tại các thung lũng hay bồn địa; phân bố chủ yếu ở một số khu vực dọc theo sông Luồng, sông Lò, khu vực núi cao nước dưới đất khan hiếm, thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Hiện nay nước ngầm chủ yếu được nhân dân khai thác để phục vụ nhu cầu sinh hoạt.

Tài nguyên nước khoáng ở Quan Sơn có điểm nước khoáng nóng Cha Khót, bản Sủa (Súa), xã Sơn Điện, 3 mó ở bản Khạn, xã Trung Thượng có thể khai thác phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

1.7 NGUYÊN RỪNG, THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT

1.7.1. Đặc điểm chung

Theo tài liệu của Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, Viện Điều tra Qui hoạch rừng Bắc miền Trung và Đoàn Điều tra Qui hoạch Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa: huyện Quan Sơn nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ - Mianma, Malaixia - Inđônêxia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ như­ỡng và địa hình khác nhau nên có hệ thực vật rất phong phú. Ước l­­ượng có thể tới 1.000 loài thực vật bậc cao. Thảm thực vật rừng Quan Sơn thuộc hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều. Rừng nguyên sinh cơ bản là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với các họ thực vật đặc trưng như chò chỉ, lim, lát, nghiến, sa mu, pơ mu, sến, vàng tâm, các loại cây dược liệu, thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang, bương, ngoài ra còn có mây, song. Đến nay chỉ còn rừng thứ sinh, rừng trồng, đa số là rừng nghèo và trung bình. Các loài thú rừng còn ít, một số loài hiếm gặp như khỉ, sơn dương, gà rừng, mèo rừng, các loài bò sát.

Toàn huyện hiện có 87.854,6ha rừng các loại, chiếm 14,6% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, độ che phủ rừng năm 2015 là 88%. Trữ lượng ước tính có khoảng 2,3 triệu m3 gỗ; 60 triệu cây luồng; 170 triệu cây tre, nứa. Rừng giàu và rừng trung bình phân bố ở các dãy núi cao dọc theo đường biên giới giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn. Rừng Quan Sơn có các loại cây điển hình là lát hoa, chò chỉ, táu, sến, đinh, dổi, nứa, vầu, luồng,.. ngoài ra còn có sâm đất, thảo quả,..

Rừng sản xuất chiếm trên 54,7% diện tích rừng toàn huyện. Rừng sản xuất chủ yếu trồng luồng, vầu, tre, nứa, do khai thác nhiều nên rừng luồng đang bị thoái hóa, cần được cải tạo phục tráng.

Rừng phòng hộ chiếm 45,3%, phân bố tập trung ở các xã Trung Xuân, Trung Thượng, Sơn Hà, Sơn Thủy, Tam Thanh, Na Mèo, Tam Lư, Sơn Điện và Mường Mìn.

Thực vật ngoài tầng chủ yếu là dây cóc, sống rắn, dây chạc chìu,... Thảm tươi gồm cỏ ba cạnh, lá dong, thiên niên kiện, sa nhân... phân bố rải rác. Trong số đó có sáu loài hạt trần quý hiếm gồm: Thông Pà Cò, Đinh tùng, Dẻ tùng sọc hẹp, Dẻ tùng sọc rộng, Thông đỏ đá vôi, Thông tre lá dài... ở dãy Pha Phanh, bản Na Hồ, bản Sủa, xã Sơn Điện, bản Bàng, xã Trung Thượng

Ngoài hệ thực vật tự nhiên, Quan Sơn cũng có hệ thực vật hình thành do tác động của con người. Đó là hệ thống các rừng trồng (luồng) và cây trồng trong nông nghiệp, trong vư­ờn, các lâm trại, các khuôn viên cơ quan, công sở và ven đường giao thông....

 

Bảng 3: Phân loại diện tích đất rừng

TT

Loại rừng

Diện tích

Rừng phòng hộ

Rừng

sản xuất

I

Rừng tự nhiên

61.965,49

27.292,21

34.673,28

1

Rừng gỗ

21.414,03

10.134,34

11.279,29

1.1

Rừng giàu

3.821,04

2.559,14

1.261,09

1.2

Rừng trung bình

5.872,22

4.298,82

1.573,40

1.3

Rừng nghèo

4.912,58

1.690,54

3.222,04

1.4

Rừng phục hồi

3.516,26

552,57

2.963,69

1.5

Rừng gỗ núi đá

3.291,93

1.033,67

2.258,26

2

Rừng hỗn giao gỗ, nứa

15.689,17

8.286,28

7.402,89

3

Rừng tre, nứa, vầu

24.862,29

8.871,19

15.991,10

3.1

Rừng nứa

20.331,32

7.304,49

13.026,83

3.2

Rừng vầu

3.734,73

1.248,06

2.486,67

3.3

Rừng giang

796,24

318,64

477,60

II

Rừng trồng

11.931,36

1.725,49

10.205,87

1

Rừng trồng gỗ

2.945,55

870,23

2.075,32

2

Rừng hỗn giao gỗ, luồng

622,08

387,68

234,40

3

Rừng luồng

8.363,73

467,58

7.896,15

 

1.7.2. Các thảm thực vật tự nhiên

Rừng nhiệt đới ở đai thấp. Các loại rừng này phân bố ở độ cao thường dưới 500m và chiếm diện tích chủ yếu của huyện. Chúng đ­­ược phát triển trong điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất: chỉ có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C, trong đó tháng lạnh nhất không d­­ưới 16,50C, có 4 tháng khô, 2 tháng hạn và không có tháng kiệt, mùa khô trùng với mùa lạnh, tầng thổ nhưỡng dày và khá ẩm. Thành phần loài trong thảm rất phong phú. Các loại cây gỗ chiếm ­­ưu thế là các cây thuộc họ Đậu, họ Dầu, họ Xoan, họ Bồ hòn... hầu như­­ không có cây hạt trần. Loại rừng này ở Quan Sơn có ba kiểu sau:

+ Rừng rậm nhiệt đới m­­ưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và hơi lạnh trên các loại đất khác nhau (trừ đất trên núi đá vôi). Th­­ường gọi là rừng trên đồi núi đất. Đây là loại rừng vốn chiếm diện tích lớn nhất, đ­­ược phát triển trong các điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất, có thành phần loài phong phú nhất, cấu trúc đa dạng nhất, có nguồn lâm sản giàu nhất. Rừng có 5 tầng cây, trong đó có 3 tầng cây gỗ, 1 tầng cây bụi, tầng cỏ và nhiều dây leo, thực bì ký sinh, gốc có nhiều bạnh vè, có hoa mọc trên thân, nhiều loài cây bóp cổ,... Sinh khối của chúng khoảng 150 - 300m3/ha. Kiểu rừng này đã và đang bị khai thác mạnh nhất, chỉ còn sót lại một ít ở biên giới Việt - Lào

+ Rừng rậm th­­ường xanh nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và hơi lạnh trên núi đá vôi. Nó phân bố trên diện tích khoảng 500ha của vùng đá vôi trên địa bàn huyện. Trong đó nhiều nhất thuộc vùng biên giới Việt - Lào. Kiểu rừng này có các quần xã Chò đãi, Lòng mang, Sấu, Chò xanh, Dẻ gai, Chò nhai, Đinh vàng, Re, Nghiến...

+ Rừng rậm th­­ường xanh nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng trên bãi bồi cát sỏi ven suối.

Rừng cận nhiệt đới trên núi phân bố ở độ cao từ 500m tới 1.600m (còn gọi là rừng nhiệt đới trên núi thấp). Chúng phân bố trên các khu vực núi có độ cao 500m đến 1.600m ở phía nam, tây và tây bắc của huyện. Khu phân bố của chúng chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc, nền nhiệt độ thấp, mư­a nhiều (th­ường khoảng 2.000mm), mùa khô ngắn và không khắc nghiệt lắm. Địa hình có độ dốc lớn nên dễ thoát n­­ước, tầng đất mỏng. Mặc dù phần lớn là loại cây th­­ường xanh, nhưng tất cả đều có vẩy, chồi bao bọc và có thời kỳ nghỉ sinh tr­­ưởng rõ rệt vào mùa đông. Các loại cây gỗ chiếm ­­ưu thế th­ường là họ Dẻ, họ Long não, họ Ngọc lan. Số loài cây lá kim càng lên cao càng xuất hiện nhiều hơn, các loại cây bóp cổ, dây leo và cây họ Cau càng giảm bớt. Ngược lại D­­ương xỉ thân gỗ, D­ương xỉ bì sinh, Trúc chịu bóng và Lan bì sinh ngày càng tăng. Rừng cận nhiệt đới trên núi ở Quan Sơn còn có mặt của những cây hạt trần quý hiếm là thông pà cò, đỉnh tùng, dẻ tùng sọc hẹp, dẻ tùng sọc rộng, thông đỏ đá vôi, thông tre lá dài. Đây là những loài cần được bảo vệ.

Cấu trúc của các kiểu rừng này th­ường có 4 tầng. Cây gỗ trong tầng ­­ưu thế sinh thái th­­ường không cao quá 20 - 25m với đư­ờng kính thân cây thường 40 - 50cm, ít bạnh vè. Trữ l­­ượng gỗ ít khi v­­ượt quá 200m3/ha. Rừng ở núi thấp có các kiểu rừng sau:

+Rừng rậm th­­ường xanh cận nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ khác nhau (trừ đá vôi). Kiểu rừng này có các quần xã Sồi đá trên s­ườn núi, xen lẫn dẻ gai, thông tre... Quần xã Pơ mu trên đỉnh và đường đỉnh như­ ở biên giới Việt - Lào.

+ Rừng rậm cận nhiệt đới th­­ường xanh mư­a mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và lạnh trên núi đá vôi. Phân bố trên diện tích rất nhỏ ở s­­ườn núi đá vôi. Cây chiếm ­­ưu thế là kiêng, ba đậu lá vòng, thông tre, thông Pà cò.

Rừng trồng: Những cây đầu tiên trồng là luồng. Hiện nay, rừng trồng có diện tích lớn nhất là rừng luồng. Cây luồng ở đây được thuần hóa từ luồng tự nhiên. Luồng Quan Sơn dài, dóng luồng dài, ngọn luồng thon đều và gần bằng nhau (khoảng 12 cm), thân luồng dày, cây to cân nặng trên 80kg. Luồng được trồng ở tất cả các xã trong huyện. Ngoài rừng luồng, Quan Sơn còn phát triển trồng cây keo, cây tràm, xoan, lát, dổi, lim, muồng,...

1.7.3. Các loại thực vật

Rừng Quan Sơn thuộc vùng đa dạng thực vật Bắc miền Trung của Việt Nam, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thực vật rừng chủ yếu là cây lá rộng, rừng tự nhiên nhiều tầng. Dưới tán cây gỗ có thảm thực vật như dây leo, cây bụi, chuối rừng, dương xỉ, cây thảo dược, rêu, thảm mục, cây thân gỗ đa tầng với nhiều đường kính thân cây to nhỏ khác nhau. Gỗ nhiều loài sống hỗn giao, nhiều diện tích hỗn giao gỗ, nứa, vầu, giang, mây...

Rừng Quan Sơn còn có nhiều cây dược liệu quý, đồng bào địa phương thường thu hái làm các bài thuốc cổ truyền chữa được nhiều bệnh cho người và gia súc, gia cầm. Trong đó thường gặp nhất là thuốc cầm máu khi bị thương, thuốc chữa rắn cắn, thuốc chữa gãy chân, thuốc dùng cho người hiếm muộn con cái, thuốc chữa ung nhọt, ròi leo vết thương của người và trâu, bò; nhiều cây dược liệu được thu hái bán cho công ty dược phẩm chế thuốc như thiên niên kiện, sa nhân, máu chó, hoằng đằng, củ ba mươi, dây ba kích, củ mài (hoài sơn)....

1.7.3.1. Các loại cây thân gỗ

Cây thân gỗ ở Quan Sơn rất đa dạng về nhóm, loài. Tổng hợp có một số nhóm gỗ sau đây:

Gỗ nhóm 1: thường mọc ở vùng sâu, núi cao, độ ẩm lớn, sương mù nhiều, riêng sa mu dầu thường ở độ cao trên 800m so với mực nước biển. Tỷ trọng gỗ nhóm 1 chiếm khoảng 1% so với trữ lượng gỗ rừng Quan Sơn.

Gỗ nhóm 1 cây thường to, cao, thân thẳng ít tẻ cành gốc. Do vậy tỷ lệ lợi dụng gỗ lớn, cây lát mọc ở núi đá, đỉnh núi đá cao gỗ càng chắc, vân hoa, vân chun càng đẹp. Nhiều cây gỗ sa mu dầu ở bản Yên xã Mường Mìn, bản Son xã Na Mèo cao vút ngọn hàng 100m, đường kính 2-3m, khối lượng gỗ tròn mỗi cây có thể lên đến 30-40m3. Tuy nhiên, gỗ sa mu thường hổng ruột, cây càng lớn, càng già độ hổng càng cao. Có cây lỗ hổng người lớn có thể chui vào dễ dàng trong thân cây. Do vậy cây dễ bị lốc gốc, đổ. Nhất là vào mùa mưa tháng 7, 8, 9. Gỗ sa mu thường gặp ở Pù Mằn, tiểu khu 209 thuộc địa phận xã Trung Thượng, tiểu khu 223, 224 thuộc bản Yên, xã Mường Mìn, tiểu khu 155, 178 thuộc bản Son, Ché Làu, xã Na Mèo, tiểu khu 151, 149 thuộc bản Xia Nọi, bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy. Cây lát mọc rải rác trong rừng tự nhiên ở các xã trong huyện.

 Hiện nay, được sự chỉ đạo của chính quyền và ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhân dân, các chủ rừng Nhà nước đã trồng nhiều cây lát ở vườn hộ gia đình, ở rừng trồng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ. Từ năm 2007 đến 2010 các Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, sông Lò, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, Đồn Biên phòng 501 Tam Thanh, mỗi năm trồng hàng trăm héc-ta cây lát tập trung, trồng xen luồng hoặc trồng thuần loài. Riêng cây sa mu dầu chưa có nơi nào trồng được.

Cây lát trong rừng tự nhiên có đường kính trên 40cm đến nay đã hiếm do nạn khai thác rừng trái phép, những năm thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước, gỗ sa mu dầu cũng bị khai thác phát rừng làm rẫy nhiều, thời kỳ 1990 - 1994. Hiện còn là cây nhỏ ở tiểu khu 155, 178 bản Son, xã Na Mèo, một số ít ở tiểu khu 223, 224 bản Yên, xã Mường Mìn, tiểu khu 209 bản Ngàm, xã Trung Thượng. Cây sa mu dầu thường mọc tập trung từng đám, cây lát và cây khác mọc phân tán trong rừng.

Công dụng gỗ nhóm I ở Quan Sơn rất quý: Gỗ lát thường dùng làm đồ mộc, cánh cửa, ván thưng, ván lát sàn nhà rất đẹp. Gỗ ít bị mối mọt xâm hại, chịu được ẩm mốc. Cây sa mu dầu dùng để lợp nhà, ốp tường nhà, ốp trần nhà hạn chế được muỗi, gỗ chịu được nóng, ẩm, ít bị nứt, tách, mối mọt (trừ phần dác) và có mùi thơm hắc nhẹ.

Gỗ nhóm II: thường mọc ở núi cao, rừng sâu, núi đá. Phần nhiều mọc rải rác trong rừng khắp các xã trong huyện. Một số nơi cây táu mật mọc tập trung thuần loài từng đám trên dông cao núi đất có tầng dày. Gỗ nhóm II thường chắc, nặng, đồng bào địa phương thường dùng gỗ nhóm II làm cột, xà, kèo nhà rất chắc, bền, có nhiều ngôi nhà tuổi thọ đến hàng trăm năm. Trong công nghiệp, gỗ nhóm II thường dùng cho việc đóng tàu, thuyền, đường ray xe lửa và một số công việc cần chôn gỗ xuống đất, để gỗ ngoài trời lâu ngày gỗ vẫn chịu được.

Gỗ Nhóm II, ở rừng tự nhiên chiếm khoảng 3% trữ lượng gỗ. Sản lượng khai thác gỗ hiện nay chiếm khoảng 5% so với khối lượng hàng năm.

Gỗ nhóm III: thường gặp ở rừng Quan Sơn gồm có chò chỉ, săng lẻ, chua khét, chự, trường mật.

Gỗ nhóm III phân bố hầu hết ở các xã có rừng tự nhiên. Đặc điểm cây thường cao, to, thẳng. Cây chò có thể cao vút ngọn đến 100m, đường kính 2 -3m. Gỗ nhóm III ít bị mối mọt, sử dụng được nhiều việc. Nhất là gỗ dổi đóng đồ gia dụng rất tốt, làm nhà, làm ván hòm được rất nhiều người sử dụng.

Tỷ lệ gỗ nhóm III chiếm khoảng 10% trữ lượng gỗ rừng tự nhiên. Ở Quan Sơn những năm trước đây gỗ nhóm III bị khai thác rất nhiều nên hiện nay còn lại trong rừng là cây nhỏ. Những gỗ tốt đã bị khai thác để làm nhà, khai thác thương mại. Nhất là những năm 70, 80, 90 của thế kỷ XX. Có năm trên địa bàn khai thác hàng chục ngàn mét khối gỗ, trong đó gỗ nhóm III chiếm tỷ lệ khá lớn. Từ năm 2000, huyện Quan Sơn đã hoàn thành việc giao đất lâm nghiệp đến tổ chức và hộ gia đình, do đó việc khai thác rừng giảm đi. Song gỗ quý như dổi vẫn bị lâm tặc khai thác trộm bằng nhiều hình thức. Đến nay, cây dổi, cây chò có đường kính đến 1m trong rừng Quan Sơn rất hiếm.

Gỗ nhóm IV: trên địa bàn huyện Quan Sơn thường là vàng tâm, de hương, gội nếp, vù hương, mít rừng, vàng rè, vàng en, sến đỏ....

Chúng phân bố hầu khắp địa bàn rừng tự nhiên Quan Sơn, nhưng mọc nhiều hơn ở rừng vùng sâu, vùng xa, độ ẩm cao ở các xã biên giới. Thổ nhưỡng ưa thích là đất ferarit tầng dày ở đỉnh dông, sườn dông hoặc thung bằng đất macma axit cây đều phát triển tốt. Nhưng gỗ ở đỉnh dông, sườn dông thì chắc hơn, ít nứt tách. Các loài cây nhóm IV thường cao, to, thẳng, ít khi phân cành gốc. Gỗ nhóm IV ít bị mối mọt, chịu nắng, ẩm, ít cong vênh. Là loại gỗ được nhân dân ưa chuộng làm xà nhà, ván thưng, đóng cửa, lát sàn. Đặc biệt, lõi gỗ vàng tâm dùng làm gỗ hòm (quan tài) chôn dưới đất lâu ngày không hỏng. Gỗ nhóm IV chiếm khoảng 3% trữ lượng gỗ toàn huyện.

Gỗ nhóm V: trong rừng tự nhiên Quan Sơn có rất nhiều loài cây. Chúng mọc rải rác ở các đỉnh dông, sườn dông hoặc thung bằng. Có khi mọc thành từng đám thuần loài như dẻ gai, dẻ sừng, mang, ràng ràng, mít, trường kén... Gỗ nhóm V thường gặp là: dẻ đỏ, dẻ cau, dẻ gai, kháo dầu, thành ngạnh, trâm sừng, trâm tía.

Nhóm V chiếm tỷ lệ khoảng 15% trữ lượng gỗ trong rừng tự nhiên Quan Sơn. Chúng có mặt hầu hết ở diện tích đất lâm nghiệp các xã trong huyện, cả rừng tự nhiên và tái sinh trong rừng trồng. Là các loài cây sống khỏe, ít sâu bệnh, ít mọt trừ ràng ràng, mít. Tuy nhiên, mối thường ăn nên gỗ nhóm V không làm cột chôn xuống đất vì không được lâu. Nếu lấy làm cột nhà phải kê tảng hoặc chỉ dùng làm đà, xà, kèo, ván thưng nơi che được mưa, nắng thì gỗ mới bền. Gỗ dẻ đỏ, dẻ sừng cứng ít mọt nên thường sử dụng làm khung hộc, xà, kèo nhà. Nhưng nếu bảo quản không tốt bị nắng nhiều thì gỗ sẽ bị nứt tách. Riêng trâm đất, trâm sừng có thể chôn xuống đất được lâu hơn các loài cây cùng nhóm. Nhưng đóng đồ mộc không đẹp vì màu gỗ thâm nên nhân dân ít dùng.

Gỗ nhóm VI: thường gặp trên địa bàn Quan Sơn là phay, sâng, ràng ràng đá, vẩy ốc, quế, xoan đào, thị rừng.

Gỗ nhóm VI: phân bố hầu khắp diện tích rừng Quan Sơn, chiếm tỷ lệ khoảng 30% trữ lượng gỗ rừng tự nhiên. Là các loại cây sống khỏe, chịu được thời tiết khí hậu khắc nghiệt, chúng thường mọc ở ven sông, suối, sườn dông, trên đỉnh dông. Mọc xen cả rừng vầu, nứa, giang, tái sinh trong rừng trồng. Gỗ nhóm VI có nhiều loại cây, ít mọt, chịu ẩm và bùn nước như phay vi, bi, sú... gỗ nhóm VI được sử dụng làm nhà như sú, sâng, kháo trắng, xoan đào, dùng làm gỗ quan tài rất tốt như bi, phay vi, sú tía...

Do các loại gỗ nhóm I, II, III, IV ít bị khai thác nhiều nên thời gian gần đây nhân dân thường dùng gỗ nhóm V, VI làm đồ nhà là chủ yếu. Khi dùng người ta ngâm xuống nước để từ 6 tháng trở lên thì gỗ sẽ hết mọt.

Tục ngữ Thái có câu: “Mạy ché nặm xam pi pến ken” (Gỗ ngâm nước 3 năm thành lõi), có nghĩa là dù gỗ xấu, gỗ mọt nhưng đã ngâm nước đến 3 năm thì trở thành lõi gỗ. Lõi gỗ thường là phần tốt nhất của gỗ, ít bị mối mọt, chịu được nóng, ẩm.

Gỗ nhóm VII: có rất nhiều loài và phân bố khắp diện tích rừng Quan Sơn. Gỗ nhóm VII thường là gỗ tạp mềm, dễ bị đổ gãy khi có mưa to gió lớn.

Các loại cây nhóm VII thường gặp ở Quan Sơn: trám trắng, vạng trứng, ngát...

Gỗ nhóm VII thuộc loại cây tiên phong ưa sáng, chóng lớn. Gỗ hay bị mối mọt, thớ thô nên nhân dân ít sử dụng làm nhà và đồ gia dụng trong gia đình. Chỉ dùng làm nhà tạm, chòi rẫy với thời gian không quá 2 năm mà phải ở trong bóng che không tiếp đất. Gỗ nhóm VII mềm, dễ bóc ép. Vì vậy trong công nghiệp bóc ép, ván dăm thường lấy gỗ nhóm VII làm nguyên liệu với giá thành rẻ, nguyên liệu dồi dào. Tỷ lệ gỗ nhóm VII chiếm khoảng 25% trữ lượng gỗ rừng Quan Sơn. Gỗ nhóm VII thường nhiều cành, phân cành sớm, thuộc loại cây lá rộng, chóng lớn nên tác dụng che phủ rừng lớn, tán che rừng rộng và hiệu quả.

Gỗ nhóm VIII: mọc được trong các loại địa hình, phân bố khắp diện tích đất lâm nghiệp của Quan Sơn. Nhất là các diện tích sau nương rẫy, diện tích nứa, vầu, le, giang bị chết thì xuất hiện cây thân gỗ nhóm VIII phát triển. Gỗ nhóm VIII ở Quan Sơn có nhiều loài nhưng thường gặp nhất là: cây bộp, sung, chay, ba soi, ba bét, trẩu.

Gỗ nhóm VIII thường mềm, không có lõi, dễ dập gãy nên nhân dân ít dùng trong làm nhà và đồ gia dụng.

Các loại cây thuộc nhóm VIII mọc nhanh, chóng lớn nên có tác dụng tốt trong việc tăng nhanh độ tàn che, độ che phủ rừng góp phần chống xói mòn, tạo nguồn sinh thủy.

Do nhân dân ít sử dụng, lâm tặc không khai thác nên gỗ nhóm VIII thường tồn tại lâu dài, từ đó có cơ hội sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, do giá trị kinh tế không cao nên diện tích mọc nhiều cây gỗ nhóm VIII (rừng tạp) thường được cải tạo thành rừng trồng. Nhân dân phát bỏ gỗ tạp để trồng rừng mới có giá trị kinh tế cao hơn như: trồng lát, keo, xoan, luồng trên các diện tích rừng gỗ tạp. Hiện nay gỗ nhóm VIII chiếm khoảng 13% tổng sản lượng gỗ rừng tự nhiên toàn huyện.

1.7.3.2. Các loại cây họ tre, trúc

Các loại cây họ tre, trúc ở Quan Sơn thường có là vầu, nứa, bương, giang, trúc, le, sặt, măng đắng, hẹ, tre gai, luồng, mai, song sào, là ngà, tre vàng, luồng vàng, mạy cần... Trong đó tre gai, mai, song sào, là ngà, tre vàng, luồng vàng, mạy cần là rừng trồng phân bố tương đối rộng khắp toàn huyện. Rừng vầu, nứa chiếm tỷ lệ lớn nhất, phân bố nhiều ở các xã Trung Tiến, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo.

Vầu, nứa mọc thuần loài thành từng diện tích lớn hàng 100ha, ngoài ra còn mọc hỗn giao trong rừng gỗ, rừng bương. Đây là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn. Nhiều hộ đã thoát nghèo nhờ bảo vệ khoanh nuôi, chăm sóc được rừng nứa, vầu, luồng; nhiều hộ mở xưởng chế biến tăm mành nứa, vầu, đũa luồng.

Cây vầu: tiếng Thái gọi là “mạy quăn”. Cây vầu mọc thành từng bụi, tái sinh bằng măng hoặc bằng hạt. Tái sinh hạt sau chu kỳ khoảng 60 năm, cây vầu ra hoa và quả một lần. Lúc đó toàn bụi vầu chết hết, kết thúc việc tái sinh măng chuyển thành tái sinh hạt do hạt vầu già rụng xuống xung quanh gốc, một số do chim, chuột công đi nơi khác ăn để rơi rớt xuống đất, hạt đã nảy mầm. Từ khi tái sinh mầm cho đến lúc bụi vầu trưởng thành có thể khai thác được nhanh nhất là 5 năm, nơi đất xấu 7 - 10 năm cây vầu mới thành hàng hóa. Việc tái sinh măng xảy ra liên tục hằng năm vào mùa mưa. Từ tháng 6, 7 măng vầu bắt đầu mọc đến tháng 10 thì măng không mọc nữa, tháng 10 cây măng bắt đầu có lá ở ngọn đến tháng 12 thì cây măng đã trở thành cây vầu non có đủ cành lá có thể chẻ lạt được.

Cây vầu non có nhiều phấn trắng. Quá trình trưởng thành từ măng thành cây vầu nó thay bẹ lần lượt từ gốc cho đến ngọn, cứ 1 ống vầu có một bẹ bao bọc khi cây măng già thì bẹ khô và tự rơi ra khỏi cây măng, khi bẹ bóc hết thì cây măng đã trở thành cây vầu có đủ nhánh lá từ 1/3 thân cây về phía ngọn.

Cây vầu thành thục từ năm thứ 3 trở đi, trở thành cây vầu già sau năm thứ 5. Thân vầu thành thục thường nhẵn, phấn trắng đã rụng hết. Những cây vầu có tuổi từ 1 - 3 tuổi là giai đoạn phát triển măng (đẻ măng) nhiều nhất. Do vậy trong quy trình kỹ thuật khai thác vầu, nứa, ngành lâm nghiệp đã quy định không được chặt cây vầu dưới 3 năm tuổi để chúng sinh măng phát triển rừng. Cây vầu càng già thì tốc độ sinh măng càng yếu, xấu. Thường cây vầu thích nghi ở đất ferarit có tầng dày ít đá sỏi. Nếu mọc ở đất macma axit bãi bằng bồi tụ bên sông suối thì cây vầu rất to, dài nhưng thường bị ốp, dễ bị mọt ăn, làm hàng không nhẵn, không đẹp, xơ nhiều.

Nơi đất tốt cây vầu có thể to gần như cây luồng loại 2, 3 với đường kính gốc 10 - 12cm, dài 10 - 15m, nặng đến 30 - 40kg/1cây. Nơi đất xấu, nhiều sỏi đá, cây vầu nhỏ thường gọi là vầu tép, đường kính gốc chỉ khoảng 2 - 3cm, dài 5 - 7m, cân nặng 3 - 5kg/cây.

Người ta thường phân cây vầu thành nhiều loại: loại 1, 2, 3, 4 và tép. Thời gian gần đây cây vầu rất được giá, nếu so cây luồng cùng cỡ đường kính có khi giá vầu bán gấp 2 lần, lại là cây rừng tự nhiên không phải chăm bón, chỉ cần bảo vệ tốt, khai thác đúng cường độ, hàng năm mỗi bụi vầu sinh măng 10 - 20 cây là nguồn lợi lớn cho người sản xuất nghề rừng. Bụi vầu thành thục có thể cho ta hàng trăm cây, bình quân 45 - 50 cây/bụi, vừa có lợi kinh tế vừa có lợi cho môi trường, góp phần tích cực trong việc tạo độ che phủ, độ tàn che, chống xói mòn, làm mát không khí. Ở Quan Sơn, cây vầu bị khuy (tái sinh hạt), năm 1976 đến nay đã 37 năm. Nếu đúng chu kỳ thì khoảng 23 năm nữa cây vầu sẽ ra hoa, quả và cây chết hàng loạt. Đây là mối lo không chỉ thiệt hại về kinh tế (mất nguồn thu nhập) mà còn là mối lo cháy rừng xảy ra vì cây vầu chết khô hàng loạt tạo ra nhiều vật liệu dễ cháy làm nguy cơ cháy rừng càng cao. Để ứng phó với những vấn đề này, đồng bào và các chủ rừng Nhà nước phải chủ động tạo việc làm mới, lập đường băng cản lửa, chia nhỏ diện tích vầu chết khô để phòng xảy ra cháy lớn. Khi rừng bị cháy sẽ cháy cả hạt và mầm vầu đang lên, do đó việc phục hồi rừng vầu sau 5 - 10 năm sẽ rất khó. Để kéo dài tuổi thọ rừng vầu cần khai thác đúng chu kỳ, cường độ. Không chặt cây non dưới 3 năm tuổi để rừng tái sinh tốt, bụi vầu sẽ khỏe hơn. Khi có hiện tượng vầu ra hoa, lá vàng, cây mọng nước, mùa măng không có măng thì nên nâng cường độ chặt có khi chặt trắng để tận thu lâm sản đồng thời giải phóng bớt vật liệu cháy trong rừng.

Cây vầu có trữ lượng chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng vầu, nứa, bường, giang và cây họ tre trúc trong rừng tự nhiên ở Quan Sơn. Trọng lượng bình quân cây vầu khoảng 10kg, dài vút ngọn 9m, đường kính gốc 7cm. Cây to nặng nhất đến 40kg, cây nhỏ chỉ 2-3 kg.

Cây nứa: Nứa thường mọc ở đồi (dông) đất hoặc bãi bằng bên sông suối. Chu kỳ sinh trưởng và tái sinh của cây nứa cũng như cây vầu, có khi nứa mọc thuần loài với diện tích hàng 100ha, có khi hỗn giao vầu, luồng, gỗ, bương. Cây nứa ở trên đỉnh dông, sườn dông (đỉnh đồi, sườn đồi) có chất lượng tốt hơn cây mọc ở thung bằng hoặc ven sông suối. Cây nứa mọc ở thung bằng, ven sông suối thường to, dài, nhưng hay bị ốp, bị mọt. Trọng lượng cây nứa có thể đến 30kg, dài 10 - 12m. Có cây đường kính gốc 9 - 10cm, bình quân khoảng 7cm. Nứa cũng được phân nhiều loại như vầu: loại 1, 2, 3, 4 và tép. Nứa tép là những cây nhỏ có đường kính dưới 4 cm. Nứa cũng mọc thành bụi, có bụi đến 150 cây, bình quân 50 - 60 cây/bụi. Đến nay đồng bào khai thác nhiều nên bụi nứa giảm nhiều về số cây, chiều cao và đường kính.

Để bảo vệ rừng nứa phát triển, sinh trưởng tốt, cường độ khai thác hàng năm không quá 25%, chặt cao gốc không quá 30cm, kéo ngọn nứa đã chặt ra khỏi bụi nứa để khi măng mọc lên khỏi vướng làm cong cây măng. Chu kỳ khai nứa 3 năm quay lại một lần, không chặt những cây dưới 3 tuổi. Vì cây nứa dưới 3 tuổi là cây sinh măng (đẻ măng) mạnh nhất, măng khỏe và to. Đồng thời cây nứa dưới 3 tuổi chưa già (bánh tẻ) nên làm hàng không đẹp, không bóng, ốp, hay bị mốc, mọt, trọng lượng khi sấy khô thường hao hụt nhiều.

Chu kỳ sinh trưởng của cây nứa khoảng 60 năm thì ra hoa, kết quả một lần. Lúc đó nứa sẽ chết hàng loạt để tái sinh mầm từ hạt già gieo xuống đất. Từ lúc nảy mầm cho đến khi cho sản phẩm và hình thành bụi nứa khoảng 5 - 7 năm tùy chỗ đất tốt hay xấu. Hiện tượng nứa sắp ra hoa cũng giống như vầu: Lá vàng từ ngọn dần xuống gốc, trong cây nứa có nhiều nước, cây nứa mềm dễ gãy, năm sắp ra hoa nứa không mọc măng. Quả nứa, quả vầu gà rừng và chuột rất ưa thích. Do đó, năm nào vầu, nứa ra hoa kết quả (khuy) thì trong rừng rất nhiều chuột và gà rừng. Ở Quan Sơn, nứa ra hoa gần đây nhất là năm 2004 - 2005. Kỹ thuật xử lý nứa khuy cũng như đối với cây vầu. Cây nứa ở Quan Sơn chiếm khoảng 45% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây bương: tiếng Thái gọi là “mạy hộc”. Cây bương mọc thành bụi trong rừng tự nhiên, thân cây to gần như cây luồng nhưng đẻ nhiều nhánh và nhánh dài hơn nhánh luồng. Bụi bương thành thục có 50 đến 60 cây, bình quân mỗi bụi bương khoảng 30 - 35 cây/bụi.

Cây bương thường mọc măng từ tháng 6 đến hết tháng 9 hằng năm. Quá trình mọc măng và thành cây bương cũng như cây vầu, cây nứa. Măng bương to, ống bương dày, bương thường mọc ở đầu nguồn nước, bên khe suối, có khi phân bố thành đám rộng vài héc-ta, có khi mọc hỗn giao với vầu, nứa, gỗ, trong rừng sâu. Do vậy hái măng bương thường phải đi xa.

Măng bương ăn ngon (cả măng tươi, hay măng phơi khô) đều dùng tốt. Do vậy măng bương thường bị thu hái nhiều, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của rừng bương. Đến nay, cây bương ít được sử dụng vì khai thác khó, giá thành không cao, vận chuyển xa, thu nhập không đáng kể nên đồng bào ít quan tâm. Trữ lượng bương ở Quan Sơn chiếm khoảng 2% trữ lượng họ tre, trúc trong rừng tự nhiên.

Cây bương ở Quan Sơn bị chết khuy (ra hoa kết quả) năm 1986, chu kỳ ra hoa kết quả của cây bương cũng tương tự như cây nứa, cây vầu.

Cây bương thành thục có thể dài đến 15m, đường kính gốc đến 12cm, nặng đến 50kg. Bình quân cây có đường kính 9cm, dài 12m, nặng khoảng 25kg. Cây bương dễ bị uốn cong do nhiều nhánh, nhiều lá. Lá màu xanh xẫm to hơn lá tre, luồng và lá vầu, nứa.

Cây giang: tên tiếng Thái “mạy háng”. Cây giang thường phân bố ở đỉnh núi cao, nơi rừng sâu, rừng xa, có độ cao so với mặt nước biển trên 700m, độ ẩm lớn. Bụi giang khoảng 15 - 20 cây/bụi, nhưng thường mọc liền nhau, cây giang dài 20 - 30m leo trèo trên cây thân gỗ, nếu không có cây thân gỗ hoặc cây vầu, nứa, bương làm chỗ dựa thì cây giang lan bò dưới đất đan cài với nhau dày đặc. Đây là môi trường tốt cho trăn, rắn, rết, rùa.... ẩn nấp, có khi cả hổ, gấu, nai cũng vào trong rừng giang để ở. Người đi rừng gặp rừng giang rất vất vả mới qua được. Giang thường mọc từng đám, có đám rộng vài chục héc-ta, lá giang xanh đậm, dài hơn lá nứa. Trong rừng giang, tầng thảm mục thường dày, rất dễ cháy. Ống giang dài đến 60cm, có lỗ hổng bé có khi đặc, lạt giang rất dẻo, bền. Do đó giang thường được dùng trong đan lát thủ công mỹ nghệ, đan đồ dùng gia đình, làm lạt buộc rất tốt. Tuy nhiên, rừng giang thường ở xa, khai thác giang khó khăn, năng suất thấp, giá bán không cao nên sản phẩm giang ít được khai thác sử dụng trên địa bàn Quan Sơn.

Cây giang cũng tái sinh chồi (măng) và hạt như vầu, nứa, bương. Chu kỳ ra hoa kết quả (khuy) cũng tương tự như vầu, nứa. Trên địa bàn Quan Sơn, cây giang bị khuy chết hàng loạt năm 2010, nay đang lên cây non. Trữ lượng giang chiếm khoảng 3% so với tổng trữ lượng họ tre, trúc ở Quan Sơn.

Cây le: tiếng Thái gọi là “mạy láy”. Cây le mọc thành bụi, có bụi đến hàng trăm cây dày đặc, thân le chắc nhưng do nhiều cành, nhánh, lá dày nên cây thường bị uốn cong. Le mọc thành đám trong rừng tự nhiên, trên đồi hoặc ở sườn dông, nơi đất pha sỏi, đá, le càng sống khỏe. Ống le thường đặc, lỗ hổng rất nhỏ, ống dài khoảng 25 - 35cm, cây le dài khoảng 8 - 10m đan cài vào nhau trong cùng bụi hoặc trong đám le, mọc thuần loài, mọc ở núi thấp, rừng le rất dễ cháy.

Măng le ngon với nhiều cách chế biến khác nhau, nhưng hái măng le khó do bụi le rậm rạp, thường có ong, rắn, đến cư trú nên đồng bào ít hái măng le. Cây le ít sử dụng trong đời sống con người. Chỉ vài nơi lấy le làm cán dao, cán liềm, cán cuốc... trong sinh hoạt gia đình. Ngoài ra hiếm thấy sản phẩm từ cây le trong sản xuất hàng hóa ở Quan Sơn. Cây le chiếm khoảng 1% trữ lượng họ tre, trúc Quan Sơn.

Cây măng đắng: thuộc loài trúc, tiếng Thái ở địa phương gọi là “mạy mu”, “mạy khôm”. Cây măng đắng mọc phân tán trong rừng (không thành bụi), có khi mọc thành đám rộng thuần loài vài héc-ta, phần nhiều mọc xen dưới tán rừng gỗ, nơi độ ẩm cao. Hái măng đắng phải dùng thuổng đi đào khi măng mới nhú lên mặt đất, thậm chí mới nứt đất đã đào xuống lấy thì măng đỡ đắng, ăn sống có vị ngọt. Nếu măng lên khỏi mặt đất thì đắng, càng lên cao càng đắng, măng đắng được nhiều người sử dụng. Măng mọc vào tháng 1 đến tháng 3, rộ nhất vào tháng 2 dương lịch hằng năm.

Cây măng đắng ống ngắn khoảng 20 - 30cm, cây dài đến 7 - 8m, thân thẳng. Nhân dân thường lấy làm đòn tay, rui nhà tạm, chòi rẫy nơi có rừng măng đắng ở gần. Cây măng đắng ở Quan Sơn ít, chỉ phân bố ở một số xã như Trung Hạ, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo. Trữ lượng cây măng đắng chiếm khoảng 0,1% trữ lượng cây họ tre, trúc. Cây măng đắng chưa thành hàng hóa ở Quan Sơn.

Cây sặt: tiếng Thái gọi là “mạy chá”. Cây sặt mọc trong rừng sâu, nơi độ ẩm cao, chân núi đá. Măng sặt mọc vào mùa xuân khoảng tháng 2 - 4 hằng năm. Măng sặt có 2 loại: một loại đắng (no chá khốm) loại không đắng (No chá ban). Măng sặt ăn ngon, là loại thức ăn mà hoẵng, nai, gấu, trâu, bò, rùa núi yêu thích. Trước đây còn nhiều thú rừng, những người thợ săn thường vào rừng cây sặt mùa sinh măng để săn bắt gấu, nai, hoẵng, rùa...

Cây sặt có đường kính dưới 2cm, thân dài khoảng 4 - 5m, mọc rải rác (không thành bụi) trong rừng. Cây sặt ít được khai thác sử dụng, chủ yếu đồng bào chỉ để hái măng dùng trong gia đình, đôi khi cũng đem bán hoặc trao đổi hàng hóa. Ở Quan Sơn trữ lượng cây sặt không nhiều, chỉ chiếm khoảng 0,5% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây nứa đá: Tiếng Thái gọi là “mạy pao”. Cây nứa đá thường mọc trên núi đá, về hình dáng giống cây nứa nhưng có thân nhỏ, mỏng, đường kính dưới 1cm, chiều cao khoảng 2 - 3m (mạy pao) thường được dùng làm khèn bè, sáo ôi... ngoài ra ít dùng vào việc khác. Về chu kỳ sinh trưởng và phát triển của “mạy pao” (nứa đá) cũng như cây nứa, cây vầu. Măng nứa đá ăn được nhưng vì ít, thu hái khó khăn nên đồng bào ít sử dụng.

Cây sậy đồi: Tiếng Thái gọi là “mạy vua”. Mạy vua hình dáng giống cây sậy hay mọc ven suối, ven bờ ruộng, ao, đầm. Nhưng nó có thân cứng hơn, dẻo hơn. Cây có đường kính dưới 0,5cm, thân dài 1 - 2m. Đồng bào miền núi thường lấy cây này làm cần hút rượu cần, tiếng Thái gọi là “Vua làu láu”. Do cây nhỏ, trữ lượng ít nên đồng bào ít hái măng hay chặt cây làm vào việc khác ngoài cần rượu.

Cây sậy đồi thường mọc ở đồi thấp nơi đất pha đá sỏi, phân bố ở một số nơi như Sơn Thủy, Tam Thanh, Sơn Điện, Trung Thượng. Nhìn chung loại cây này hiếm và ít tác dụng trong đời sống con người, tỷ lệ không đáng kể trong trữ lượng họ tre, trúc ở Quan Sơn.

Cây luồng: tiếng Thái gọi là “mạy luông”. Cây luồng do con người trồng bằng hom. Có thể dâm hom ở vườn sau khi cây đẻ nhánh thế hệ 2 mới đem trồng hoặc chặt từng đoạn có 1 mắt ở giữa cắm đầu gốc xuống đất sâu khoảng 15 - 20cm, cây luồng vẫn phát triển tốt. Lâu nay trên địa bàn huyện Quan Sơn nhân dân thường trồng luồng theo cách thứ 2 là chủ yếu. Trồng theo cách này vừa dễ trồng, năng suất mà tỷ lệ sống khá cao (chiếm đến 80 - 90%). Chặt cây luồng có tuổi từ 1 - 3 tuổi vát đầu gốc, để mắt ở giữa. Mỗi cây luồng có thể được 10 - 15 đoạn đem ra nơi đã xử lý thực bì cắm xuống đất như đã nói ở trên vào mùa tháng 5, 6 trước mùa sinh măng thì cây luồng dễ sống. Nếu trồng trong mùa sinh măng tháng 7, 8, 9 thì tỷ lệ sống thấp hơn. Cây luồng trên 3 tuổi thì lấy phần ngọn trồng vẫn sống.

Rừng luồng Quan Sơn đã có từ lâu đời. Có những bụi luồng đã sống hàng trăm năm. Chưa thấy cây luồng ra hoa kết quả (khuy) hàng loạt như nứa, vầu, bương, mà chỉ phát sinh khuy cục bộ. Cây luồng trước khi khuy (ra hoa) thường tạo thành từng chùm lá hình tròn như tổ ong ở nhánh luồng. Khi xuất hiện các “tổ ong” bằng lá luồng còn xanh ở ngọn luồng thì nên chặt bỏ cây đó đi để tránh lan sang cây khác. Đây chính là hiện tượng sâu hại luồng và làm cho cây luồng yếu đi dẫn đến việc ra hoa sớm.

Lâu nay rừng luồng trên Quan Sơn mới ra hoa cục bộ, do đó nhân dân vẫn phát triển trồng luồng. Có hộ trồng đến 30ha. Mỗi bụi luồng hằng năm cho măng đạt tiêu chuẩn từ 3 - 10 cây tùy đất tốt, xấu và thời tiết khí hậu phù hợp. Trên địa bàn Quan Sơn đến năm 2010 có 8.400ha rừng luồng thuần loài đã thành thục, mỗi héc-ta có từ 250 - 300 gốc, mỗi gốc thu từ 3 - 5 cây/năm, mỗi cây bán giá bình quân 15.000 đồng/cây, là nguồn thu khá lớn của đồng bào. Mỗi năm Quan Sơn khai thác và bán ra thị trường từ 6 - 8 triệu cây luồng, cây luồng Quan Sơn to, thẳng. Nhiều khu rừng luồng, luồng phao (luồng to) chiếm đến 30%, giá mỗi cây luồng phao bán tại chỗ khoảng 25.000 - 27.000 đồng/cây. Để tận dụng nguyên liệu tại chỗ, những năm gần đây đã xuất hiện nhiều xưởng chế biến đũa. Mỗi năm các xưởng tiêu thụ hàng triệu cây luồng tại chỗ cho nhân dân, tạo thêm việc làm và thu nhập cho đồng bào vùng cao.

Cây luồng dễ trồng, phát triển nhanh, sớm đưa lại hiệu quả kinh tế và môi trường do tàn che rộng, rễ dày, chống xói mòn đất. Là cây “xóa đói giảm nghèo” của đồng bào Quan Sơn. Hiện nay trữ lượng cây luồng chiếm ưu thế về rừng trồng và chiếm khoảng 15% trữ lượng cây họ tre, trúc trên địa bàn. Là nguồn nguyên liệu dồi dào cho xây dựng cơ bản và chế biến đũa luồng.

Cây tre gai: tiếng Thái gọi là “Co phéo nám” được trồng từ trước tới nay ở xung quanh làng, bản, ven sông suối, ven ruộng, vườn, làm tác dụng hàng rào che chắn. Kỹ thuật trồng tre như trồng luồng.

Đồng bào Quan Sơn ít sử dụng cây tre trong cuộc sống hàng ngày, chủ yếu trồng tre gai để chắn gió, chắn bụi, thay tường rào bảo vệ ruộng vườn, cây cối, làng bản. Trữ lượng tre gai trên Quan Sơn ít, chiếm dưới 0,1% trữ lượng họ tre, trúc trên địa bàn. Đường kính cây tre to đến 12cm, dài 10m.

Cây song sào: tiếng Thái gọi là “Co phéo khóng” cây song sào (tre nhỏ) thuộc loại tre gai mọc thành bụi nhưng có đường kính thân cây nhỏ, chỉ khoảng ½ đường kính cây tre gai. Cây song sào thường mọc thẳng, dài 10 - 12m, vút ngọn. Trồng song sào cũng như trồng luồng. Do song sào thẳng, đều, ít bị mối mọt nên đồng bào thường lấy làm đòn tay nhà rất đều, đẹp. Đũa cây song sào cũng là một sản phẩm đẹp, bền, được nhiều người ưa chuộng. Cây song sào có thể trồng ở mọi địa hình, thích hợp nhất là tầng đất dày, có nhiều mùn. Do ít công dụng và khai thác khó (có nhiều gai ở gốc) nên đồng bào ít trồng, mỗi làng chỉ có vài bụi cây song sào. Trữ lượng song sào so với tổng trữ lượng cây họ tre, trúc trên địa bàn Quan Sơn không đáng kể.

Cây mạy cần: tiếng Thái gọi là “mạy cần” là loại cây nhân dân trồng để làm rui nhà, làm đà lát sàn luồng, làm cánh nỏ, cây có hình dạng như cây trúc nhưng đặc ruột, mọc thành bụi. Cây thường đều, thẳng, đường kính gốc cây to khoảng 4 - 5cm, dài 9 - 10m.

Kỹ thuật trồng “mạy cần” cũng tương tự như trồng tre, luồng. Nhưng phần nhiều đào lấy gốc đi trồng. Gốc “mạy cần” không có gai nên khi khai thác dễ chặt. Trữ lượng mạy cần chưa đến 0,1% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây mai: tiếng Thái gọi là “mạy mai, mạy mười”, cây to như cây luồng, mọc thành bụi, những cây bánh tẻ thường có phấn trắng, nhiều cây có màu mốc, gốc không có gai, lá mai to và dài hơn lá luồng, nhìn gần giống như lá bương. Cây mai ít sử dụng trong xây dựng, chỉ sử dụng làm bè mảng nơi gần sông nước. Cây mai được đồng bào trồng để lấy măng ăn là chủ yếu. Măng mai ngon, búp măng to. Trên địa bàn Quan Sơn cây mai chỉ trồng ở vườn hộ gia đình, xung quanh nhà, thường xuất hiện nhiều ở các xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Thượng. Các xã vùng trên hầu như không có cây mai vì đồng bào có nhiều luồng và bương nên ít dùng đến cây mai, măng mai.

Kỹ thuật trồng cây mai cũng như trồng cây luồng, cây mai thành thục đường kính gốc có thể từ 12 - 15cm, chiều cao từ 10 - 12m. Hình dáng cây mai không đẹp và chắc như cây luồng. Cây mai thường mắt to, cật thô, ráp, thớ mai mềm xốp trong khi cây luồng có cật bóng, thớ, trắng, dai khỏe. Trữ lượng cây mai trên địa bàn Quan Sơn chiếm dưới 0,1% trữ lượng cây họ tre, trúc.

Tre ngà (Tre vàng): tiếng Thái là “mạy phéo khằm”, cây tre vàng về hình dáng giống cây tre nhưng có đường kính nhỏ hơn. Toàn thân cành nhánh có màu vàng nên gọi là tre vàng (phéo khằm). Trước đây tre vàng xuất hiện ở Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Điện, Mường Mìn, nay ít thấy đồng bào trồng.

Đặc điểm cây tre này cứng dẻo hơn cây tre thường nên đồng bào thường làm cánh nỏ cùng với cây mạy cần.

Tre La Nga: tiếng Thái là “Có La Nga” Loại tre này to, dài, từ gốc đến ngọn dài 30m, có gai nhưng mềm hơn tre gai (Có phéo hóa), gai mềm như gai tre song (Có phéo khóng).

Cây luồng vàng: tiếng Thái gọi là “luồng khằm”. Cây luồng vàng có hình dáng bên ngoài như cây luồng nhưng cành, nhánh có màu vàng. Cây luồng vàng ít sử dụng trong xây dựng cơ bản, chủ yếu trồng làm cảnh nơi cổng làng, nơi nghĩa địa để tôn thờ thần linh, hồn vía con người. Từ cây luồng vàng có nhiều câu ca tục ngữ, bài khặp tả cảnh vật rất đẹp và duyên dáng như một nàng tiên.

1.7.3.3. Các loại cây dược liệu và lâm sản khác

Trên địa bàn huyện Quan Sơn có rất nhiều cây dược liệu quý, mọc trong rừng, ngoài đồng, bên cạnh đường đi, có loại cây thân gỗ, có loại thân thảo (cỏ), có loại dây leo, củ, quả.

Loại cây thân gỗ làm thuốc có nhiều loại, chữa được nhiều bệnh, trong đó cây thành ngạnh vàng phối hợp cùng ngô đá, cây khế chữa bệnh thận.

Cây thảo dược cũng có nhiều loại chữa được nhiều thứ bệnh, công ty dược thường mua như: thiên niên kiện, củ ba mươi, sa nhân, củ mài, củ nâu chó, hà thủ ô, vỏ quế, lá quế, quả cây mát.

Trong rừng Quan Sơn còn nhiều lâm sản phụ như: song, mây, lá dong, chuối rừng, củ nâu, dây móc, lá cọ, lá kè... đều có tác dụng thiết thực với đời sống đồng bào và trở thành hàng hóa đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ. Đó là nguồn lợi do sản phẩm rừng đem lại cho đồng bào.

Cây đót, cây bông lau cũng là sản phẩm rừng có giá trị. Bông đót làm chổi, bông lau làm đệm ngồi, đệm nằm là những sản phẩm hàng hóa, vật dụng gia đình không thể thiếu trong đời sống đồng bào Quan Sơn cũng như phục vụ nhu cầu chung của xã hội.

Cây guột ở Quan Sơn cũng nhiều, guột là nguyên liệu làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu rất có giá trị, được nhiều khách hàng trong và ngoài nước đặt mua.

Các loại quả như quả trám hồng, trám đen, hạt trẩu, hạt quế là những sản phẩm ở Quan Sơn mà thị trường luôn cần đến. Đặc biệt, ở bản Tân Sơn, xã Sơn Điện có rừng giống lim duy nhất của tỉnh Thanh Hóa được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa cấp chứng chỉ rừng giống của tỉnh. Mấy năm gần đây, nhiều cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trong tỉnh ta đã đến mua với số lượng khá lớn, chất lượng hạt rất tốt. Hạt quế ở trên địa bàn xã Na Mèo, huyện Quan Sơn những năm qua cũng là nguồn giống tốt mỗi năm bán ra thị trường trong và ngoài tỉnh hàng tấn hạt. Ngoài ra, trong rừng Quan Sơn còn có nhiều loại rau rừng ăn rất ngon, số lượng nhiều, có những loại rau rừng là vị thuốc rất hiệu nghiệm, chữa được nhiều bệnh cho người và gia súc.

1.7.4. Động vật

1.7.4.1. Đặc điểm chung

Hệ động vật của Quan Sơn rất phong phú, đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật d­­ưới n­ư­ớc, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư­­ đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con ng­­ười nuôi,... các động vật này có giá trị nhiều mặt: cung cấp thịt, dùng làm thuốc, làm đồ trang sức, làm cảnh và dùng để nghiên cứu khoa học. Lãnh thổ Quan Sơn có 4 quần cư­­ động vật trên cạn chính:

Quần cư­­ động vật ở rừng gỗ và trảng cây. Quần cư này phân bố tại các khu rừng giàu, rừng trung bình, rừng hỗn giao gỗ, tre, nứa. Quần cư­­ này có các loài ăn sâu bọ, lá, quả cây, ăn thịt, sống trên cây, trên đất. Một số loài đặc trưng là: nhái bén, thằn lằn, nhông xanh, trĩ, trĩ sao, cu xanh đuôi nhọn, vẹt đậu xám, cày lon, thỏ, sóc bụng xám, sóc chân vàng, gà rừng, gõ kiến, bìm bịp, cày h­­ương, lợn rừng,... Một số loài quý hiếm là lợn rừng, khỉ, nai, gấu, hổ, gà lôi.

Quần cư­­ động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ. Chúng phân bố tại các khu vực rừng nghèo, đồi cỏ tranh. Quần cư­­ này th­­ường có các loài ăn sâu bọ, chim nhỏ ăn hạt, ăn sâu, thú ăn hạt, rễ, lá, cỏ ở đất. Một số loài đặc trưng là: ếch cây, rắn giun, rắn roi, cun cút, chèo bẻo, chuột chù, chuột nhắt, chuột dũi, cáo lửa, thỏ rừng, cày lon, gà rừng, gà gô, sóc bụng đỏ,...

Quần cư­­ động vật ở rừng tre, nứa, luồng, vầu, giang. Quần cư­­ này có các loài sống ở hốc tre hay d­­ưới đất, ít khi sống trên cây, hay trên đất, th­­ường ăn rễ, sâu bọ. Một số loài đặc trư­­ng: ếch cây, rắn giun, gà rừng, gõ kiến, chuột khuy, tắc kè, trăn đất, thằn lằn bóng đuôi dài, chuột nứa, tê tê, rùa...

 Quần c­ư động vật đồng ruộng và đồi thấp. Quần cư­­ này có các loài đặc trưng ếch, nhái, bò sát ăn sâu bọ thư­­ờng ở n­­ước, chim thú ăn hạt. Các loài đặc trư­­ng là ếch đồng, rắn n­­ước, sơn ca, cu gáy, sáo mỏ ngà, chuột nhắt, chuột đồng,... ngoài ra có thêm thằn lằn bóng đuôi dài, nhái, cóc nhà, thạch sùng đuôi sần, tê tê, cò trắng, chèo bẻo, chào mào, chích choè, chẫu chuộc, cóc.

Phân bố lồng ghép trong các sinh quần cư­­ trên là rất nhiều sâu bọ có hại: rầy nâu, sâu b­ướm hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cắn gié, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu đục thân ngô, sâu xám, sâu xanh, sâu đục quả đậu tương, ruồi đục thân đậu, vòi voi đục thân,vòi voi đục gốc, bọ giáp, sâu khoang.

Quần c­­ư động vật n­­ước ngọt. Quan Sơn có 69,74ha thủy vực nư­­ớc ngọt, chủ yếu là ao, hồ, ruộng... đã được sử dụng để nuôi thủy sản. Ngoài ra, còn hàng trăm héc-ta diện tích mặt nước của sông Luồng, sông Lò. Các thủy vực ở đây có độ sâu trung bình 0,3 - 1,0m; độ pH: 6,7 - 7,5; động vật phù du: 4 -10.104 con/m3; thực vật phù du: 1 - 50.105 tế bào/m3; sinh vật đáy: 2 - 10g/m2. Các giống thủy sinh chính ở Quan Sơn gồm cá chép, cá lăng, cá trê, tôm càng sông, cua đồng, l­ươn, ếch, ốc.

Hiện nay, nguồn loại động vật bị giảm sút nhanh cả về trữ l­­ượng lẫn chủng loại. Nhiều động vật tr­­ước đây rất nhiều hiện không còn nữa hoặc rất hiếm gặp như: voi, sư­­ tử, hổ, tê giác một sừng, công, voọc, bò tót, trâu rừng, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, kỳ đà,... Do đó, cần có chiến l­uợc bảo tồn và phát triển quỹ gen động vật.

1.7.4.2. Một số loài động vật

Động vật rừng phân bố hầu khắp các địa bàn trong huyện, nhất là chuột, bò sát, dơi, sóc, chồn, cáo, hoẵng, lợn lòi xã nào cũng có. Những thú lớn như: báo, hổ, nai, bò rừng, trâu rừng, tê giác, voi thì chỉ một số địa bàn mới có. Riêng tê giác và voi hiện nay không còn, chỉ còn dấu tích của chúng với những câu chuyện truyền miệng của dân gian để lại như: nà luốc chạng (ruộng thung voi), vung hét (ao tê giác). Đó là những nơi mà trước đây voi, tê giác thường đến ăn cỏ, uống nước, tắm mát. Nay chúng không còn, chỉ để lại dấu tích là vết ruộng, ao hồ mà người dân ở địa phương đã đặt tên cho chúng.

Nai, bò tót, bò rừng cũng có thói quen uống nước tập trung ở một số nơi nhất định. Dù đi đâu về đâu cứ đến ngày đến tháng chúng tập trung về nơi chúng ưa thích để uống nước tắm mát. Do đó nhân dân địa phương đã đặt tên các địa danh chúng hay đến như: Pung ngùa (đầm bò), pung quáng (đầm nai). Trước đây những nơi này các thợ săn thường nhớ quy luật chúng sinh hoạt mà đến phục sẵn để săn rất hiệu quả.

Trước thập niên 70 của thế kỷ XX, các loại bò tót, bò rừng còn sống tập trung thành đàn ở Pù Khạn, xã Trung Thượng, bản Đe Nọi, xã Trung Tiến, bản Pa, xã Tam Thanh, bản Xa Mang, xã Sơn Điện, bản Yên, xã Mường Mìn, suối Cài, bản Cha khót, xã Na Mèo, suối Lế, xã Mường Mìn, bản Xia Nọi, Mùa Xuân, xã Sơn Thủy, Nong Uân, Pha Đón, xã Sơn Điện. Hiện nay, ở các địa bàn này đã vắng bóng các thú lớn. Vào khoảng tháng 10 năm 2002 có con trâu rừng khoảng 700kg từ Pha Đón theo đàn trâu nhà của bản Ngàm, xã Sơn Điện về bản. Do thấy nhiều người nên trâu chạy thục mạng lao vào dây chăng điện bị chết. Từ đó đến nay không còn bò tót, bò rừng, trâu rừng xuất hiện.

- Động vật không xương

Trùng chân giả (Sên), tiếng Thái gọi là Tô lịn má: Di chuyển bằng chân giả (dùng chất nhờn của thân để di chuyển). Nơi chúng đi qua kéo thành vết nhựa màu bạc kết dính. Thân chúng dẹt như lưỡi chó nên đồng bào Thái gọi là “tố lịn má” (con lưỡi chó).

Trùng chân giả (Sên) sống cả trong rừng, vườn cây, vườn rau, nơi ẩm ướt, dưới thảm mục... không có nọc độc, thức ăn của chúng là thảm mục, thực vật, do vậy chúng thuộc loại động vật có hại cho cây trồng.

Cuốn chiếu, tiếng Thái gọi là tố cớ: Cuốn chiếu là loại động vật chân kép (nhiều chân): mỗi đốt thân có 2 cặp chân. Dao động mỗi con có 40 - 400 chân. Trên thế giới có 10 nghìn loài cuốn chiếu, ở Việt Nam có khoảng 8.000 loài. Loài cuốn chiếu lớn nhất của Thế giới ở Châu Phi có 750 chân. Ở Quan Sơn có các loài cuốn chiếu tròn, nhiều chân như: “tố cớ” cuốn chiếu tròn, “tố cớ pén” cuốn chiếu dẹp hình ngắn hơn và nhiều loài cuốn chiếu khác. Loài cuốn chiếu là động vật ăn vụn hữu cơ. Cũng có khi chúng ăn cả mầm non mới mọc như mầm lúa, mầm ngô, khoai, rau... Do đó, chúng góp phần gây hại cho cây trồng.

Ốc rừng: Ốc ở Quan Sơn có cả trên rừng tự nhiên (nhất là núi đá) rừng trồng, vườn cây, bãi cỏ, dưới ao hồ, sông suối. Ốc ở Quan Sơn có nhiều loài với hình dáng, kích thước khác nhau, nhiều loài ăn ngon, bổ. Nhất là ốc ở các sông và suối lớn.

Ốc núi, tiếng Thái gọi là “tô hoi pù, hoi pha”, đồng bào ít ăn, chỉ mang về chăn nuôi lợn, ếch, cá trê lai hoặc bắt để diệt tránh chúng phá hoa màu. Ốc sống dưới ao, hồ, ruộng có hình hơi tròn, vỏ mỏng, thân to hơn ốc sông suối. Tiếng Thái gọi là “hoi na” (ốc ruộng). Loài này đồng bào thường bắt về ăn. Nhưng trước khi ăn phải ngâm nước gạo 1 buổi để thải bùn và tạp chất ra ngoài. Ốc sông suối: mình nhỏ và dài, loại có gai, có loại trơn, vỏ cứng. Loài này đồng bào thường bắt về chế biến thành nhiều món ăn rất ngon, bổ. Hiện nay, do sông suối bị ô nhiễm nguồn nước, chỗ chúng ở bị đất bùn phủ lấp nên ốc sông suối không còn nhiều, chỉ nơi nào nước không bị ô nhiễm, sông suối nước trong thì ốc mới còn.

Rết, tiếng Thái là (tố khệp phan). Rết là động vật không xương, chân kép, mỗi đốt thân chúng mọc chân ra 2 bên (mỗi đốt một cặp chân) khác với cuốn chiếu mỗi đốt thân 2 cặp chân. Cuốn chiếu di chuyển chậm chạp thì rết di chuyển rất nhanh nhẹn, linh hoạt (có thể tiến lùi) rất nhanh. Đồng bào Thái đặt tên rết là “khệp phan” vì đầu chúng giống con bét (tô khệp) đầu bét có 2 răng vòng như rết. Rết có thân nâu xậm như con hoẵng chân vàng. Rết có nọc độc, khi bị rết cắn người dân địa phương thường lấy nước bọt gà (được gà mái đang ấp trứng càng tốt) bôi vào vết thương sẽ mau khỏi.

Rết có các cặp chân nhưng thường là số lẻ: 13, 15, 17... cặp. Phần lớn các loài rết có từ 30 - 50 chân, còn bộ rết Geophilomorpha có nhiều chân hơn, có thể đến 350 cái (175 cặp chân). Rết có chiều dài thân hình khi thành thục khoảng 30cm. Hiện trên thế giới có khoảng 8.000 loài rết, trong đó có 3.000 loài đã được mô tả. Ở Việt Nam cũng có nhiều loài rết bao gồm rết nhà, rết rừng, rết có thân màu vàng sậm, chân vàng, có loại thân màu xanh, chân vàng hay còn gọi là rết xanh. Rết xanh nọc độc mạnh hơn rết vàng.

Rết thường sống trên cạn: dưới thảm mục, hốc cây, hốc đất đá, chui vào ống nứa, vầu, đống quần áo, chăn màn, dưới chiếu... sau những cơn mưa rào rết từ các kẽ đá, kẽ đất, dưới lớp lá khô do không chịu được nước thường ra đi tìm nơi trú ẩn, vào cả nhà để trú. Do vậy, khi có mưa phải chú ý đề phòng rết vào nhà, nhất là mùa hè (tháng 4 - 6). Do vậy, đồng bào Thái thường ở nhà sàn để tránh rắn, rết vào nhà.

Ong: Rừng Quan Sơn có nhiều loài ong. Trong đó, ta có thể phân chia thành 2 ngành: ong có mật (ong mật) và ong không có mật. Ong mật thường có 4 loài:

Ong mật - tiếng Thái là “tố châng” loài này thường làm tổ trong hốc cây, hốc đất, kẽ đá... con người hay đem về nuôi. Chúng có thân hình ngắn, bẹp màu vàng, có khoang đen, mỗi đàn có vài ngàn con. Đây là loài ong có lợi bởi hoạt động của chúng giúp thụ phấn cho cây, làm mật cung cấp cho con người một sản phẩm quý. Ong mật khi đốt vào vật chủ thường bị đứt rốn, kim châm cắm lại vật chủ.

Ong khoái - tiếng Thái là “Tố phấng” (phứng). Loài ong này thường làm tổ trên cành cây, vòm núi đá. Thân chúng tròn và dài, lớn hơn ong mật nuôi. Loài này cũng làm mật nhưng không nuôi được. Tổ chúng thường lớn và cho nhiều mật hơn ong mật nuôi. Mỗi đàn có đến hàng vạn con, nhiều nhất có đến 50 ngàn con. Chúng có màu nâu đen, một con có thể đốt vật chủ nhiều lần mà không bị đứt rốn và hung dữ, đốt đau hơn ong mật nuôi.

Ong muỗi - tiếng Thái là “tô mịn”. Loài này có màu đen, thân nhỏ, mỗi đàn có vài trăm con. Tổ của chúng thường làm ở cành cây, lá cây tầm thấp, mật ít, mỗi tổ chỉ được khoảng 650ml mật. Mật loài ong này rất quý vào loại tốt nhất trong các loại mật ong ở Quan Sơn.

Ong muỗi nhỏ - tiếng Thái là “tố khỉ sút”. Loài ong này rất hiếm, chúng có thân hình bé, màu đen, rất hiền. Chúng thường làm tổ ở kẽ đá, hốc cây, trong ống nứa, vầu khô, mỗi đàn vài chục con. Mật của loại ong này đặc quánh, thơm, có màu vàng nâu, vị chua ngọt. Sáp tổ của chúng rất dẻo, có màu đen, thơm dịu. Phụ nữ Thái thường lấy sáp của chúng dùng trong dệt vải (lăn sợi) để sợi bền khó đứt.

Trong một đàn ong loài nào cũng vậy, gồm có: ong cái, ong đực, ong thợ kiêm bảo vệ tổ. Việc xây dựng tổ và nuôi đàn do ong thợ đảm nhiệm, ong thợ là ong cái nhưng không có khả năng sinh sản, thân hình chúng vào loài nhỏ nhất trong đàn.

Ong chúa, con to nhất trong tổ là ong chúa (ong cái) có thân hình lớn, dài, cánh ngắn, chuyên làm nhiệm vụ đẻ trứng cho đàn. Mỗi đàn ong chỉ có một ong chúa. Nếu trong tổ ong mà phát sinh 2 ong chúa trở lên thì chúng sẽ chia đàn, việc chia đàn thường vào mùa xuân, ong chúa sống được khoảng 3 - 5 năm thì chết.

Ong đực, nhỏ hơn ong chúa, to hơn ong thợ, số lượng ít hơn ong thợ. Mỗi tổ ong chỉ vài chục đến vài trăm con ong đực. Ong đực làm nhiệm vụ giao phối với ong chúa, ong đực thường xuất hiện vào mùa hè và chỉ sống được 1, 2 tháng. Sang mùa thu, khi hoàn thành việc giao phối thì chúng bị đuổi ra khỏi tổ và chết do bị bỏ đói.

Ong thợ là ong cái vô sinh, có thân hình nhỏ hơn ong chúa và ong đực. Là lực lượng đông nhất trong đàn, chúng rất siêng năng, cần mẫn làm việc, vừa xây tổ kiếm ăn, tạo mật cho đàn vừa bảo vệ đàn, ong thợ sống được 2 - 6 tháng tuổi.

Ong không mật: thường to hơn ong mật và có nọc độc mạnh, có nhiều loài ong khác nhau. Ở Quan Sơn thường gặp các loại ong không mật là:

- Ong vò vẽ: tiếng Thái là “tố to vao”, thân và bụng thon có khoang đen xen kẽ màu vàng, to, dài hơn ong mật. Đầu của chúng rộng bằng ngực, không nhẵn, có nhiều nốt rỗ lấm chấm nhỏ, lông tơ cứng, ngắn và thưa. Là loài ong hung dữ và đốt rất đau. Ong vò vẽ thường làm tổ nơi lộ thiên, cành cây cao không có lá (nếu cành còn lá chúng sẽ cắn trụi trước khi làm tổ). Tổ ong vò vẽ gồm nhiều lớp, vật liệu làm tổ của chúng chủ yếu là phân trâu, bò khô, lá khô, tổ tròn như quả bóng, quả bưởi, bắp cải, có nhiều lỗ xuôi xuống, nhìn bề mặt nhăn nhúm như mặt qủy nên một số người còn gọi chúng là ong mặt qủy. Ong vò vẽ là loài ăn côn trùng, ấu trùng nhện, ấu trùng loại ong khác. Chỉ có ong thợ mới đốt người và động vật để tự vệ và tranh con mồi. Do vậy thấy tổ ong vò vẽ phải tránh xa hoặc khi chúng đang bắt mồi, ăn mồi không được tấn công chúng. Nếu không chúng sẽ kéo cả đàn đến tấn công đối phương rất dai dẳng quyết liệt. Đến mức lặn xuống nước, chui vào màn cũng không tránh đựơc chúng đốt. Ong vò vẽ thường bị thu hút sự chú ý và tấn công người khi mặc quần áo có màu sặc sỡ bị chúng phát hiện, hoặc gây tiếng động ồn ào gần tổ của chúng, đụng đến tổ và thân của chúng. Khi bị ong đuổi, người ta lấy cành cây, lá chuối tủ vào người, nằm yên chúng sẽ bay qua.

Người dân địa phương thường lấy tổ ong vò vẽ về ban đêm. Bằng cách mặc nhiều đồ bảo hộ che kín người, đem lửa đốt tổ của chúng, đồng thời đốt một đống lửa ở gần tổ để chúng lao vào lửa mà chết. Sở dĩ làm như vậy vì về ban đêm ong vò vẽ thường vào trong tổ ẩn náu, chỉ có vài con ở ngoài canh tổ. Do đó, khi đốt vào tổ chúng không kịp ra sẽ bị chết, những con ở ngoài thấy đống lửa lao vào bị thiêu chết. Tổ của chúng là vật liệu dễ cháy nên thuận lợi cho việc đốt tổ ong vò vẽ. Nhộng ong vò vẽ ăn ngon, ong già ngâm rượu làm thuốc chữa viêm khớp rất tốt.

Ong đất: Còn gọi là ong bắp cày. Ong đất - tiếng Thái gọi là “tô to đín” (tô to khúm), “to mú xi”. Ong đất to hơn ong vò vẽ, thân khoang đen không vàng, có loài thân vàng chấm đen (màu vàng nhiều hơn màu đen) tiếng Thái gọi là “to lương nàng”. Đầu của chúng có 2 râu màu nâu nhạt, râu không có lông. Thân chúng có lông, đầu và ngực có nhiều lông tơ màu vàng. Ong đất cũng có nhiều loài: Có loài làm tổ dưới đất (to khúm), có loài làm tổ ở cành cây sát đất (to mú xi). Loài làm tổ dưới đất có thân to hơn, màu vàng nhiều hơn, hung dữ và đốt đau hơn, tổ lớn đàn đông. Có tổ đến 10 tầng, riêng con nhông (ong non) có thể đến 10kg 1 tổ, ong trưởng thành vài ngàn con một tổ. Loài ong đất làm tổ treo cây hiền hơn, tiếng Thái gọi “to mú xi”, thân hình chúng nhỏ hơn ong ở dưới đất, có màu đỏ đen. Tổ chúng tròn như quả bóng, đàn thường chỉ vài trăm con đến ngàn con, nếu người, súc vật không đụng đến chúng thì chúng không tấn công. Người dân địa phương thường đi bắt ong đất cả 2 loài lấy nhộng để ăn, ong già về ngâm rượu làm thuốc chữa các bệnh sưng cơ, viêm khớp, đau lưng.

Ong bầu: tiếng Thái là “tô to lánh” (ong đỏ). Tổ ong bầu cũng giống tổ ong đất treo cây nhưng nhỏ hơn, mỗi đàn ong bầu chỉ vài chục đến vài trăm con. Ong bầu đốt không đau bằng ong đất, ong vò vẽ. Tổ ong bầu thường làm trên cành cây, trong vườn, trong rừng, trên mái nhà...

 Ong vàng: tiếng Thái là “tô ten lướng” (ten bỏng). Loài ong này có thân nhỏ hơn ong đất, ong vò vẽ, ong bầu, toàn thân chúng có màu vàng. Thường làm tổ ở gốc cây, cành cây, bụi rậm, mái nhà, trong ống nứa, vầu luồng khô. Loài ong này đốt đau không bằng ong đất, ong vò vẽ, ong bầu. Mỗi đàn ong vàng thường có vài chục con đến khoảng một trăm con.

Ong ký sinh: là loài ong nhỏ có lợi cho cây trồng vì chúng bắt côn trùng, đẻ trứng vào ấu trùng sâu, rầy hại lúa, diệt bớt sâu bệnh hại cho cây trồng. Chúng có một số loài sau:

Ong xanh: sống trên ruộng nước và ruộng cạn. Mỗi con ong cái có thể đẻ 10 - 15 con vào ấu trùng của sâu đục thân, sau đó ong non phát triển ăn hết ấu trùng của sâu đục thân.

Ong ký sinh trứng bọ xít nước: Là loài ong ký sinh trên trứng của bướm và bọ xít. Ong ký sinh rất khôn ngoan khi tấn công trứng bướm và bọ xít. Mặc dù bọ xít bảo vệ trứng của chúng rất nghiêm ngặt, khi bị ong tấn công dần dần trứng bọ xít, trứng bướm sẽ bị ong ký sinh hủy hoại.

Ong ký sinh trứng rầy lúa: Có 5 loài ong ký sinh trứng rầy lúa. Trứng rầy lúa khi bị ong ký sinh tấn công sẽ không phát triển thành rẫy được nữa.

Ong ký sinh trứng và nhộng: Loài ong này sống bằng trứng của sâu đục thân, bướm 2 chấm và nhộng của sâu cuốn lá lớn, chúng đẻ một trứng vào trứng ký chủ và từ 20 - 50 trứng vào nhộng ký chủ làm cho trứng và nhộng của ký chủ bị hủy hoại.

Ong đa phối ký sinh sâu cuốn lá nhỏ: Loài ong này thường tìm trứng sâu cuốn lá nhỏ ở cả ruộng nước, ruộng khô (rẫy lúa). Ong ký sinh đẻ trứng lên trứng và sâu non của sâu cuốn lá nhỏ, dần dần ăn hết ký chủ. Trứng ong cắt nhiều lần có 200 - 300 ong non có thể sinh ra từ vài trứng ong.

Ong cự khoang ký sinh sâu đục thân: Là loài ong thường xuất hiện ở ruộng nước chuyên ký sinh sâu đục thân 2 chấm và sâu đục thân mình trắng. Chúng đẻ trứng vào trứng ký chủ. Khi ong non nở trong ký chủ sẽ làm chết ký chủ.

Ong ký sinh sâu đục thân 2 chấm: Ong có màu đen, nhỏ, tấn công trứng và sâu đục thân 2 chấm.

- Động vật lưỡng cư

Loài ếch nhái: Thường sống trong những hốc đá, kẽ đất, dưới thảm mục, thảm tươi ven suối, ven các ao đầm trong rừng. Khi có sự đe dọa đến tính mạng thường nhảy xuống nước chui vào đám rác, hốc đá, bùn đất... để ẩn náu. Ếch nhái thường kiếm ăn về ban đêm, ban ngày trú ngủ nơi ẩn náu. Do vậy nhân dân địa phương thường đốt đuốc hoặc mang đèn đi soi ếch ở các khe suối, bờ ruộng, bờ ao, bên hồ nước, bãi bằng, sau cơn mưa rào chúng ra kiếm ăn nhiều về đêm. Một số như ếch xanh, chão tràng, nhái bầu, ếch có thể sống trên cây.

Ếch vạch (cộp ho), ếch nhẽo (cộp mứn), ếch xanh (tô xa lông) thường ở trong khe suối, nơi rừng già; nhái bén, chão tràng, nhái bầu thường ở gần đầm nước. Vào mùa sinh sản chúng tập trung thành đàn rất đông. Nhân dân đi bắt cả ban ngày, ban đêm có khi được hàng chục kilôgam nhái bầu (tô chóe).

Ếch nhái thường sinh sản bằng trứng chùm dưới nước hoặc trên cành cây ven ao, hồ, sông suối vào tháng 5, 6 đầu mùa mưa hằng năm. Trứng nở nòng nọc, nòng nọc lớn lên có chân, rụng đuôi lên bờ thành ếch, nhái. Ở nước ta hiện đã ghi nhận được 82 loài thuộc 9 họ, 3 bộ ếch nhái thì rừng Quan Sơn cũng gần như xuất hiện đủ các loại ếch nhái của Việt Nam. Tuy nhiên, do bị săn bắt nhiều (cả trứng và cá thể), phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nên ếch nhái trong rừng cũng như ngoài ruộng, ao hồ đã sụt giảm nhiều. Trong đó, nhiều loài gần như tuyệt chủng.

Loài bò sát: Bò sát thường sống trên cạn, một số sống được cả dưới nước, trên cây. Riêng rùa núi chỉ sống trên cạn, kỳ nhông, kỳ đà, rắn có thể ở cả trên cạn, dưới nước, trên cây. Nhất là loài kỳ nhông, tắc kè, môi trường sống chủ yếu là trên cây. Ba ba chủ yếu sống dưới nước. Chu kỳ sinh hoạt của bò sát cả ngày lẫn đêm, nhiệt độ thích hợp nhất là 18 - 400C, vào mùa rét nhiệt độ xuống dưới 180C bò sát ít hoạt động, vào hang ẩn nấp. Các loại rắn hổ, rắn xanh ít xuống nước. Trăn, rắn ăn no có thể ngủ một chỗ từ 4 - 7 ngày mới ra khỏi nơi ẩn nấp để đi kiếm ăn trở lại. Trăn nếu ăn được con mồi lớn thì ngủ dài ngày hơn.

Ở Quan Sơn có loài thằn lằn xanh rất dễ nhiễm điện. Người dân thấy thằn lằn xanh khi trời dông, bão, sấm chớp sắp mưa thường tránh xa chúng để khỏi bị sét đánh ảnh hưởng đến mình.

Bò sát thường đẻ trứng vào ổ, sau khi đẻ chúng ấp trứng (canh trứng) nhất là hổ mang, hổ chúa. Nên mùa tháng 5, 6, 7 người đi rừng phải hết sức cẩn thận đề phòng gặp rắn hổ mang, hổ chúa canh trứng tấn công thì rất nguy hiểm. Trong thời kỳ canh trứng các loại bò sát rất hung dữ (nhất là rắn), khi thấy rắn phải tránh xa.

Trong các loại bò sát, thì rắn dùng hình thức lột xác để tăng trưởng cơ thể. Cứ sau một lần lột xác là một lần chúng tăng trọng lượng, chu kỳ lột xác mỗi năm một lần vào mùa hè là chủ yếu. Chúng có thể lột xác trên cây, dưới đất, trong hang hốc, bụi rậm...

Rắn hổ mang cổ vàng, hổ chúa thường sống ở rừng sâu trong hang hốc kể cả hốc đất, hốc cây, hốc đá tự nhiên hoặc do chuột, nhím đào để lại, trong bụi nứa, vầu, bụi rậm....

Trăn có 2 loại: Loại trăn đất có trọng lượng lớn nhưng hiền hơn trăn gió. Chúng thường sống kiếm ăn dưới đất. Loại trăn gió có trọng lượng nhỏ hơn nhưng hung dữ hơn thường sống bám trên cây khi có người hoặc con mồi đi qua chúng lao xuống cuộn bắt mồi. Cả 2 loại trăn đều ăn thịt, mồm chúng rất rộng, bụng dãn mạnh. Một con trăn có trọng lượng khoảng 20kg có thể nuốt được con hoẵng 30 - 40kg vào bụng. Trăn, rắn ăn không nhai mà nuốt luôn mồi vào bụng sau đó nằm chờ miếng mồi tiêu hóa.

Rùa núi sống trong rừng, cả rừng sâu, rừng già, rừng thứ sinh. Chúng ăn măng, lá cây, tổ mối, cây mục, côn trùng, thực vật rừng. Rùa núi thường ẩn nấp dưới gốc cây, thảm mục, hang đá, hốc đất. Thường đi kiếm ăn vào ban ngày. Trước đây rừng Quan Sơn có 3 loài chủ yếu là: Loài rùa mốc trọng lượng lớn hơn rùa vàng, dân địa phương gọi là rùa đá (tau phá), loài rùa vàng (tau khằm) nhỏ hơn rùa mốc nhưng có giá trị kinh tế cao hơn. Loài thứ 3 là rùa có đuôi (tô cặp coong) nhỏ hơn rùa vàng, có mùi khét nên nhân dân ít dùng đến chúng. Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, các loại rùa núi ở Quan Sơn bị săn bắt nhiều nên cá thể và loài còn lại rất ít.

 Kỳ đà: Ở rừng Quan Sơn có 2 loài chủ yếu là kỳ đà hoa và kỳ đà mốc. Kỳ đà mốc to hơn, có con trọng lượng đến 20 - 25kg. Kỳ đà thường kiếm ăn ở khe suối, ao đầm trong rừng. Kỳ đà thường sống ở rừng thứ sinh, ít gặp kỳ đà ở rừng nguyên sinh, rừng già.

Loài chim: Ở Quan Sơn trước đây có rất nhiều loài chim, họ và cá thể. Hiện nay tuy đã suy giảm nhưng do diện tích rừng lớn, cây rừng nhiều tạo thức ăn cho chim nên cả loài, họ và cá thể chim vẫn còn khá nhiều. Tuy nhiên, cũng có loài bị tuyệt chủng như: Loài công hiện nay rừng Quan Sơn không còn. Các loài chim khác cũng giảm nhiều về lượng cá thể. Một số họ như gà lôi, trĩ, hồng hoàng, quạ thi thoảng mới thấy xuất hiện. Phần lớn chim thích sống ở rừng thứ sinh, chỉ một số ít như công, trĩ, hồng hoàng mới sống ở rừng già.

Họ chim lặn: Ở Quan Sơn thường thấy loài két. Loài két có lông màu xám hồng, mỏ bẹp như vịt, thường đi ăn ở sông suối ao hồ, lặn dưới nước kiếm mồi. Tiếng Thái địa phương gọi là (tố pệt poong), chim có trọng lượng cá thể khoảng 0,5 - 0,6 kg/con. Họ cò: cò trắng, cò nâu, cò mốc trong đó cò trắng có số cá thể nhiều hơn. Bộ gà: trĩ, gà rừng. Bộ ngỗng: vịt trời (vịt rừng) tuy không nhiều nhưng một số cá thể vẫn thường xuất hiện. Bộ cắt: họ ó, họ ưng, tù tì, đại bàng. Bộ sếu: cun cút, sến, thi thoảng vẫn xuất hiện ở Quan Sơn. Bộ rẽ: gà lôi, choi choi. Bộ bồ câu: bồ câu xám, trắng, xanh (bồ câu nhà và bồ câu rừng). Bộ cúc cu: cúc cu gáy, cúc cu xanh (cúc cu đất), cúc cu xám cổ hoa (nộc pung). Bộ cú: cú mèo, cú lợn. Bộ sả: bói cá xanh, bói cá xám, họ đầu rùi. Họ hồng hoàng có 3 loại: hồng hoàng cổ vàng (nộc cộc khằm), hồng hoàng cổ trắng (nộc ngách), hồng hoàng đen (nộc mè). Họ gõ kiến thường gặp có 2 loài: loài màu nâu có mào, loài lông xám cổ hoa có mào, cả 2 loài có mỏ dài, khỏe. Họ xẻ: có nhiều loài sống thành từng đàn. Họ sáo có: sáo đen (nộc yếng keo), sáo khoang (nộc yếng lang), yểng (nộc yếng khằm viền vàng ở cổ, mỏ vàng).

Trong rừng Quan Sơn có nhiều loài chim, một số loài chim hiện còn tồn tại với số lượng đông, một số loài còn lại ít, một số loài đã thưa thớt. Những năm 60 của thế kỷ XX trở về trước, chim rừng ở Quan Sơn rất nhiều về họ và cá thể. Vào mùa sinh trưởng từng đàn sáo, yểng đông đến hàng ngàn con bay trên bầu trời, chúng đậu đen ở những cây đa, cây si mà chúng thường ăn quả. Từng đàn hồng hoàng (nộc cộc, nộc ngách, cộc mè) đông vài trăm con bay đến rừng cọ, rừng kè, cây trám đen, cây si ăn quả. Khướu cũng bay hàng đàn vài trăm con quanh bản, gà rừng ra ăn chung với gà nhà là chuyện thường thấy.

Đến nay, do rừng nguyên sinh giảm đi, một số cây rừng mà chúng thường ăn quả không còn, thức ăn bị thiếu, hơn nữa nhiều phương tiện săn bắt do đó một số loài chim cũng thưa dần và biến mất. Hồng hoàng, quạ đen rất hiếm, thi thoảng mới thấy vài con bay đến, công không còn. Khướu, sáo cũng bị bắt bán cho người chơi chim cảnh nên số lượng đàn và cá thể bị giảm nhiều so với trước.

Nhận thấy điều này, những năm gần đây huyện Quan Sơn đã có nhiều biện pháp hạn chế việc săn bắt chim thú như thu hồi súng săn, cấm không được dùng lưới bắt chim, cấm làm bẫy chim, bẫy thú. Đây cũng là việc làm bảo vệ môi trường sinh thái mà Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn đang rất quan tâm, để vừa nâng cao độ che phủ rừng, làm giàu rừng không chỉ riêng thực vật mà cả động vật cũng cần được hồi sinh, phát triển.

1.8. MÔI TRƯỜNG

1.8.1. Môi trường nước

Nước rất cần thiết cho sự sống của con người. Đủ nước thì con người khỏe mạnh, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu. Do đó, trong nhiều nghìn năm lịch sử, dân gian đã trân trọng, linh thiêng hóa nước, thấy rõ sự tối cần thiết của nước, tác dụng tích cực của nước và cũng thấy cả tác hại của nước và tìm các biện pháp hạn chế tác hại ấy; dân gian cũng có những quy định để bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và nguồn nước sản xuất.

Với hai con sông chính là sông Lò, sông Luồng và hàng trăm con suối tự nhiên cùng nhiều ao, hồ, hón. Quan Sơn là huyện có diện tích mặt nước phong phú. Nguồn tài nguyên này đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

Về cơ bản nguồn nước của Quan Sơn vẫn còn sạch và đạt các tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Tuy nhiên, tại một số khu vực và ở một số thời điểm nhất định, nguồn nước cũng đã bị ô nhiễm. Vào mùa mưa, nguồn nước có hàm lượng phù sa quá cao cũng ảnh hưởng đến nguồn nước sử dụng. Ô nhiễm nhiều nhất là tại các bồn chứa nước thải tù trong các khu phố. Tại thị trấn Quan Sơn tuy chưa có những phân tích hàm lượng độc tố trong nước sông Lò và nước ngầm, song nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ khá lớn cho thấy nguồn nước ở đây cũng bắt đầu bị ô nhiễm trong mùa khô.

Trên diện rộng, từ vài thập kỷ gần đây, do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt và việc sử dụng các loại phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ đã làm cho nguồn nước mặt bị ô nhiễm ở một số khu vực với mức độ khác nhau. Việc các tổ chức và cá nhân mở nhiều con đường vào rừng lấy lâm sản và phục vụ dân sinh kinh tế đã làm mất nhiều rừng, phá vỡ sinh thái rừng, một số khu rừng bị xâm hại, đất đá vùi lấp sông suối làm ảnh hưởng ô nhiễm môi trường. Nước sông Lò, sông Luồng và nhiều dòng suối khác bị đục. Do đó, nguồn cá tự nhiên ở sông suối bị giảm đi rất nhiều. Trước đây, các loài cá dốc sông Lò, sông Luồng từng đàn bơi lội ở các vũng nước sâu, có con to đến 10 - 12kg thì nay hầu như không còn; cá ké, cá lăng, cá chày còn rất thưa thớt không đáng kể. Các sông suối trước đây xanh trong, nay nước đục quanh năm, cá tôm không còn nhiều.

1.8.2. Môi trường không khí

Môi trường không khí ở Quan Sơn nói chung còn trong lành, trừ một số khu vực có hoạt động công nghiệp. Tình trạng ô nhiễm không khí ở Quan Sơn đến nay vẫn chưa đến mức báo động như ở các đô thị, các khu vực tập trung công nghiệp hay đầu mối giao thông.

Tuy nhiên, tại Quan Sơn cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố gây ô nhiễm không khí như đốt rẫy (nếu có), cháy rừng, giao thông, sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp và lâm nghiệp, khói của các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng tại các khu vực đông dân như thị trấn Quan Sơn, Cửa khẩu Na Mèo và các tụ điểm kinh tế - xã hội của các xã. Nhất là một số xưởng chế biến luồng, nứa, vầu, hun sấy đũa luồng, tăm mành, nan cật nứa vầu nếu không chú ý đến bảo vệ môi trường sẽ làm ô nhiễm không khí và ô nhiễm cả nguồn nước. Vì thế các hoạt động sản xuất cần có các giải pháp để hạn chế các nguồn gây ra ô nhiễm không khí.

Huyện Quan Sơn đã có quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, đây là cơ sở tốt để phát triển rừng trên địa bàn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Từng chủ rừng, hộ dân được giao đất lâm nghiệp cần chú ý canh tác thâm canh nâng cao chất lượng rừng, phục hồi rừng, làm giàu đất. Kể cả bón phân cho luồng, nứa, vầu để chống suy thoái nghèo kiệt tài nguyên. Bố trí cây trồng hợp lý, đa dạng, vừa trồng rừng thuần loài vừa trồng rừng hỗn giao cây thân gỗ để tăng độ sinh thủy, làm giàu đất. Giảm trồng luồng thuần loài vì hiện nay diện tích luồng đã nhiều (trên 8.465ha) để trồng vầu, nứa, cây thân gỗ như xoan, lát, keo, dổi, sưa. Rừng luồng làm khô đất, nghèo đất, lá luồng độc cho đất và cây trồng khác. Do vậy cần xem xét cân đối diện tích trồng luồng. Tập trung nhiều biện pháp hữu hiệu để bảo vệ rừng phòng hộ, nhất là phòng hộ đầu nguồn.

*

Từ những nội dung đề cập trên đây cho thấy, Quan Sơn có sự tổng hòa các yếu tố tự nhiên và có vị trí chiến lược quan trọng, là của ngõ phía tây tỉnh Thanh Hóa, của Quân khu 4 và cả nước, là đầu mối giao thương chính giữa hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa Phăn (Lào).

Điều kiện tự nhiên không những chỉ tạo thế mạnh cho sự phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch, mà điều kiện đất đai thổ nhưỡng ở Quan Sơn còn tạo điều kiện cho nơi đây phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng cùng với một nền nông nghiệp truyền thống. Bên cạnh các loại đất khá phổ biến ở vùng núi Quan Sơn, nếu được nghiên cứu đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển các loại cây trồng có giá trị của vùng nhiệt đới.

Quan Sơn xứng đáng được chọn là địa bàn quan trọng thu hút đầu tư phát triển kinh tế với các khu chế xuất, khu trung tâm thương mại, cửa khẩu Quốc tế, du lịch. Song song với phát triển, Quan Sơn cần chú ý tới giải pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường đất và nước để những tiềm năng về điều kiện tự nhiên ngày càng phát huy được giá trị, mang tới cho vùng đất này sự phồn vinh bền vững.


Các bài viết gần đây

Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 2
 Hôm nay: 151
 Tổng số truy cập: 508416
  • Bản quyền © Huyện Quan Sơn
  • Địa chỉ: Thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Email: bbtquanson@gmail.com - ĐT:0942.530.693
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa
  • Ghi rõ nguồn tin: "huyenquanson.vn" khi phát lại thông tin từ Cổng TTĐT