Trang chủ   /   Dư Địa Chí Huyện Quan Sơn   /   Chương 2 ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, DÂN CƯ
Chương 2 ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, DÂN CƯ
2.1. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUAN SƠN QUA CÁC THỜI KỲ

2.1.1. Huyện Quan Sơn trước ngày thành lập
Huyện Quan Sơn trước năm 1996 là tuyến 217 của huyện Quan Hóa. Đây là vùng núi cao, giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, xa xưa ít được khai phá, việc quản lý hành chính từ thời Lê - Trịnh về trước còn lỏng lẻo, hầu như chưa vươn tới(1).
Thời thuộc Hán là miền đất cực tây huyện Đô Lung; thời Tề, đổi tên Đô Lung thành Cát Lung.
Thời Đường: thuộc huyện Trường Lâm.
Thời Đinh, Lê, Lý: không thay đổi.
Thời Trần, Hồ: có thể thuộc huyện Nga Lạc, châu Thanh Hóa.
Thời Lê - Nguyễn: huyện Quan Hóa thực tế hình thành từ thời Lê - Nguyễn. Quá trình hình thành như sau:
Thời Lê, có tên châu Quan Da (do hợp nhất mường Chu Sàn và mường Chu Da), thuộc phủ Thanh Đô (bên cạnh các châu khác là châu Lang Chánh, châu Tàm, châu Sầm).
Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) cho hợp châu Tàm với châu Quan Da để lập ra châu Quan Hóa thuộc phủ Thọ Xuân. Châu Quan Hóa có từ đây. 
Theo Đồng Khánh địa dư chí: châu Quan Hóa từ thời Lý, Trần đến Lê sơ là sách Quan Da; năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông đổi là châu Quan Da, phủ Thanh Đô thuộc Thanh Hoa thừa tuyên. Các triều sau đều theo như vậy.
Năm Tự Đức thứ 3 (1850), đổi châu Quan Hóa thuộc phủ Quảng Hóa. (nay là huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa).
Châu hạt phía đông giáp huyện Cẩm Thủy, phía tây giáp huyện Trình Cố, phía nam giáp châu Lang Chánh, phía bắc giáp Mai Châu, tỉnh Hưng Hóa (tỉnh Hòa Bình ngày nay). Đông - tây cách nhau 154 dặm. Nam - bắc cách nhau 131 dặm.
Toàn châu có 6 tổng:
- Tổng Phú Lệ có 6 xã: Phú Lệ; Phú Nghiêm; Phú Nam; Phú Lễ; Phú Tán; Hồi Xuân.
- Tổng Lực Canh có 4 xã: Lực Canh; Lực Na; Vân Cung; Vân Lung.
- Tổng Cổ Nam có 5 xã: Cổ Nam; Cổ Động; Ái Thượng; Ái Trung; Ái Hạ.
- Tổng Đặc Kiệt có 4 xã: Đặc Kiệt; Đặc Hiền; Bất Căng; Bất Phạt.
- Tổng Hữu Thủy có 5 xã: Hữu Thủy; Sơn Trà; Hữu Xuyên; Trịnh Điện; Trịnh Xá.
- Tổng Quang Chiêm có 4 xã: Quang Chiêm; Khiêm Xung; Sơn Chinh; Sơn Hiên.
Theo Đồng Khánh địa dư chí, thời nhà Nguyễn, tổng Tam Lô (Lư) thuộc châu Lang Chánh gồm 5 xã: Hàm Lô; Thượng Lô; Trung Lô; Hậu Lô; Tuyết Lô nay thuộc vùng đất huyện Quan Sơn, bao gồm các xã: Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Hà, Sơn Lư, thị trấn Quan Sơn và một phần xã Trung Thượng. 
Tổng Hữu Thủy bao gồm 5 xã: Hữu Thủy; Sơn Trà; Hữu Xuyên; Trịnh Điện và Trịnh Xá, nay gồm các xã: Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn và Sơn Điện.
Tổng Cổ Nam bao gồm 5 xã: Cổ Nam; Cổ Động; Ái Thượng; Ái Trung; Ái Hạ thuộc châu Quan Hóa, nay thuộc huyện Quan Sơn, gồm các xã: Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân và Trung Tiến. Xã Cổ Động (nay là xã Nam Động) huyện Quan Hóa
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Châu Quan Hóa đổi thành huyện Quan Hóa với 32 xã và 01 thị trấn. Huyện Quan Hóa ổn định địa giới cho đến ngày 18 tháng 11 năm 1996. 
Sau đây là bản đồ các châu, phủ thời Đồng Khánh có vùng đất thuộc huyện Quan Sơn ngày nay.


 
Hình 1: Bản đồ vùng đất Quan Sơn thời Đồng Khánh( )

Bản đồ phủ Quảng Hóa
 
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ PHỦ QUẢNG HÓA
Thời Đồng Khánh, huyện Quan Sơn nằm trong châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa gồm 6 tổng (theo số đã chú thích trên bản đồ):
25. Tổng Quang Chiếu            26. Tổng Lực Canh
27. Tổng Đặc Kiệt            28. Tổng Cổ Nam
29. Tổng Phú Lệ                30. Tổng Hữu Thủy
*Địa giới
1. Phía đông giáp với huyện Tống Sơn và huyện Nga Sơn,
2. Phía tây giáp với huyện Trình Cố,
3. Phía nam giáp với huyện Yên Định và phủ Thiệu Hóa,
4. Phía bắc giáp với huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
* Đường đi
5. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía tây đến địa giới huyện Cẩm Thủy và châu Quan Hóa, lộ trình 5 ngày đường. 
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông nam đến Ngã Ba Bông qua địa giới 2 huyện Mỹ Hóa và Đông Sơn đến thành tỉnh, lộ trình 1 ngày đường.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía bắc qua huyện Thạch Thành đến giáp phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, lộ trình 1 ngày đường. 
6. Một đường Quan báo từ xã Ngọ Xá đến xã Ngọc Âu, dài 2 dặm, rộng 1 trượng.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông đến xã Ngọ Xá, lộ trình khoảng 1 ngày đường.
* Huyện - Tổng 
A. Huyện Vĩnh Lộc
7. Tổng Cao Mật                8. Tổng Bỉnh Bút
9. Tổng Nam Cai                10. Tổng Thanh Xá
11. Tổng Biện Thượng            12. Tổng Ngọ Xá
13. Sóc Sơn
B. Huyện Thạch Thành
14. Tổng Bỉnh Bút            15. Tổng Ngọc Động
16. Tổng Vân Lung            17. Tổng Trạc Nhật
18. Tổng Hòa Luật            19. Tổng Tự Cường (Cương)
C. Huyện Quảng Tế
20. Tổng Phú Ổ                21. Tổng Quảng Tế
22. Tổng Án Đổ                23. Tổng Cổ Biện
24. Tổng Trường Cát
D. Châu Quan Hóa
25. Tổng Quang Chiếu            26. Tổng Lực Canh
27. Tổng Đặc Kiệt            28. Tổng Cổ Nam
29. Tổng Phú Lệ                30. Tổng Hữu Thủy
E. Huyện Cẩm Thủy 
31. Tổng Quan Hoàng            32. Tổng Vân Trai
33.Tổng Điền Lư                34. Tổng Gia Dụ
35. Tổng Thiết Ống            36. Tổng Sa Lung
37. Tổng Cổ Lũng            38. Tổng Mông Sơn
39. Tổng Cự Lữ
* Khác 
40. Núi An Lão - tổng Hòa Luật        
41. Miếu Văn từ phủ huyện.
42. Núi Hí Mã - tổng Cao Mật        
43. Núi Hùng Lĩnh
44. Thành Nhà Hồ                
45. Núi Đốn Sơn        
46. Núi An Tôn                
47. Núi Mông Cù 
48. Núi Diệu Sơn - tổng Quan Hoàng    
49. Đông Lư Sơn - tổng Quang Chiếu
50. Một đoạn sông Mã từ thượng nguồn qua phủ hạt chảy đến Ngã Ba Bông chia làm 2 nhánh: một nhánh chảy ra cửa biển Bạch Câu, một nhánh đổ ra cửa biển Y Bích.
51, 52, 53. Từ ngã ba Bông chia 2 nhánh; một nhánh chảy ra cửa biển Bạch Câu, một nhánh chảy ra cửa biển Y Bích.
54. Núi Cốc Sơn - tổng Quảng Tế
 
Hình 2: Bản đồ châu Quan Hóa
 
 
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ CHÂU QUAN HÓA
* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Cẩm Thủy
2. Phía tây giáp với huyện Trình Cố
3. Phía nam giáp với huyện Lương Chính (Lang Chánh)
4. Phía bắc giáp với huyện Mai Châu, tỉnh Hưng Hóa.
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ châu hạt đến phủ lị, lộ trình đi khoảng 5 ngày đường. Lại từ phủ lị đến Ngã Ba Bông đi qua địa giới hai huyện Mỹ Hóa và Đông Sơn đến tỉnh thành, lộ trình đi 1 ngày đường.
Một đường nhỏ, phía đông từ xã Phú Nam đi sang phía tây đến đồn Quang Chiêm, lộ trình dài 7 ngày đường.
6. Một đường nhỏ, phía đông từ xã Phú Nghiêm đi sang tây đến xã Vân Lung, lộ trình 7 ngày đường.
Một đường nhỏ, phía đông nam từ xã Phú Nam đi sang tây nam đến xã Sơn Trà, lộ trình 5 ngày đường. 
* Tổng - xã:
A. Tổng Phú Lệ:
7. Xã Phú Nghiêm        8. Xã Hồi Xuân
9. Xã Phú Lệ            10. Xã Phú Lễ
11. Xã Phú Tán            12. Xã Phú Nam
B. Tổng Lực Canh:
13. Xã Lực Canh            14. Xã Vân Cung
15. Xã Vân Lung            16. Xã Lực Na
C. Tổng Cổ Nam:
17. Xã Cổ Nam            18. Xã Cổ Động
19. Xã Ái Thượng        20. Xã Ái Trung
21. Xã Ái Hạ
D. Tổng Đặc Kiệt:
22. Xã Đặc Kiệt            23. Xã Đặc Hiền
24. Xã Bất Phạt            25. Xã Bất Căng
E. Tổng Hữu Thủy:
26. Xã Hữu Thủy            27. Xã Hữu Xuyên
28. Xã Trịnh Ki            29. Xã Trịnh Xá
30. Xã Sơn Trà
G. Tổng Quang Chiêm:
31. Xã Quang Chiêm        32. Xã Sơn Chinh
33. Xã Sơn Hiên            34. Động Lư Sơn
35. Xã Khiêm Xung        36. 
* Khác:
37. Đồn Hồi Xuân - xã Hồi Xuân
38. Đồn Vụng Bể - xã Sơn Trà
39. Đồn Sơn Trà - xã Sơn Trà
40. Đồn Quang Chiêm - xã Quang Chiêm
41. Một đoạn sông Mã, phía tây từ xã Vân Lung chảy sang phía đông đến xã Phú Nghiêm dài 160 dặm, rộng 2 trượng, sâu khoảng 5,6 thước, nước thủy triều không lên đến. 
42. Đồn Đá Phản - xã Lực Canh
 
Hình 3: Bản đồ Phủ Thọ Xuân


 
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ PHỦ THỌ XUÂN
* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Thụy Nguyên và huyện Đông Sơn
2. Phía tây giáp với huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
3. Phía nam giáp với huyện Nông Cống
4. Phía bắc giáp với huyện Thụy Nguyên
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông, qua huyện Đông Sơn đến thành tỉnh, lộ trình 1 ngày đường. 
6. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía tây đến 2 châu, Lang Chánh và Thường Xuân, lộ trình dài khoảng 3 ngày đường.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía nam đến địa giới huyện Nông Cống, lộ trình dài 1 ngày đường.
* Huyện - tổng:
A. Huyện Lôi Dương:
7. Tổng Lôi Dương                8. Tổng Nam Cai
9. Tổng Kiên Thạch                10. Tổng Bất Náo
11. Tổng Diên Hào                12. Tổng Mục Sơn
13. Tổng Bái Đô                    14. Tổng Tam Lộng
15. Núi Nghiêu Sơn                16. Núi Mục        
17. Tổng Lôi Dương
B. Châu Thường Xuân:
18. Tổng Quân Nhân                19. Tổng Trịnh Vạn
20. Tổng Luận Khê                21. Tổng Như Lăng 
22. Núi Cửa Đạt
C. Châu Lang Chánh
23. Tổng Hoài Chính            24. Tổng Thiện Thổ
25. Tổng Nhân Sơn            26. Tổng Tòng Chính
27. Tổng An Thọ                28. Tổng Tam Lư (Lô)
29. Tổng Thuận Chính            30. Tổng Quy Chính
* Khác:
31. Núi Thiêm Sơn 
32. Núi Bầu Gió (Bù Gió)
33. Một đoạn sông Lương (Lương Giang) chảy từ 2 châu Lang Chánh và Thường Xuân xuống đến xã Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương.
34. Sông Cao (Cao Giang ) chảy vào sông Lương (Lương Giang )
35. Núi Bầu Doanh (Bù Dinh)
 
Hình 4: Bản đồ châu Lang Chánh
(có tổng Tam Lô - Tam Lư, nay thuộc huyện Quan Sơn)
 
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ CHÂU LƯƠNG CHÍNH (LANG CHÁNH)
* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Thụy Nguyên
2. Phía tây giáp với huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
3. Phía nam giáp với huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phía bắc giáp với huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ tổng Thuận Chính đến đồn Hàm Lư, tổng Tam Lư giáp với huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, lộ trình dài 5 ngày đường.
6. Một đường nhỏ từ xã Trí Nang, tổng Thiện Thổ đến đồn An Khương, tổng Tòng Chánh, lộ trình dài 5 ngày đường.
Một đường nhỏ từ xã Nhân Trầm, tổng Nhân Sơn lên phía bắc đến xã Tuy Tĩnh, tổng Quy Chính, lộ trình dài 2 ngày đường.
* Tổng - xã:
A. Tổng Hoài Chính:
7. Xã Hoài Chính            8. Xã Bàn Phỏng
9. Xã Đức Cái            10. Xã Chiếu Xung
B. Tổng Thuận Chính
11. Xã Đồng Lạc            12. Xã Tự Lạc
13. Xã Tâm Chính        14. Xã Trung Lương
C. Tổng Quy Chính:
15. Xã Tuy Tĩnh            16. Xã Chu Sơn
17. Xã Cần Ước            18. Xã Chính Mô
19. Xã Cảm Mộ            20. Xã Chính Mông
D. Tổng An Thọ:
21. Xã Lâm Luận            22. Xã Tuyết Lô
23. Xã Sơn Lô            24. Xã Thọ Nghĩa
25. Xã An Khương
E. Tổng Tòng Chính
26. Xã Xuân Lung        27. Xã Trang Vịnh
28. Xã Nhượng Bạn        29. Xã Đới Đức
30. Xã Đới Ân            31. Xã Văn Cú
32. Xã An Thạch            33. Xã Kim Luật
34. Xã Ban Chính
G. Tổng Nhân Sơn:
35. Xã Sơn Cao            36. Xã An Nhân
37. Xã Nhân Chẩm        38. Xã Lương Sơn
39. Xã Bất Một
H. Tổng Thiện Thổ:
40. Xã Thiện Giao        41. Xã Thịnh Nang
42. Xã Trí Nang            43. Xã An Thổ
44. Xã Trị Thổ
I. Tổng Tam Lư (Lô):
45. Xã Hàm Lô            46. Xã Thượng Lô
47. Xã Trung Lô            48. Xã Hậu Lô
49. Xã Tuyết Lô
* Khác:
50. Đồn Ninh Lương - xã Ban Chính
51. Đồn Tự Lạc - xã Tự Lạc
52. Đồn Ban Chính - xã Ban Chính 
53. Đồn Trung Lô - xã Trung Lô
54. Đồn Hàm Lô - xã Hàm Lô    
55. Đồn An Khương - xã An Khương
56. Đồn Bát Mọt - xã Bát Mọt    
57. Núi Bầu Doanh (Bù Dinh)
58. Sông Âm, trên từ phía tây chảy xuống phía đông châu hạt nhập vào sông Lương (Lương Giang), dài 150 trượng, rộng 5 trượng, nước thường sâu khoảng 6,7 thước. Không có thủy triều lên xuống. 
59. Thượng nguồn sông Lương (Lương Giang); 
60. Núi Bầu Gió (Bù Gió).
2.1.2. Huyện Quan Sơn thời điểm thành lập (năm 1996)
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, thực hiện Nghị định 72/NĐ-CP của Chính phủ, chia tách huyện Quan Hóa thành 3 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát. Địa giới hành chính huyện Quan Sơn chính thức được xác lập tại thời điểm này.
Huyện Quan Sơn thành lập trên cơ sở gồm 9 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Sơn Thủy thuộc huyện Quan Hóa cũ; Diện tích tự nhiên là 93.017,03ha và 29.952 nhân khẩu. Địa điểm huyện lỵ đóng tại xã Sơn Lư (Km 35 đường 217). 
Tên Quan Sơn là từ ghép chữ “Quan” (từ tổ gốc của Quan Hóa) và chữ “Sơn” là núi để đặt tên cho huyện Quan Sơn. 
Như vậy, kể từ ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn chính thức là một đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa. 
2.2. CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CỦA HUYỆN QUAN SƠN THỜI ĐIỂM THÀNH LẬP HUYỆN
2.2.1. Xã Trung Xuân
Trung Xuân là xã duy nhất của huyện Quan Sơn có đất 2 mường. Bao gồm vùng đất của mường Chự, huyện Quan Sơn và mường Ca Da thuộc huyện Quan Hóa. 
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Trung Xuân:
Phía đông giáp thị trấn xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa và xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn.
Phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Năm 1996, xã Trung Xuân có 297 hộ, 1.284 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 6 bản: Bản La hay còn có tên khác là La Ký thuộc đất mường Chự; bản Cạn thuộc đất mường Chự; bản Mòn thuộc đất mường Chự; bản Piềng Phố thuộc đất Ca Da; bản Muống thuộc đất Ca Da; bản Phú Nam thuộc đất Ca Da (bao gồm các bản: bản Cong Lanh, bản Đum, Quát); bản Phụn thuộc đất Ca Da.
2.2.2. Xã Trung Hạ
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Trung Hạ:
Phía đông giáp xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn; xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Thượng (nay là xã Trung Tiến).
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa.
Xã Trung Hạ năm 1996 có 705 hộ, 2.971 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 06 bản: bản Lợi; bản Din; bản Chiềng Xày; bản Bá; bản Lang hay còn gọi là bản Cha Lang; bản Xanh.
2.2.3. Xã Trung Thượng
Năm 1996, khi thành lập huyện Quan Sơn, xã Trung Thượng có 405 hộ, 1.839 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm có các bản: bản Bàng; bản Mảy; bản Khạn; bản Bôn; bản Ngàm; bản Bách; bản Cum; bản Pa Chè; bản Lầm; bản Lốc; bản Tong; bản Pọng; bản Đe; tiểu khu Km 22 (tại Km 22, đường 217: Piềng Xi Li).
2.2.4. Xã Sơn Lư
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Lư:
Phía đông giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn tại cầu sông Lò.
Phía tây giáp xã Sơn Điện tại Km 49 
Phía nam giáp xã Sơn Hà, xã Tam Lư.
Phía bắc giáp xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn; xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Xã Sơn Lư năm 1996 có 473 hộ, 1.945 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 7 bản: bản Sỏi; bản Bìn; bản Hẹ; bản Hao; bản Bon; bản Păng (bao gồm bản Hiềng và bản Păng gộp lại); bản Lấm.
2.2.5. Xã Sơn Hà
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Hà:
Phía đông giáp xã Trung Thượng.
Phía tây giáp xã Tam Lư, xã Sơn Lư.
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và Mường Pao, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư, thị trấn Quan Sơn.
Xã Sơn Hà năm 1996 có 346 hộ, 1.366 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 06 bản: bản Xum; bản Làu; bản Nà Sắng; bản Hạ; bản Nà Ơi; bản Piềng Làng.
2.2.6. Xã Tam Lư
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Tam Lư:
Phía đông giáp xã Sơn Lư, xã Sơn Hà.
Phía tây giáp xã Tam Thanh, xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và xã Tam Thanh.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư.
Xã Tam Lư năm 1996 có 486 hộ, 2.072 nhân khẩu, dân cư phân bố ở 5 bản: bản Sại (Trung tâm Mường Sại); bản Hậu; bản Tình; bản Muống; bản Hát.
2.2.7. Xã Tam Thanh
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Tam Thanh:
Phía đông giáp xã Tam Lư.
Phía tây giáp xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Tam Lư.
Xã Tam Thanh năm 1996 có 602 hộ, 2.946 nhân khẩu, dân cư phân bố ở 09 bản: Bản Pa; bản Cha Lung (bao gồm Cha Lung và bản Cha Lan); bản Phe; Bản Sộp Pa (Piềng Pa); bản Kham; bản Bôn (ngày xưa có tên gọi khác là bản Pom Phèn); bản Ngàm (bao gồm các bản nhỏ: Pù Đồn, Pù Vai, Có Hướng hợp lại); bản Mò (còn có tên khác là bản Cháo); bản Nà Ấu.
2.2.8. Xã Sơn Điện
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Điện:
Phía đông giáp xã Sơn Lư.
 Phía tây giáp xã Sơn Thủy.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, xã Thiên Phủ, huyện Quan Hóa
Năm 1996, xã Sơn Điện có 1.254 hộ, 5.978 nhân khẩu và 13 bản: Bản Yên (Pọng Yên); bản Chiềng Mìn (bao gồm bản Mìn, Luốc Làu, Chiềng); bản Bơn (Pọng Bơn bao gồm bản Bơn và bản Ngàm); bản Tân Sơn; bản Nhài; bản Na Nghịu; bản Na Lộc (bao gồm bản Nà Lộc và bản Nà Phang Phá); bản Ngàm; bản Xa Mang; bản Ban (Bản Nà Hó); bản Bun; bản Na Hồ; Bản Sủa (Súa).
2.2.9. Xã Sơn Thủy
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Thủy:
Phía đông giáp xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn.
Phía tây giáp huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Phía nam giáp xã Sơn Điện (nay là mường Mìn).
Năm 1996, xã Sơn Thủy có 1.134 hộ, 5.476 nhân khẩu và có 19 bản: Bản Na Mèo; bản Km 83 + 87; bản Ché Làu; bản Cha Khót; bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Hiềng; bản Bo; bản Son; bản Sa Ná; bản Xuân Thành (còn gọi là bản Xia Nưa hoặc bản Hát Tó); bản Thủy Thành (bản Pom Vực + Ka Lóc); bản Chung Sơn (Xia Cang + Xia Tớ hoặc gọi bản Máy); bản Thủy Chung (bản Na Cò); bản Chanh; bản Hiết; bản Cóc; bản Muống; bản Thủy Sơn (bản Na Tuồng).
 
Bảng 4: Thống kê các xã, bản ở Quan Sơn thời điểm năm 1996
TT    Tên xã    Các bản thuộc xã
1    Trung Xuân (7 bản)    Bản La, bản Cạn, bản Mòn, bản Piềng Phố, bản Muống, bản Phú Nam (bao gồm các bản Cong Lanh, Đum, Quát); bản Phụn. 
2    Trung Hạ (6 bản)    Bản Lợi; bản Din; bản Chiềng Xày; bản Bá; bản Lang (Cha Lang); bản Xanh. 
3    Trung Thượng (14 bản)    Bản Bàng; bản Mảy; bản Khạn; bản Bôn; bản Ngàm; bản Bách; bản Cum; bản Pa Chè; bản Lầm; bản Lốc; bản Tong; bản Pọng; bản Đe; tiểu khu Km 22.
4    Sơn Lư (7 bản)    Bản Sỏi, bản Bìn, bản Hẹ; bản Hao, bản Bon, bản Păng (bao gồm bản Hiềng và bản Păng gộp lại); bản Lấm.
5    Sơn Hà (6 bản)    Bản Xum; bản Làu; bản Nà Sắng; bản Hạ; bản Nà Ơi; bản Piềng Làng
6    Tam Lư (6 bản)    Bản Sại, bản Hậu; bản Tình; bản Muống; bản Hát; Piềng Khóe.
7    Tam Thanh (9 bản)    Bản Pa; bản Cha Lung; bản Phe; bản Sộp Pa (Piềng Pa); bản Kham; bản Bôn (tên gọi khác là bản Pom Phèn); bản Ngàm (gồm các bản nhỏ: Pù Đồn, Pù Vai, Có Hướng hợp lại); bản Mò (còn có tên khác là bản Cháo); bản Nà Ấu. 
8    Sơn Điện (13 bản)    Bản Yên (Pọng Yên); bản Chiềng Mìn (bao gồm bản Mìn, Luốc Làu, Chiềng); bản Bơn (Pọng Bơn bao gồm bản Bơn và bản Ngàm); bản Tân Sơn, bản Nhài; bản Na Nghịu; bản Na Lộc (bao gồm bản Nà Lộc và bản Nà Phang Phá); bản Ngàm; bản Xa Mang; bản Ban (Bản Nà Hó); bản Bun; bản Na Hồ; bản Sủa (Súa).
9    Sơn Thủy (19 bản)    Bản Na Mèo; bản Km 83 + 87; bản Ché Làu; bản Cha Khót; bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Hiềng; bản Bo; bản Son; bản Sa Ná; bản Xuân Thành (bản Xia Nưa hoặc bản Hát Tó); bản Thủy Thành (bản Pom Vực + Ka Lóc); bản Chung Sơn (Xia Cang + Xia Tớ hoặc gọi bản Máy); bản Thủy Chung (bản Na Cò); bản Chanh; bản Hiết; bản Cóc; bản Muống; bản Thủy Sơn (bản Na Tuồng).

2.3. CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUAN SƠN HIỆN NAY
Sau khi thành lập huyện, hệ thống tổ chức hành chính cơ sở của huyện Quan Sơn tiếp tục được điều chỉnh liên tục đến năm 2008 mới định hình và ổn định cho đến nay. 
Từ ngày thành lập huyện (năm 1996) đến nay có thêm 04 đơn vị hành chính cơ sở mới của huyện Quan Sơn được thành lập gồm:
- Xã Na Mèo chia tách từ xã Sơn Thủy theo Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ.
- Xã Mường Mìn chia tách từ xã Sơn Điện theo Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ.
- Thành lập thị trấn Quan Sơn trên cơ sở chia tách từ xã Sơn Lư theo Nghị định số 131/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ.
- Xã Trung Tiến chia tách từ xã Trung Thượng theo Nghị định số 11/CP ngày 28 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ.
Dưới cấp đơn vị hành chính cơ sở, có các bản, khu sau đây:
- Bản Luốc Làu thuộc xã Mường Mìn chia tách từ bản Chiềng vào năm 2008.
- Bản Lấm đổi tên, chia thành các khu 1; 2; 3; 4; 5; 6 của thị trấn Quan Sơn vào năm 2003.
- Bản Na Phường thuộc xã Sơn Điện chia tách từ bản Sủa vào năm 2008.
- Bản Piềng Khóe thuộc xã Tam Lư chia tách từ bản Sại vào năm 2008.
Như vậy, lúc mới thành lập chỉ có 9 xã, với 89 bản, đến năm 2008, số đơn vị hành chính của huyện Quan Sơn đã tăng lên 13 xã, thị trấn, với 99 khu.
Năm 2008 số lượng, tên gọi và địa giới của các đơn vị hành chính cơ sở của huyện Quan Sơn được duy trì ổn định cho đến nay. Dưới đây là bảng thống kê các xã, bản, khu hiện nay của huyện Quan Sơn. Thứ tự các đơn vị hành chính sắp xếp theo khu vực địa hình từ vùng thấp lên vùng cao của huyện Quan Sơn.
Bảng 5: Thống kê các xã, bản, khu ở Quan Sơn hiện nay
TT    Xã, thị trấn    Các bản thuộc xã, thị trấn    Ghi chú
(Thuộc các mường)
1    Xã Trung Xuân (7 bản)    Bản Cạn, bản La, bản Mòn, bản Piềng Phố, bản Muống, bản Phú Nam, bản Phụn.    Các bản: Cạn, La thuộc mường Chự; Mòn(1)
Các bản: Phụn, Phú Nam, Muống, Piềng Phố thuộc mường Ca Da
2    Xã Trung Hạ (7 bản)    Bản Lang, bản Xanh, bản Bá, bản Chiềng, bản Xày, bản Din, bản Lợi.    mường Chự
3    Xã Trung Tiến (8 bản)    Bản Tong, bản Pọng, bản Đe, bản Lốc, bản Lầm, bản Chè (Pa Chè), bản Cum, tiểu khu Km 22     mường Chự
4    Xã Trung Thượng (6 bản)    Bản Bách, bản Ngàm, bản Bôn, bản Khạn, bản Máy, bản Bàng.    mường Chự
5    Thị trấn Quan Sơn    Khu 6, Khu 5, Khu 4, Khu 3, Khu 2, Khu 1.    mường Hạ
6    Xã Sơn Lư (6 bản)    Bản Păng, bản Bon, bản Hao, bản Hẹ, bản Sỏi, bản Bìn.    mường Hạ
7    Xã Sơn Hà (6 bản)    Bản Xum, bản Làu, bản Nà Sắng, bản Nà Ơi, bản Hạ, bản Piềng Làng.    mường Hạ
8    Xã Tam Lư (6 bản)    Bản Hát, bản Hậu(1), bản Tình, bản Muống, bản Sại, bản Piềng Khóe.    mường Sại
9    Xã Tam Thanh (9 bản)    Bản Nà Ấu, bản Mò, bản Piềng Pa, bản Bôn, bản Ngàm, bản Kham, bản Phe, bản Cha Lung, bản Pa.    mường Mò
10    Xã Sơn Điện (11 bản)    Bản Sủa, bản Na Phường, bản Na Hồ, bản Bun, bản Ban, bản Xa Mang, bản Ngàm, bản Na Lộc, bản Na Nghịu, bản Nhài, bản Tân Sơn.    mường Mìn
11    Xã Mường Mìn (5 bản)    Bản Chiềng, bản Luốc Làu, bản Bơn, bản Mìn, bản Yên.    mường Mìn
12    Xã Sơn Thủy (12 bản)    Bản Thủy Sơn, bản Chung Sơn, bản Thủy Chung, bản Muống, bản Cóc, bản Hiết, bản Chanh, bản Khà, bản Xia Nọi, bản Mùa Xuân, bản Xuân Thành, bản Thủy Thành.    mường Xia
13    Xã Na Mèo (10 bản)    Bản Bo, bản Hiềng, bản Sa Ná, bản Son, bản Sộp Huối, bản Na Pọng, bản Cha Khót, bản Km 83 (Sộp Cài), bản Na Mèo, bản Ché Làu    mường Xia
2.3.1. Xã Trung Xuân
2.3.1.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Xuân có vị trí địa lý: phía đông giáp thị trấn Quan Hóa, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa và xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp xã Trung Hạ; phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Xuân theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.908,39ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 4.349,04ha. 
Đất phi nông nghiệp: 157,07ha.
Đất chưa sử dụng: 402,28ha.
Tổng dân số xã Trung Xuân theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 1.738 người. Trong đó: nam giới 868 người, nữ giới 870 người; mật độ dân số 35 người/km2.
Người Thái là dân tộc sinh sống lâu đời trong xã, chiếm 98% tổng dân số toàn xã. Các dân tộc khác phần lớn là dân cư nơi khác đến sinh sống và làm dâu, rể trong các gia đình người Thái. Các dòng họ trong xã có: họ Hà, Phạm, Lữ, Vi, Lò, Ngân, Lương, Đinh, Cao, Lê, Đỗ.
Xã Trung Xuân được tách ra từ xã Hồi Xuân thuộc huyện Quan Hóa và một phần của xã Trung Hạ, huyện Quan Hóa nên gọi là xã Trung Xuân.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các bản Muống, bản Phụn, bản Đum đã thành lập một xã riêng gọi là xã Phú Nam, có đủ tư cách pháp nhân hoạt động dưới chế độ thực dân phong kiến. Tuy nhiên, do quản lý điều hành của bộ máy chính quyền không tốt nên chỉ tồn tại được 5 năm thì bị giải tán, xã được sát nhập vào xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Năm 1996, xã Trung Xuân (huyện Quan Hóa) được chia tách từ xã Trung Hạ và xã Trung Thượng theo Quyết định số 98/QĐ ngày 21/6/1966 của Bộ Nội vụ. Khi chia tách thành lập, xã Trung Xuân bao gồm đất của 2 mường là mường Chự và mường Ca Da thuộc châu Quan Hóa (huyện Quan Hóa). Đây là xã duy nhất của huyện Quan Sơn có đất 2 mường.
Hiện nay, xã Trung Xuân gồm các bản: bản La (còn có tên khác là La Ký); bản Cạn; bản Mòn thuộc mường Chự; bản Piềng Phố; bản Muống; bản Phú Nam (bao gồm các bản Cong Lanh, Đum, Quát); và bản Phụn thuộc mường Ca Da.
Trung Xuân có địa hình phức tạp, có nhiều đồi núi, chủ yếu là núi đá nên điều kiện kinh tế khó phát triển, ruộng nước ít, các piềng bãi bên sông Lò không rộng, được bà con trồng ngô, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi trâu bò.
Những núi đất thấp, đồng bào trồng luồng nhưng diện tích ít. Tài nguyên rừng như gỗ, vầu, nứa so với các xã khác không đáng kể.
Trên địa bàn xã Trung Xuân có nhiều phong cảnh đẹp có thể khai thác du lịch sinh thái:
- Pù Cọ có hang núi đá khá đẹp và rộng rãi, có thể chứa hàng trăm người. Năm 1962, Mỹ thả biệt kích xuống vùng này và bọn phỉ đã trú ẩn ở hang Pù Cọ nên đồng bào còn gọi hang này là “Hang phỉ”. Hang Bóng, hang Nặm Kháu Hu, hang Ma No, Cánh Tạng (sông Lò) thuộc đất bản Phụn, Pha Lý, Pha Sói, Pha Dờn (có quan tài cổ). 
- Hang Pẹo Piềng Chang thuộc đất bản Phú Nam, là địa danh kỳ vĩ, thiên nhiên ban tặng cho xã Trung Xuân.
2.3.1.2. Các bản thuộc xã Trung Xuân
Bản Phụn
Bản Phụn trước đây gồm có hai bản là bản Phụn và bản Ong, về sau gọi chung là bản Phụn. 
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Phụn thuộc mường Ca Da, tổng Phú Nam, châu Quan Hóa.
Bản Phụn có vị trí địa lý: phía đông nam giáp bản Phú Nam; phía đông giáp bản Piềng Chang; phía tây giáp bản Mòn; phía tây bắc giáp bản Muống; phía nam giáp với bản Piềng Phố, bản La.
Trên địa bàn bản có con sông Lò, suối Phụn, suối Ong, mó Phụn và mó Hó. Người dân bản Phụn làm ăn, canh tác trên các xứ đồng: Nà Bó, Nà Pung Phục, Nà Pung Ong, Nà Tậu, Nà Trý Mớ, Nà Phụn, Nà Tén, Nà Chá, Nà Oi Nu, Nà Sai, Nà Héo Muống,...
Bản Phụn gồm 2 dân tộc Thái và Mường; trong đó, chủ yếu là người Thái (143 người). Dân cư sống tập trung hai bên bờ sông Lò. Bản Phụn có các dòng họ là Đinh Công, Hà Văn, Lữ Văn, Phạm Bá,...
Bản Phú Nam
Bản Phú Nam trước đây có tên là bản Đum, nay là bản Phú Nam. Bản có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản La; phía bắc giáp xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Bản Phú Nam có suối Đum, mương Đum, mương Có Cại, có núi Pù Tền, hang Pèo.
 Trong bản có các dòng họ là: Hà, Lương, Vi, Phạm, Đinh, và họ Ngân. Các dòng họ này đều có nguồn gốc từ mường Ca Da (Quan Hóa) và mường Đanh (Lang Chánh). 
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Chang, xã Trung Xuân; phía tây giáp bản Ong (thuộc bản Phụn), xã Trung Xuân; phía nam giáp bản Phụn, xã Trung Xuân; phía bắc giáp bản Bút, xã Nam Xuân, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Bản Muống có địa hình đồi, núi cao, có hang động và thung lũng, có con sông Lò dưới chân bản, có những con suối ngang qua hai bên làng. Đặc biệt ở bản Muống có hang Rờn là nơi cất giữ quan tài của người Thái cổ. 
Dân cư bản Muống làm ăn sinh sống bằng nghề nông nghiệp. Tuy nhiên, do địa hình núi cao, diện tích chủ yếu là đồi núi nên bà con sinh sống phụ thuộc vào trồng và khai thác lâm thổ sản. Cây luồng, cây vầu, cây nứa... đem lại nguồn thu nhập chính cho bà con.
Bản Muống có các dòng họ là họ Hà, Vi.
Bản Piềng Phố
Bản Piềng Phố có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phú Nam; Phía tây giáp sông Lò, bản Mòn; Phía nam giáp bản La; Phía bắc giáp bản Phụn.
Năm 1990, nhân dân trong xã tập trung vào sinh sống ở một vùng đất bằng phẳng và lập thành bản Piềng Phố. 
Bản Piềng Phố có địa hình bằng phẳng (Piềng tức là bằng phẳng), ở phía đông nam có dãy núi Pom Đồn, Pha Phố che chắn. Ở phía tây bắc có con sông Lò chảy qua địa phận của bản, dài khoảng 500m. Ở phía tây nam có Bó Cúng, tiếng phổ thông gọi là Mó Tôm. 
Người dân Piềng Phố sống chủ yếu bằng nghề buôn bán, dịch vụ. Người Thái ở bản Piềng Phố có các dòng họ là Phạm, Hà, Cao, Lữ, Lò, Ngân, Vi. Người Kinh gồm các dòng họ: Đặng, Đinh, Nguyễn.
Bản Mòn
Bản Mòn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Phố; phía tây giáp bản Cạn; phía nam giáp bản La; phía bắc giáp bản Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Theo người xưa kể lại, xưa kia nơi đây là một Piềng (bãi) ở ven sông Lò để hoang thuộc mường Ca Da, tạo mường Ca Da mới cho người đến khai phá để trồng dâu nuôi tằm. Cây dâu, tiếng Thái gọi là “co mòn”. Sau đó đưa một số người họ Lò ở mường Khoòng đến làm các chòi (lán) để trông coi. Các chàng trai, cô gái lấy nhau và sinh sống ở đó luôn. Khi thành bản thì gọi là Piềng Mòn, có người gọi là bản Xuôn Mòn. Về sau gọi là bản Mòn cho đến bây giờ. Từ thế kỷ XVI tạo Ca Da cho con rể là tạo Chự, từ đó bản Mòn chuyển về mường Chự.
Bản Mòn có địa hình đồi núi, với hệ thống sông, suối, hang động dày đặc. Có núi Pù Ngua Nai, núi Pu Thùng, núi Xa Là, núi Pu Na Nọi, có hang Thùng, hang Bong. Có con sông Lò, suối Pù....
Rừng ở bản có nhiều gỗ quý, bản Mòn có ruộng đồng, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, nhiều sông suối dày đặc nên rất thuận lợi cho bà con canh tác lúa nước, đảm bảo cuộc sống. 
Người dân bản Mòn vừa sản xuất nông nghiệp vừa phát triển nghề rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt cá dưới sông, suối, đào ao thả cá nên đời sống bà con tương đối ổn định và ngày càng phát triển.
Cư dân trong bản đều là dân tộc Thái, gồm có các dòng họ là: họ Lò, Hà, Lữ.
Bản La
Bản La còn có tên gọi khác là bản “La Ký” do ngày xưa bản thuộc mường Ký (xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước) quản lý. 
Tương truyền trong dân gian rằng, có cô gái coi ruộng được chàng trai mường Ký đến tặng cho chiếc xa quay. Xa quay tơ, quay vải tiếng Thái gọi là “La”. Từ đó, người dân của bản biết quay tơ dệt vải. Do vậy mới có tên là bản “La Ký”. Sau này bản La chuyển về mường Chự quản lý nên từ Ký bỏ đi chỉ gọi tên bản La.
Bản La có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phú Nam; phía tây giáp bản Cạn; phía nam giáp bản Lang, xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản Mòn.
Bản La có núi Pù Hô, Pù Cú, Pù Xá La, có con sông Lò đi qua và có hồ Pù Cú. Người dân bản La sinh sống chủ yếu là làm nông nghiệp.
Hiện nay, bản La chủ yếu là người Thái. Người Thái bản La có các dòng họ là Lò, Phạm, Ngân, Lữ. 
Bản Cạn
Bản Cạn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản La; phía tây giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa; phía nam giáp xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản Mòn.
Tên gọi bản Cạn do tạo mường Chự đặt từ ngày xưa. Tương truyền, một hôm, cả bản lên làm việc cho tạo mường Chự. Trước khi đi ai cũng đeo túi cơm nắm để ăn trưa. Đến nhà tạo, mọi người cùng mắc túi cơm lên chạc sừng nai của nhà tạo đóng vào cột nhà. Chẳng may chạc sừng nai bị loác, từ loác trong tiếng Thái gọi là “Cạn”. Do vậy tạo đặt tên cho dân bản là Tày Cạn (bản Cạn có từ đấy)
Bản Cạn có địa hình đồi, núi cao, có rất nhiều khe, suối, nhiều hang như hang Mạ Đón, hang Pá Háng, hang Pù Cọ, hang Tạo, hang Phỉ. Có con sông Lò, suối Cạn, suối Cắn, suối Pá Ó, suối Mươi Hốc, suối Pù Cọ, mương Khoáng, mương Suối Cắn, mương Bó Dứn, mương Có Phay. Có các động núi: Pù Ngùa, Pù Cọ, bản Cạn đến nay đã đổi tên 3 lần, lúc đầu có 5 nhóm dân cư là: Piềng Túy, Con Lốc, Nà Cắn, Nà Lánh, Đống Hao. Sau khi nhập 5 nhóm dân cư lại gọi là Na Huy, sau sự kiện làm loác sừng nai tạo mường Chự gọi là bản Cạn.
Bản Cạn có thắm Pù Cọ, năm 1962, phỉ nhảy dù xuống ở đó, đồng bào đặt thêm tên gọi là Thắm Phỉ (Hang Phỉ).
Địa hình bản Cạn chủ yếu là núi đồi, rừng cây, sông, suối nên đất canh tác nông nghiệp trồng lúa nước rất ít, bà con sinh sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ núi rừng. Lâm nghiệp chiếm 60% thu nhập, nông nghiệp chiếm 20% và dịch vụ thương mại chiếm 20%. Đồng bào làm nương rẫy, trồng và khai thác lâm thổ sản như luồng, nứa, vầu, trồng keo, xoan, lát... chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt. Hiện nay, người dân còn trồng ngô, mía, sắn. Môi trường tự nhiên ở bản Cạn rất thuận lợi cho chăn nuôi trâu, bò, phát triển vườn rừng, trồng cây ăn quả. 
Bản Cạn có các dòng họ là họ Hà, Lữ. Cả hai dòng họ này đều từ phía bắc di cư đến đây.
2.3.2. Xã Trung Hạ
2.3.2.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Trung Hạ có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn; xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Tiến.
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, Nam Tiến, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Hạ theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 3.473,02ha. Trong đó:
 Đất sản xuất nông nghiệp: 3.236,87ha.
 Đất phi nông nghiệp: 216,45ha. 
Đất chưa sử dụng: 19,70ha.
Tổng dân số xã Trung Hạ theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.502 người. Trong đó: nam giới 1.752 người, nữ giới 1.750 người; mật độ dân số 101 người/km2.
Tương truyền, vào khoảng thế kỷ XVIII, ông tạo mường Chự thấy đất đai ông cai quản quá ít so với với đất của ông tạo mường Mò nên ông nói: “Thượng chi thì cánh Bé (thác con Dê), hạ chi thì Bo Cúng” (nghĩa là đất của ông bắt đầu từ thác Dê xuống tận Bo Cúng thuộc xã Trung Xuân ngày nay). Ông tạo mường Mò thấy thế cũng tuyên bố: “Núi ki vi Dạ, đá người của Tam Lư” (nghĩa là đất đai của ông cai quản bắt đầu từ núi Dạ (Pù Dạ) bản Chè, xã Trung Hạ (cũ) - xã Trung Tiến ngày nay, đến địa phận xã Tam Lư). Chính vì hai câu nói đó mà hai ông tạo quyết định thi đấu với nhau. 
Chuyện dân gian kể lại rằng: “Ngày xưa mường Mò rất rộng nhưng tạo mường Mò nghiện hút thuốc phiện, ít quan tâm đến dân chúng nên dân mường Mò đói, khổ hơn mường khác lân cận. Nhân dân một số bản kề với mường Chự muốn về với mường Chự sinh sống làm ăn. Nhưng tạo mường Chự nói nếu về thì lấy cả đất cùng về mới cho, nếu chỉ có dân di cư về mường Chự thì không đồng ý.
Từ nguyện vọng đó của nhân dân nên tạo mường Mò và mường Chự tổ chức các cuộc thi, ai thắng sẽ được đất, được dân.
- Cuộc thi thứ nhất: thi xuôi bè, kéo bè theo sông Lò hai bên gặp nhau ở đâu thì chia ranh giới ở đó.
Theo đó tạo mường Chự phải đóng bè kéo bè từ Chiềng Xày (Cửa suối Xày ở Km 19, đường 217 ngày nay) để kéo ngược lên. Tạo mường Chự tinh khôn đã cho đóng ba trạm bè ở những chỗ khuất cách xa nhau về phía thượng nguồn. Trạm trên cùng ở gần suối Mảy Vàng (Km 32, đường 217 ngày nay). Đồng thời giao kèo với người giám sát của mường Mò là do mường Chự phải kéo bè ngược nên người giám sát không được lên bè mà đi theo đường bộ để giám sát. Do vậy khi đi vào chỗ khuất thì bè cũ bỏ lại cho bè trạm trên xuất hành theo kiểu chạy tiếp sức. Nên cùng thời gian như nhau mà bè của mường Chự được nhiều quãng đường hơn bè mường Mò xuôi từ bản Mò, Tam Thanh xuống. Mường Mò thấy lạ không nhất trí cho kiểm tra lại thì quả nhiên mường Chự có 3 bè ở 3 trạm cách xa nhau để tiếp ứng.
- Hai bên tổ chức cuộc thi thứ hai: mổ một con trâu đực to giã làm chẻo ngay chỗ hai bè của hai Mường gặp nhau rồi chia đều cho hai bên của hai mường với số người bằng nhau, sau đó lấy số cơm nếp đồ và chẻo bằng nhau ăn. Đội nào ăn xong trước thì đội đó thắng.
Đội của mường Chự khôn ngoan hơn, vừa lấy cơm chấm vừa dùng 3 đầu ngón tay bốc chẻo trâu kèm vào một ít cơm mỗi lần chấm nên chẻo mau hết, đội mường Chự lại thắng.
Đội mường Mò chưa nhất trí đòi kiểm tra lại thì thấy cơm ở mường Chự còn nhiều mà chẻo thịt trâu mường Chự thì hết, thấy không hợp lý, cuộc thi đó không thành. Hiện nay, ở Cánh Lý phía trên cửa suối Mảy có một tràn đá có chỗ lõm xuống như cối, đây chính là chỗ hai mường giã thịt trâu làm chẻo ăn thi năm xưa.
- Hai bên tổ chức cuộc thi thứ ba là thi cưỡi ngựa: mỗi đoàn chuẩn bị một con ngựa khỏe, một người giỏi cưỡi ngựa cùng xuất phát tại trung tâm mường của mình, có sự giám sát chéo lẫn nhau, hai ngựa xuất phát cùng một giờ khi chúng gặp nhau ở đâu thì chia ranh giới hai mường ở đó. Ngựa mường Mò chạy đến cửa suối Lý (Cánh Bé) dưới cầu sông Lò bây giờ do dự không chịu qua sông Lò. Ngựa của mường Chự lên gặp ở đó nên hai mường thống nhất lấy điểm này làm ranh giới.
Từ đó mường Mò không còn bản Ngàm, bản Bôn do phải giao lại cho mường Chự cùng các bản Bách, Khạn, Mảy, Bàng. Do đó, mường Mò đặt bản Pù Vai thành bản Ngàm, bản Pa Phèn thành bản Bôn mới cho mình, đến bây giờ hai mường đều có bản Ngàm, bản Bôn là vậy.
Sự kiện này theo dân gian kể lại xảy ra cách đây khoảng 5 đời người, tương ứng 300 năm, ta có thể suy diễn vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII (Người Thái xưa tính 60 năm một đời người).
Mường Chự trước kia chia làm 3 xã: Ái Thượng, Ái Hạ và Ái Xuân. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Ái Thượng, Ái Hạ, Ái Xuân sát nhập thành xã Trung Hạ.
Năm 1966, theo Quyết định số 98/NV ngày 21/6/1966 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chia xã Trung Hạ thành 3 xã: Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân.
 Xã Trung Hạ có vị trí giáp ranh với 3 huyện: Quan Hóa, Bá Thước và Lang Chánh. Trung Hạ là trung tâm kinh tế chính trị của mường Chự thời phong kiến.
Các bản thuộc xã Trung Hạ thời điểm đó gồm:
- Bản Lợi (ở bên phía bắc sông Lò, tại Km 21, đường 217). 
- Bản Din (ở Km 20 - 21, đường 217. Bản Din có bãi rộng trước mặt bản. Năm 1933, Pháp xây dựng một nhà thờ đạo tại Piềng Din, nay là Trường THCS Trung Hạ).
- Bản Chiềng Xày - ở Km 9, bản Chiềng Xày là trung tâm mường Chự nên còn có tên gọi khác là Chiềng Chự. Đến năm 2008, Chiềng Xày, tách thành 2 bản lấy tên là bản Xày và bản Chiềng.
- Bản Bá - ở Km 17 - 18 đi vào theo suối Bá. Hiện nay, nhiều hộ dân ra ở theo dọc đường 217, đoạn Km 17 - 18.
- Bản Lang hay còn gọi là bản Cha Lang là bản đầu tiên ta gặp khi lên huyện Quan Sơn theo đường 217 từ đỉnh Pù Đen mường Km 13, đường 217 lên đến Km 16. Trung tâm bản ở Km 14 - 15.
- Bản Xanh - ở thượng nguồn suối Bá, đoạn chảy qua bản gọi là suối Xanh. Bản Xanh nổi tiếng có chè ngon và đá mài tốt.
Khi thành lập, xã Trung Hạ có 705 hộ gồm 2.971 khẩu với 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường, Kinh. Trong đó dân tộc Thái chiếm trên 80%. Đến năm 2010 có 807 hộ với 3.472 nhân khẩu.
Xã Trung Hạ (mường Chự) có ông Nghè Chự, cùng thời với Thượng tướng quân Lò Khằm Ban ở Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, là 2 vị nổi danh nhất thời bấy giờ của Chu Gia và Chu Sàn.
Theo người dân địa phương kể lại, ông Nghè Chự là người có học, tên thật của ông là Hà Quý Công tự là Phúc. Hiện bia mộ của ông an táng tại bản Din, xã Trung Hạ. 
Bản Chiềng Xày là nơi đặt trụ sở làm việc của mường Chự, còn bản Din bây giờ là vùng đất chưa có người ở. Về sau, người dân ra phát rừng làm nương rẫy và làm chòi lán nghỉ, ở cả ngày, đêm, về tối rất mát mẻ, do đó người dân gọi nơi này là Piềng Din (bãi Mát). Thời gian sau, tạo mường Chự thấy vùng đất này vừa rộng, vừa mát, vừa thoáng, có tầm nhìn xa nên tạo đã cho rời nơi làm việc của mường lên Piềng Din (bãi Mát). Hiện nay, nhiều người cao niên vẫn gọi là bản Chiềng Din; một số cụ lại gọi là bản Piềng Din. Nhưng Chiềng Chự là bản Chiềng Xày tạo mường ở cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trung Hạ là xã vùng thấp của huyện Quan Sơn. Xã Trung Hạ có nhiều đồi núi, khe suối. Núi ở đây có pha nhiều đá, tầng đất mỏng nên thực vật rừng không phát triển, tài nguyên rừng của xã Trung Hạ nghèo hơn các xã khác trong huyện Quan Sơn.
Trên địa bàn xã cũng có nhiều phong cảnh đẹp như: Cánh Tiên của suối Tiên từ xã Lâm Phú chảy sang Trung Hạ. Nơi giáp ranh 2 xã có một thác nước đẹp gọi là Cánh Tiên (thác tiên). Thác bản Xày tại Km 18 do dòng suối Bá đổ xuống sông Lò trên độ cao trên 100m nước tỏa trắng xóa. Mùa nhiều nước nhìn thác này rất đẹp.
2.3.2.2. Các bản thuộc xã Trung Hạ
Bản Lang 
Bản Lang trước đây gọi là bản Cha Lang thuộc mường Chự. Bản Lang có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản Bá; phía nam giáp bản Xanh, xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản La, xã Trung Xuân.
Bản Lang có từ xa xưa. Theo các người già trong bản kể lại, trước đây có tên gọi là bản Cha Lang thuộc mường Chự, châu Quan Hóa. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, gọi là bản Cha Lang. Bản Lang không có tạo mường, chỉ có quan Pọng do tạo mường cử đến cai quản.
Vào khoảng thế kỷ XV - XVI, có 3 hộ dân dòng họ Lữ chuyển từ mường Khoòng, huyện Bá Thước, lên khai hoang vỡ ruộng và sinh sống. Thời gian tiếp theo một nhóm họ Lữ chuyển đến cùng làm ăn chung sống. Sau này một số dòng họ khác như họ Hà từ tỉnh Hòa Bình, họ Vi từ huyện Như Xuân; họ Lữ từ bản Cạn xã Trung Xuân chuyển đến. Ban đầu thành lập, bản chỉ có 10 hộ, gồm 30 nhân khẩu.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Lang là một bản hẻo lánh của mường Chự. Trâu bò, hoa màu luôn bị thú dữ ăn thịt, phá hoại. Thậm chí cả người cũng bị thú bắt. Có những lúc do hạn hán, mất mùa, bà con bỏ bản đi nơi khác, làng bản hoang phế, đời sống kinh tế của bà con vô cùng gian khó. Đến khi có điều kiện, bà con lại trở về tái lập lại bản làng.
Đến năm 1956, bản tiếp tục mở mang thêm một số diện tích đất canh tác. Lúc này bản đã có 38 hộ với khoảng 130 nhân khẩu. Dân bản Lang cùng nhau mở mang diện tích lúa nước, khai hoang phục hóa. Các dòng họ đào mương, đắp ao hồ, chủ yếu lấy từ nước mó, khe suối tưới tiêu cho ruộng đồng và trong sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù đất rộng, rừng núi cao, có nhiều khe suối, cây rừng phong phú, đa dạng nhiều chủng loại nhưng đời sống kinh tế của bà con còn gặp rất nhiều khó khăn do đường đi, lối lại hiểm trở, lương thực không đủ ăn, bệnh tật thường xuyên xảy ra. Phần lớn là cuộc sống khép kín, tự cấp, tự túc. 
Từ năm 1956 đến nay, bản Lang có trục đường 217 chạy qua với chiều dài 5km nên dân bản sống tập trung chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217, giao thông đi lại thuận tiện hơn. 
Từ 1986 đến nay, thực hiện chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, diện tích đất rừng, đất thổ cư giao cho các hộ gia đình quản lý, khai thác chăn nuôi và bảo vệ, cuộc sống của người dân bản Lang đã từng bước được cải thiện, cuộc sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng phong phú, phát triển.
Bản Lang có hai dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống đoàn kết, người Thái chiếm 93% dân số. 
Bản Xanh (Sanh)
Bản Xanh tương truyền là do tạo Ca Da đặt cho từ trước năm 1930. Xanh ở đây cũng là làng bản xanh, bản đẹp, bản no đủ, có của để dành lâu đời.
Bản Xanh có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản Bá; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Lang.
Bản Xanh có các dòng họ: Hà, Ngân, Vi. Họ Hà Văn có nguồn gốc từ làng Bàn Đào, huyện Bá Thước chuyển cư lên vào đầu thế kỷ XVIII. Họ Ngân từ Tống Uống, tỉnh Hòa Bình di cư vào đầu thế kỷ XIX. Họ Vi từ huyện Thường Xuân chuyển lên từ cuối thế kỷ XIX.
Bản Xanh có Pù Ngà (xưa kia nhân dân đi làm nhặt được ngà voi, tiếng Thái gọi là Ngà); Hin Đóng; Hóng Ton; Lanh Non và suối Xanh.
 Bản Bá
Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xanh và bản Lang; phía tây giáp bản Chiềng Xay; phía nam giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Cạn xã Trung Xuân.
Hiện nay, bản có các dòng họ: Hà, Vi, Ngân, Lữ, Đinh, Phạm. Họ Hà từ phía Bắc vào Hòa Bình, chuyển về huyện Bá Thước, đến cuối thế kỷ XVIII chuyển đến đây khai khẩn đất đai. Họ Vi chuyển từ mường Din, huyện Thường Xuân lên. Họ Ngân có nguồn gốc từ Tống Uống, nay là Mai Châu, tỉnh Hòa Bình di cư đến. Họ Đinh di cư từ Hòa Bình sang đầu thế kỷ XIX.
Bản Bá có các núi, có hang: Pù Húp (tên theo tiếng Thái Húp tức là núi bóng); Pu Ná Dao (tức núi có mặt dài); Thắm Chạng (tức hang Voi). Thời khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi cho quân lên trú và cho voi vào ở trong hang nên còn gọi theo tiếng Thái là “Thắm Chạng”; Pù Quan Bùn.
Suối Bá là con suối chảy dài suốt bản Bá, Xanh, Lang. Bó Lắn là mó nước ấm về mùa đông, lạnh mát về mùa hè.
Bản Chiềng Xày 
Trước năm 1990, bản Xày và Chiềng Xày gọi chung là Chiềng Xày, nay tách ra làm hai bản gọi là Chiềng Xày và bản Xày, nơi đây là trung tâm của mường Chự, sau này mới chuyển mường lên Chiềng Din, cái tên Chiềng Xày vẫn tồn tại đến ngày nay. 
Người già kể lại rằng, vào cuối thế kỷ XV, có ông Chà Nghè đến mường Chự làm tạo mường và mở lớp dạy học, tiếng Thái người dạy học gọi là xày, nên nhân dân gọi địa danh này để nhớ thầy giáo của mình. Tên gọi bản là Chiềng Xày có từ đó.
Bản Chiềng Xày có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bá; phía tây giáp bản Xày; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp huyện Quan Hóa.
Bản Chiềng Xày chủ yếu là người dân tộc Thái. Người Thái ở bản Chiềng Xày có các dòng họ là: Hà, Vi, Lữ. Họ Hà có hai nhóm: Hà Tạo và Hà Văn; họ Hà chuyển từ Bá Thước lên, một nhánh từ Hòa Bình sang. Họ Vi chuyển từ mường Mót, mường Din, huyện Thường Xuân đến cuối thế kỷ XVIII. Họ Lữ chuyển từ Hòa Bình đến đầu thế kỷ XIX.
Bản Chiềng Xày có suối Xày bắt nguồn từ Pù Pán Mường đổ ra sông Lò. Suối Xày là nguồn nước tưới tiêu chính cho hai bản Chiềng Xày và bản Xày; suối Húp bắt nguồn từ núi Toi Lài (Toi Lài là loại lá trầu khoang mọc ở rừng ăn thay trầu được, nhưng không thơm); huối Đưới (Đưới tiếng Thái gọi ngô là đưới). Từ đó có tên huối Đưới (suối Ngô). Bo Tóng Chính ở sau bản Chiềng Xày tức là mó nước mát tuôn ra ở bãi lá dong, tiếng Thái lá dong gọi là Tong Chính.
Bản Chiềng Xày là bản có truyền thống văn hóa lâu đời. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển văn hóa xã hội, bản Chiềng Xày luôn đi đầu trong các phong trào, truyền thống hiếu học cũng là một nét đặc sắc của người dân bản Chiềng Xày. 
Bản Xày 
Bản Xày trước kia thuộc Chiềng Xày, đến năm 1998 chia tách bản Xày làm hai bản đặt tên là bản Xày và Chiềng Xày từ đó đến nay.
Bản Xày có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chiềng Xày; phía tây giáp bản Din; phía nam giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa. 
Bản có các dòng họ Hà, Văn, họ Hà đến từ Bá Thước và từ Hòa Bình vào cuối thế kỷ XVII.
Họ Vi cũng có hai nhánh: Vi Khăm và Vi Nọi (Vi Nọi tức Vi nhỏ làm dân), họ Vi đến từ mường Mót, mường Din, huyện Thường Xuân ngày nay, một số từ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào di cư xuống. 
Bản Xày có Pù Huống là khu rừng cấm ngày xưa, suối Xày có nhiều nhánh nhỏ hợp thành, ngày xưa các lang đạo cấm khai thác và phát rẫy, khu đầu nguồn con suối này, “Huống” theo tiếng Thái gọi là Cấm.
 Pha Cháo (có ngọn núi cao nhọn hoắt lên như mũi giáo, tiếng Thái gọi là cháo); Pù Có Bá (tiếng Thái cây đa gọi là “Co bá” thuộc cây cổ thụ thiêng của người Thái). Cánh Xúng là thác đổ trên cao xuống (tiếng Thái “Xúng” có nghĩa là cao). Huối Húp (do ở xa lại có nhiều mây mù bao bọc, ta nhìn thấy chỉ có bóng nên tiếng Thái gọi là Húp, (có nơi gọi húp là hớp “hình bóng”). Bo Tá Khao (mó nước có mùi tanh của đồng, tiếng Thái gọi tanh là “khao”).
Bản Din (Dên)
Bản Din là một bản cổ, thuộc mường Chự ngày xưa. Bản Din tọa lạc ở một nơi đất đai màu mỡ, bằng phẳng, thoáng mát nên gọi là Din. Din theo tiếng Thái là mát.
Bản Din có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xày; phía tây giáp xã Trung Tiến; phía bắc giáp bản Ken, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Dân trong bản chủ yếu là dân tộc Thái. Ngoài ra có một số người Mường, người Kinh cùng chung sống đoàn kết, hòa thuận trong bản mường.
Thời kỳ đầu mới chỉ có 7 hộ, khoảng 40 nhân khẩu. Đứng đầu bản lúc này là ông Hà Quý Công tự là Phúc. Do lúc đầu số hộ còn ít, chưa nên làng, bản nên mỗi khi có công việc gì lớn phải sát nhập với các bản lân cận là bản Xày, bản Lợi.
Thời gian sau, bản có 12 hộ, khoảng 80 khẩu. Đứng đầu bản là cháu của ông Hà Quý Công, có tên là Hà Văn Tự hay còn gọi là ông Chánh Chự. Bản Din là vùng đất trung tâm của Tạo Cai ngày xưa. 
Ông Hà Quý Công là người đứng đầu bản, sau này là tạo mường Chự, được dân bản tin yêu. Khi giặc Hán sang xâm lược nước ta, đến vùng này, chúng đã đóng đồn ở điểm cao sau bản để quan sát. Nơi giặc đóng quân người dân gọi là Póm Đồn nghĩa là Núi Đồn. Ông Công đã chỉ huy dân bản đánh đuổi lũ giặc xâm lược ở Póm Đồn. Khi ông mất, bọn giặc đã tìm đến đào mộ để lấy hài cốt ông đốt thành than cho vào nòng súng bắn xuống sông cho trôi tất cả. Chính vì vậy, dân bản gọi là Ung Nghiêm (theo tiếng Thái nghĩa là Bác Diêm Sinh). Dấu tích ngôi mộ và đá bia mộ của ông vẫn còn. 
Còn Pha Cốt là một hang sâu trong dãy núi đá của bản. Ngày xưa mỗi khi có giặc xâm lược, người dân thường đến đây trú ẩn - coi nơi đây như là một lô cốt trong lòng núi. 
Bản Din là nơi gần trung tâm của mường Chự nên khi sang xâm lược nước ta, thực dân Pháp lấy nơi đây làm nơi đồn trú, xây một nhà thờ ngay trong bản, đến nay dấu tích nhà thờ vẫn còn bậc cầu thang xây và giếng nước. Hươn Pó Đạo nghĩa là nhà thờ Đạo hoặc nhà cha Đạo.
Bản Din hiện nay có địa hình bằng phẳng, nằm dọc theo sông Lò, con đường Quốc lộ 217 chạy qua giữa bản nên rất thuận tiện cho giao lưu trao đổi hàng hóa, kể cả đường thủy và đường bộ.
Bản Lợi
Bản Lợi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Din; phía tây giáp bản Tong, xã Trung Tiến; phía nam giáp Khu 22 rừng phòng hộ sông Lò; phía bắc giáp bản Bất, huyện Quan Hóa.
Dân cư trong bản 100% là họ Hà Văn có nguồn gốc từ huyện Bá Thước lên và từ Hòa Bình di cư vào cùng làm ăn sinh sống, xây dựng nên bản Lợi.
Bản Lợi có: suối Bo Mạ, Na Bo ruộng lấy nước bằng mó nước, tiếng Thái mó gọi là Bo; Núi Co Phày là dãy núi có nhiều cây dâu da (tiếng Thái gọi là Co Phày), Pù Pục là trên đỉnh đồi rất nhiều cây bưởi, tiếng Thái bưởi gọi là Mác Pục (Co Pục), Pù Bái là dãy núi có nhiều dây mây, tiếng Thái gọi là Bái.
2.3.3. Xã Trung Tiến
2.3.3.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Tiến có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Hạ tại bản Din.
Phía tây giáp xã Trung Thượng tại khe cạn Trường Tiểu học bản Bách, xã Trung Thượng.
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Tiến theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.005,38ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 3.739,65ha.
Đất phi nông nghiệp: 160,09ha.
Đất chưa sử dụng: 105,64ha.
Tổng dân số xã Trung Tiến theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.968 người. Trong đó: nam giới 1.494 người, nữ giới 1.474 người; mật độ dân số 74 người/km2.
Trung Tiến được tách ra từ xã Trung Thượng. Theo Nghị định số 11/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2008: Thành lập xã Trung Tiến thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở điều chỉnh 4.005,38ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu của xã Trung Thượng. Sau khi thành lập, xã Trung Tiến có 4.005,38ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu. 
Xã Trung Tiến gồm các bản sau: bản Cum (còn gọi là bản Cum trong), bản Pa Chè (còn gọi là bản Cum ngoài), bản Lầm (ở phía bắc sông Lò), bản Lốc (ở Km 23, đường 217), bản Tong (ở phía bắc sông Lò và một số hộ ở dọc đường 217), bản Pọng (tên gọi khác là Pọng Đe ở theo đường từ Km 22 đi Nam Động, cách đường 217 khoảng 5km về phía bắc), bản Đe (tên gọi khác là bản Đe Nọi, ở hai bên đường của tuyến đường từ Km 22, đường 217 đi Nam Động. Cách đường 217 khoảng 6km về phía bắc (trong bản Pọng 1km) giáp với bản Bật, xã Nam Động), tiểu khu Km 22 (Khu dân cư của Cán bộ công nhân viên Lâm trường sông Lò, nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò).
Về điều kiện địa hình, kinh tế, xã hội của xã Trung Tiến tương đồng với xã Trung Thượng trước khi chia tách thành hai xã là Trung Thượng và Trung Tiến.
2.3.3.2. Các bản và tiểu khu thuộc xã Trung Tiến
Tiểu khu Km 22 
Tiểu khu Km 22 là đơn vị hành chính ở cuối xã Trung Tiến, giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn, có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Din (Dên), xã Trung Hạ, phía tây, phía nam và phía bắc giáp bản Tong.
Tiểu khu Km 22 ngày xưa có tên là Piềng Xy Ly, từ ngày chia tách xã đến nay lấy tên là tiểu khu Km 22, tiểu khu có 3 dân tộc anh em sinh sống là Thái, Mường, Kinh. Tiểu khu chủ yếu là công nhân Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò đã về hưu và một số cán bộ, công nhân viên chức sinh sống.
Tiểu khu Km 22 không có đất sản xuất, chủ yếu sống bằng lương hưu, phụ cấp và buôn bán nhỏ lẻ.
Bản Tong 
Bản Tong có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lợi, xã Trung Hạ; phía tây giáp bản Lầm, bản Pọng, xã Trung Tiến; phía nam giáp bản Lộc, tiểu khu Km 22, xã Trung Tiến; Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Tong trong tiếng Thái là chuối rừng hoặc lá dong. Trước khi thành lập bản ở đây là một bãi rộng có nhiều cây chuối rừng và lá dong với mó nước từ Pha Ngua (núi bò) chảy vào bãi. Ông cha xưa thấy được lợi thế đó đã đến đây lập bản, khai phá làm ruộng nước 2 vụ. Vì thế đồng bào đặt tên bản là bản Tong (bản chuối rừng, lá dong).
Bản Tong trước đây gồm cả Piềng Xy Ly (nay là tiểu khu dân cư Km 22 - tương đương bản) trực thuộc xã Trung Tiến. Piềng Sến đối diện Piềng Xy Ly về phía bắc sông Lò cũng là một bãi rộng thuộc đất bản Tong.
Cư dân đều là người dân tộc Thái. Đồng bào cư trú dọc hai bên sông Lò và tuyến đường 217 nhưng phần lớn ở phía bắc sông Lò.
Phía trong khu dân cư bản Tong có núi đá tên là Pha Ngua (núi bò). Tuy núi không cao lắm nhưng chất lượng đá khá tốt, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật phục vụ xây dựng các công trình cầu đường. Đây là núi đá có chất lượng tốt ở địa bàn huyện Quan Sơn. 
Du khách có dịp lên Quan Sơn khi qua đoạn Km 22 + 200 đường 217 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) sẽ gặp hàng dãy guồng nước (láng lộc nặm) lớn nhỏ xếp hàng dọc, ngày đêm cần mẫn đưa nước sông Lò lên tưới cho cánh đồng bản Tong. Nơi đây có mó nước Pha Ngua chảy ra cánh đồng nhưng không đủ, đồng bào phải lấy nước sông Lò lên tưới ruộng để cày cấy 2 vụ.
Guồng nước tiếng Thái gọi là “Lộc nặm” “Láng Lộc nặm”. Do vậy đối diện với bản Tong về phía nam sông Lò tại Km 23 có một bản tên là bản Lộc. Bản Lộc trước đây cũng làm guồng lấy nước sông Lò lên tưới ruộng như bản Tong nhưng đến năm 1962, bản Lộc đào được tuyến mương dài trên 5km lấy nước suối Cum về tưới ruộng nên bản Lộc không còn sử dụng láng lộc nặm (guồng nước) nữa. 
Thời kỳ thành lập hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, bản Lộc, bản Tong chung một hợp tác xã gọi là HTX nông nghiệp Lộc - Tong. HTX Lộc - Tong là lá cờ đầu đạt 5 tấn/ha/năm, thời kỳ 1964 - 1968. Nhiều nơi trong huyện Quan Hóa cũ đã về đây tập huấn học tập kinh nghiệm.
Bản Pọng
Bản Pọng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lốc; phía tây giáp bản Đe; phía nam giáp với bản Khạn, xã Trung Thượng; phía bắc giáp bản Tong.
Là bản thuộc vùng núi cao nên bản Pọng có rất nhiều núi đồi, hang động, thung lũng, khe suối. Tiêu biểu là các ngọn núi: Pù Ky, Pù Bau, Pha Ka, Pha Chưng; hang Pha Ka; hang Pù Bau; thung lũng Suối Cuôn, suối Hóm; suối Đe; mó suối Hóm.
Người Thái ở bản Pọng có các dòng họ: Vi, Lương, Hà, Ngân. Đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Đe
Bản Đe có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lợi, xã Trung Hạ, phía tây giáp bản Khạn, xã Trung Thượng, phía nam giáp bản Pọng, phía bắc giáp bản Bất, xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Bản có con suối Đe chảy qua, ngày xưa có tên gọi là Đe Nọi, có con đường Lốc, Tong - Nam Động đi qua.
Bản Đe được thiên nhiên ưu đãi nhiều tài nguyên rừng, có nhiều con suối nhỏ như suối Bá, suối Hán...
Bản Lốc 
Bản Lốc nằm ở vị trí trung tâm xã Trung Tiến, trước đây gọi là bản Lộc (Lộc - Tong), có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Lầm; phía nam giáp bản Chè; phía bắc giáp bản Tong, xã Trung Tiến, huyện Quan Sơn.
Bản Lốc có đường Quốc lộ 217 chạy qua về phía đông nam, phía tây bắc có sông Lò chạy bao quanh bản. Phía tây bắc có cánh đồng lúa 13ha bao bọc bản. Phía nam có con mương Cum bắt nguồn từ suối Cum với chiều dài 5km tưới tiêu cho cánh đồng 13ha.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chính cánh đồng bản Lốc lúc đó gọi là HTX Lộc - Tong (vì 2 bản cùng một HTX) là cánh đồng đạt 5 tấn/ha thuộc loại năng suất cao nhất huyện Quan Hóa lúc bấy giờ.
Dân cư trong bản 100% là dân tộc Thái, thuộc các dòng họ: Vi, Mạc, Hà, Lữ.
Bản Lầm
Bản Lầm nằm ở phía bắc sông Lò. Ngày xưa bản Lầm có tên là bản Lùm (tiếng Thái “Lùm” nghĩa là gió, bản hứng nhiều gió nên đồng bào đặt tên là bản Lùm - bản Gió). Theo năm tháng gọi thành bản Lầm như ngày nay
Bản Lầm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tong, bản Lốc, xã Trung Tiến; phía tây giáp bản Bách, xã Trung Thượng; phía nam giáp bản Lốc, phía bắc giáp bản Pọng, xã Trung Tiến. 
Bản Lầm đối diện với bản Lốc từ đỉnh Km 23, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) đi vào bên tay phải. Qua bản Lốc, qua sông Lò là đến bản Lầm.
Đất đai bản Lầm không rộng lắm, tài nguyên thiên nhiên cũng dần cạn kiệt. Rừng gỗ, nứa, vầu rất ít. Nhân dân thu nhập chủ yếu nhờ trồng lúa nước và rừng luồng trồng ở các dông núi, ven suối Đe và sông Lò.
Bản Lầm có sông Lò chảy từ bản Bách xuống đoạn qua bản Lầm dài gần 1km. Suối Đe từ bản Đe chảy qua bản Pọng qua bản Lầm và đổ ra sông Lò. Trước những năm 70 của thế kỷ XX, suối Đe, sông Lò lưu lượng nước còn lớn, cá, tôm, cua, ốc ở đoạn sông suối này rất nhiều, là nguồn lợi thủy sản lớn. Nay nước sông, suối đều cạn dần, tôm cá ít dần, nên người dân tự đào ao thả cá để có thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn hàng ngày, tách dần lệ thuộc vào thiên nhiên.
Bản Chè (Pa Chè)
Bản Chè (Pa Chè) có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách, xã Trung Thượng; phía tây giáp bản Tiên, xã Lâm Phú; phía nam giáp với bản Cum, phía bắc giáp bản Lầm, xã Trung Tiến.
Bản Chè có sông Lò chảy qua, có suối Cum, có mương Na Sân, mó Hín Heo, Có Phó, có hang Thẳm Lum, Keo To, Có Phó...
Người Thái bản Chè có các dòng họ: Hà, Lương, Lữ, và họ Đỗ là họ của người Kinh. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Cum
Bản Cum có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, phía tây giáp bản Ngàm, xã Trung Thượng, phía nam giáp rừng phòng hộ Sông Lò, phía bắc giáp bản Chè, xã Trung Tiến.
Bản Cum có con suối Cum chảy qua bản, bắt nguồn từ rừng phòng hộ sông Lò, núi Pù Mằn, có đường từ Km 25 vào bản.
Ngày xưa bản Cum cùng chung với bản Pa Chè gọi là bản Cum trong, còn bản Pa Chè ngày nay gọi là bản Cum ngoài.
2.3.4. Xã Trung Thượng
2.3.4.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Thượng có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Tiến.
Phía tây giáp thị trấn Quan Sơn.
Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa (Chiềng, Bất).
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Thượng theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 5.617,85ha. Trong đó:
 - Đất sản xuất nông nghiệp: 5.109,52ha.
 - Đất phi nông nghiệp: 163,38ha.
 - Đất chưa sử dụng: 344,95ha.
Tổng dân số xã Trung Thượng theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.267 người. Trong đó: nam giới 1.146 người, nữ giới 1.121 người; mật độ dân số 40 người/km2.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ba xã Ái Thượng, Ái Hạ, Ái Xuân sát nhập thành xã Trung Hạ.
Đến năm 1966, theo Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã chia xã Trung Hạ thành 2 xã: 
- Xã Trung Thượng gồm 12 bản: Bàng, Máy, Bôn, Ngàm, Khạn, Bách, Lầm, Cum, Lốc, Tong, Đe Pọng, Đe Nọi.
- Xã Trung Hạ gồm 6 bản: Lợi, Din, Xày, Bá, Xanh, Lang.
Theo Nghị định số 11/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Mường Lát, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngày 23 tháng 12 năm 2008: Thành lập xã Trung Tiến thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở điều chỉnh 4.405,5ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu của xã Trung Thượng. 
Sau khi thành lập, xã Trung Tiến có 4.405,5ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Trung Tiến: phía đông giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn; phía tây giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa. Xã Trung Thượng còn lại 5.217,41ha diện tích tự nhiên và 2.894 nhân khẩu.
Hiện nay, xã Trung Thượng gồm các bản: Bách, Ngàm, Bôn, Máy, Khạn và bản Bàng. 
Địa bàn Trung Thượng có nhiều núi đồi, sông suối. Các núi Phá Bang, Phá Phanh ở bản Bàng. Phá Phanh có nghĩa chỉ sự trùng điệp của các ngọn núi. Núi Phá Tót (Tót Nọi, Tót Luống), núi Pù Mằn, Phá Cán đều ở bản Ngàm. Ngoài ra còn có Phá Cốc ở bản Bách.
Các ngọn đồi: đồi Pù Ki ở bản Bách. Pù nghĩa là đồi; còn Ki nghĩa là thiêng, độc. Tương truyền rằng đồi Pù Ki trước đây là ngọn đồi thiêng và độc. Pù Na Pháng, Pù Có Hướng, Pù Na Pọng, Pù Pống (ở bản Ngàm), Pù Có Hướng có nghĩa là đồi cây thị, vì ngọn đồi này ngày xưa có hai cây thị to tự mọc lên giữa rừng rậm, nhưng sau này thì người dân đốn cây để lấy đất làm nương rẫy. Pù Pống nghĩa là đồi cá chuối vì trên ngọn đồi này, ở bất cứ chỗ nào có nước chảy qua đều có rất nhiều cá chuối sinh sống. Pù Pa Nghịu (ở bản Khạn) có nghĩa là đồi cây gạo; Póm Pa Hốc, Pù Pa Mác (ở bản Bàng).
Núi đồi ở Trung Thượng cung cấp nguồn gỗ, sinh vật cảnh, giữ nguồn nước và là nơi sinh sống của rất nhiều loại động, thực vật. Là nơi sinh sống của đại đa số các cây gỗ quí như: sa mu, sến, táu, đinh hương, lát hoa, chò chỉ, dổi, vàng tâm, trầm hương và nhiều loại gỗ tạp khác nên đồi vừa là nguồn tài nguyên, vừa có tác dụng giữ nguồn nước cho các sông suối trên địa bàn.
Địa bàn Trung Thượng có sông Lò chảy qua và các suối như: Suối Pọng, suối Piêng, suối Pa Páo (bản Ngàm). Trong đó, suối Piêng và suối Pa Páo hợp lại thành suối Ngàm, suối Ly, suối Nộc Kệch (bản Bôn).
Xã Trung Thượng tập trung phần lớn là người Thái nên phong tục tập quán, nếp sống văn hóa của cư dân trong xã mang đậm nét văn hóa Thái.
2.3.4. 2. Các bản thuộc xã Trung Thượng
Bản Bách
Bản Bách có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chè, xã Trung Tiến; phía nam giáp bản Cum; phía tây giáp bản Ngàm; phía bắc giáp bản Pọng, xã Trung Tiến.
Bản Bách có núi hang Phá Cán; hang Phá Bách; đồi Pu Cúc, đồi Cụ Động...
Người dân bản Bách canh tác trên xứ đồng gọi là Nà Piềng Phai Nờ. Đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Ngàm
Bản Ngàm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách; phía nam giáp núi Pù Mằn; phía tây giáp bản Bôn; phía bắc giáp bản Khạn.
Bản Ngàm có núi Phá Tót và núi Pù Mằn giáp bản Xum. Trong bản có con suối Ngàm chảy qua và một số suối khác như suối Pọng.
Dân tộc Thái chiếm 99,3%. Còn lại là dân tộc Kinh và dân tộc Mường: Người Thái bản Ngàm có 2 dòng họ chính là họ Hà và họ Lữ. Ngoài ra còn có các họ khác như họ Vi, họ Lương...
Ngoài làm ruộng nước, dân bản còn làm nương rẫy, khai thác lâm sản như vầu, nứa, luồng, gỗ. Bà con thường chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm phổ biến như: trâu, bò, lợn, gà theo lối chăn thả.
Bản Ngàm có ông Lữ Văn Vượng sinh năm 1947, là người làm khèn bè nổi tiếng của huyện Quan Sơn. 
Bản Bôn
Bản Bôn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía nam giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp bản Máy; phía bắc giáp bản Khạn.
Bản Bôn có địa hình đồi núi, cao phức tạp. Núi Háng Quén, núi Hín Dón, núi Phá Tót. Đồi Pu Pống, Luốc Ly, Pu Pa Hịa, Phá Me, Buốc Chạng; Hang Phá Quén, Ché Phái, Kanh Kê; Thung lũng Kanh Kè, Nà Bó.
Dòng suối chảy từ trên núi Pù Khạn xuống đến bản gọi là suối Bôn; mương dẫn nước ra đồng gọi là mương Bôn. Mó nước ở đồng Bó gọi là mó Nà Bó.
Bản Bôn có các xứ đồng: Na Quán, Na Pạng, Na Héo, Na Co Cai, Na Bó, Na Mỵ.
Bản Bôn có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường, Kinh. Bản Bôn có hai dòng họ chính là họ Lương và họ Hà và các họ khác như họ Lữ, họ Vi...
Bản Khạn
Bản Phạn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách; phía nam giáp bản Máy; phía tây giáp bản Bàng; phía bắc giáp bản Đe, xã Trung Tiến, bản Bất, xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Là một bản thuộc vùng núi cao nên bản Phạn có địa hình chủ yếu là đồi núi, có nhiều hang động, khe suối, mương mó. Tiêu biểu là phá Thắm Đúm, phá Pó Căng Lăng Lươn, phá Giá, phá Phụn. 
Hang động Bo Biêng; thung lũng Thắm Đúm, Piêng Pa Hán.
Suối Khạn, suối Na San; mương Pa Bán, mương Bó Ngoạng, mương Bo Khằm, mó Bo Bản Khạn, mó Bo Khằm, mó Ngoạng. Các xứ đồng: Na Bán, Na Hụa Khoai, Na Húa Tá, Na Héo, Na Sang.
 Dân cư bản Khạn 100% là người dân tộc Thái. Bản Khạn có hai dòng họ là họ Hà và họ Vi. Ngoài ra còn có nhiều họ khác cùng sinh sống. 
Người dân bản Khạn ngoài việc đồng áng, chăm sóc cấy trồng lúa nước, hoa màu, còn lên vùng rừng phá Thắm Đúm, pha Pa Căng Lăng Lươn, phá Giá, phá Phụn, dọc theo Suối Khạn, suối Na San để hái lượm lâm sản.
Bản Máy
Bản Máy có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bôn; phía tây giáp bản Bàng; phía nam giáp khu 6, thị trấn Quan Sơn; phía bắc giáp bản Khạn.
Diện tích tự nhiên của bản là 616,5ha. Bản Máy có con suối Máy chảy ở giữa bản, dài 4km. 
Bản Máy có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Kinh. Người Thái bản Máy có các dòng họ là Lương, Ngân, Hà. Người dân sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp. 
Bản Bàng
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Bàng thuộc mường Chự. Bản Bàng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Máy; phía tây và phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa; phía nam giáp bản Lấm, xã Sơn Lư.
Bản Bàng có địa hình phức tạp, có nhiều núi như núi Phá Bàng, núi Pha Phứng, Phá Buốc Mú, Phá Hín Heo, Phá Huối Nhụng, Phá Cảnh Lơ, Phá Phánh, có các đồi như đồi: Tén Chướng, Tén Chóng, Khóc Mú, Hín Heo, Nhót Lén, Nhóc Lướng... có các hang Phá Bang, hang Po Páng, có suối Bàng, suối Ngách, suối Nguôi, suối Thắm Háng. Có mương Luông, mương Pa Mác. 
Bản có mó Bo Cúng, mó Bo Khuôn, mó Co Phường và các xứ đồng: Na Bang, Na Chá, Na Héo, Na Bo Cúng, Na Khoanh, Na Héo Pang, Na Piêng Có Mị, Na Pa Mác.
Dân cư trong bản 100% đều là người dân tộc Thái. Người Thái bản Bàng có các dòng họ chính là họ Hà, Ngân, Lương, Vi.
2.3.5. Thị trấn Quan Sơn
2.3.5.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Thị trấn Quan Sơn có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Thượng.
Phía tây giáp xã Sơn Lư. 
Phía nam giáp xã Sơn Hà.
Phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Tổng diện tích tự nhiên của thị trấn Quan Sơn theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.44,31ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 685,02ha.
Đất phi nông nghiệp: 145,38ha.
Đất chưa sử dụng: 13,91ha.
Tổng dân số thị trấn Quan Sơn, theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, tính đến ngày 31/12/2015 là 2.830 người. Trong đó: nam giới 1.434 người, nữ giới 1.396 người; mật độ dân số 335 người/km2.
Thị trấn Quan Sơn được thành lập theo Nghị định số 131/2003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ, được tách ra từ xã Sơn Lư: thành lập thị trấn Quan Sơn - thị trấn huyện Quan Sơn trên cơ sở 579,40ha diện tích tự nhiên và 2.820 nhân khẩu của xã Sơn Lư. 
Thị trấn Quan Sơn trước đây là huyện lỵ Quan Sơn đặt trên phần đất của bản Lấm, xã Sơn Lư, thời xưa thường gọi là Piềng Hin Lài (bãi đá hoa).
Thị trấn Quan Sơn nằm ở trung tâm huyện Quan Sơn. Từ Km 37, Quốc lộ 217 xuống đến Km 32 dọc theo Quốc lộ 217. 
Dân cư thị trấn gồm 3 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống là Thái, Mường, Kinh và một số ít người dân tộc khác như Hoa, Dao, Tày...
Thị trấn có 37 dòng họ phân bố ở 6 khu. Các dòng họ có số khẩu đông nhất là họ Hà, Nguyễn, Lê, Vi, Phạm, Lò và họ Ngân.
Thị trấn khi mới thành lập còn khá nhiều hộ nghèo, chủ yếu là các hộ dân bản Lấm. Đến nay, đời sống kinh tế xã hội của dân cư thị trấn đã phát triển, an ninh - quốc phòng được giữ vững. Thế mạnh phát triển kinh tế truyền thống của thị trấn là lâm nghiệp và dịch vụ thương mại.
Hiện nay, diện mạo thị trấn Quan Sơn đang mỗi ngày thêm khởi sắc. Nhiều nhà cao tầng mọc lên bên cạnh những nếp nhà sàn kiểu mới, nhiều doanh nghiệp, doanh nhân là người Kinh sinh sống ở thị trấn. 
Thị trấn Quan Sơn khi mới thành lập mọi hoạt động chủ yếu theo dọc đường 217, phía bắc sông Lò. Nay đã có cầu ở Km 34 nên sinh hoạt giao lưu kinh tế, văn hóa được mở rộng sang cả phía nam sông Lò, góp phần tạo nên vẻ đẹp cảnh quan của thị trấn miền núi cao. Hiện nay, thị trấn Quan Sơn được mở rộng đến Km 37 đường vành đai biên giới đi Sơn Hà.
2.3.5.2. Các khu phố thuộc thị trấn Quan Sơn
Khu 6
Khu 6 có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Trung Thượng; phía tây giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp khu 5 thị trấn; phía bắc giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn.
Khu 6, thị trấn Quan Sơn có nguồn gốc từ bản Lúm (Lấm), theo tiếng Thái nghĩa là thung lũng thấp. Xưa kia, nơi đây là một thung lũng thuộc mường Hạ, mường Mò.
Khu 6 có các sông, suối, piềng, bãi: sông Lò, suối Ngoi Ngố, suối Cài, suối Ban; piềng Héo Bé, piềng Xong Cóng, piềng Khà, suối Quán Pót, đồi Pom Đồn, đồi Phòng Không.
Khu 6 phần lớn là dân tộc Kinh từ các vùng quê lên công tác rồi ở lại định cư xây dựng quê hương mới ở thị trấn. Các dòng họ có số hộ và nhân khẩu đông nhất là họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Hoàng, họ Bùi, họ Lữ, họ Trịnh, họ Ngô. Ngoài các họ kể trên là các dòng họ: Lộc, Quách, Lưu, Chung, Tào, Tuyết, Mạc, Cao, Đinh, Dương, Phùng, Tống, Ninh, Lương, Trương, Lò, Ngân.
Khu 5
Khu 5 có nguồn gốc ban đầu là tiểu khu Km 35 chia tách thành khu 5 vào năm 2003.
Khu 5 có vị trí địa lý: phía đông giáp sông Lò; phía tây giáp UBND huyện Quan Sơn; phía nam giáp Khu 4; phía bắc giáp Khu 6 thị trấn.
Trên địa bàn Khu 5 có suối Hin Lài.
Hiện nay, Khu 5 có nhiều dòng họ cùng công tác, làm ăn chung sống gắn bó bên nhau. Phần lớn là người Kinh lên công tác, ở lại xây dựng quê hương mới. Tiêu biểu có các dòng họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Trần, Đoàn. Ngoài các họ trên là các dòng họ: Đinh, Đỗ, Bùi, Phạm, Vũ, Hà, Trịnh, Lữ, Ngân, Lương, Kiều, Hồ, Quách, Tào.
Khu 4
Khu 4 thị trấn Quan Sơn hình thành từ khi thành lập thị trấn Quan Sơn (năm 2003). Có vị trí địa lý: phía đông giáp chợ thị trấn; phía tây giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện; phía nam giáp Khu 3; phía bắc giáp Khu 5.
Hiện nay, Khu 4 có nhiều dòng họ, chủ yếu là dân tộc Kinh từ miền xuôi chuyển đến. Các dòng họ có số hộ và số khẩu đông nhất là họ Phạm; họ Nguyễn; họ Lương; họ Lê; họ Đỗ. Ngoài ra còn có các dòng họ: Đinh, Võ, Đào, Trịnh, Trần, Dương, Lưu, Bùi, Hà, Hắc, Ngô, Chu, Lữ, Mai, Bàn, Đàm. 
Tuy có nhiều dòng họ từ các vùng quê khác nhau nhưng dân cư trong khu phố luôn đoàn kết yêu thương đùm bọc, đồng cam cộng khổ chung sức xây dựng quê hương mới ngày càng ấm no hạnh phúc.
Khu 3
Khu 3 mới được thành lập do chia tách khu phố theo Nghị định số: 131/2003/NĐ-CP thành lập thị trấn Quan Sơn.
Khu 3 có vị trí: phía đông giáp Khu 4, thị trấn Quan Sơn; phía tây giáp Khu 1, thị trấn Quan Sơn; phía nam giáp sông Lò; phía bắc giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện.
Khu 3 hiện nay có 21 dòng họ từ khắp các vùng miền của tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh khác cùng chung sống đoàn kết bên nhau. 
Các dòng họ là người Thái có số hộ và số khẩu đông nhất là: họ Lò, họ Hà; các họ của người Kinh đông nhất là họ Lê, họ Ngô, họ Hoàng, họ Vũ... Khu 3 còn có các dòng họ: Vi, Trần, Trịnh, Quách, Đỗ, Phạm, Trương, Đinh, Mai, Tào, Lương, Đặng, Hồ. Tuy có nhiều dòng họ từ các vùng quê khác nhau nhưng dân cư trong khu phố luôn đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Vì vậy, đời sống của khu phố ngày càng phát triển. 
Khu 2 
Khu 2 có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Trung Thượng; phía tây và phía bắc giáp sông Lò; phía nam giáp suối Hạ, xã Sơn Hà.
Khu 2, thị trấn Quan Sơn trước đây gọi là bản Búng Lúm và bản Piêng Hiến. Sở dĩ bản có tên gọi như vậy bởi vì trước đây, bản có mó nước và rừng xoan nên dân bản đã lấy đặc điểm của vùng đất để gọi tên bản.
Trên địa bàn có con sông Lò, suối Lốc Cống, mó Lốc Cống; mó Búng Lúm; núi San Pom; piềng Hiến, piềng Sộp Hạ; 
Hiện nay, Khu 2 có các dòng họ là Lò, Ngân, Hà, Vi, Lương, Lữ, Lộc, Lê, Bùi, Hoàng. Trong đó, các dòng họ Lò, Hà, Vi có số hộ và khẩu đông nhất. 
Về nguồn gốc của các dòng họ: các cụ cao niên trong các dòng họ truyền lại: họ Ngân có nguồn gốc từ mường Túng Muống, tỉnh Sơn La, Lai Châu chuyển đến; họ Hà từ mường Khoòng, huyện Bá Thước chuyển lên; họ Lò từ bản Muống, xã Trung Xuân, họ Lữ từ xã Trung Xuân chuyển đến. Họ Vi từ mường Pi, tỉnh Hòa Bình di cư đến. Họ Hoàng từ miền xuôi lên.
Khu 2 có đền Póm Thiếng Sân là nơi thờ cúng của bản Lúm ngày xưa và nay do dòng họ Hà Văn đang thờ cúng.
Khu 1
Khu 1 trước đây gọi là bản Lấm. Gọi là Lấm bởi vì bản ở một thung lũng thấp hơn thuộc phía dưới mường Mò, mường Hạ nên tên cũ gọi là bản Lúm, sau này gọi là bản Lấm.
Bản Lấm có vị trí địa lý: phía đông nam giáp Khu 3, thị trấn Quan Sơn; phía tây nam giáp xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn; Phía nam giáp sông Lò; Phía bắc giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện.
Khu 1 có các con suối Búng Bán, suối Hiến, suối Hượn, suối Huông, piềng Huông chảy qua địa bàn.
Hiện nay, Khu 1 có 19 dòng họ cùng chung sống bên nhau. Mỗi dòng họ có nguồn gốc xuất xứ từ những vùng quê khác nhau:
Họ Lò từ Lạng Sơn chuyển đến; họ Ngân từ Sơn La, Lai Châu đến; họ Lương có 2 hộ với 10 khẩu từ Yên Khương, Lang Chánh chuyển đến; Họ Vi có nguồn gốc từ mường Pi, tỉnh Hòa Bình; Họ Hà có nguồn gốc từ mường Khoòng, huyện Bá Thước chuyển đến 
Các dòng họ: Lê, Phạm, Trần, Dương, Trương, Nguyễn, Đỗ, Đặng, Ngô, Mai, Trịnh, Đinh đều từ dưới xuôi lên công tác, làm ăn rồi ở lại sinh sống ở Khu 1.
2.3.6. Xã Sơn Lư
2.3.6.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Sơn Lư có vị trí địa lý: phía đông giáp thị trấn Quan Sơn; phía tây giáp xã Sơn Điện; phía nam giáp xã Tam Lư và xã Sơn Hà; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Lư theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.557,24ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 4.059,87ha. 
Đất phi nông nghiệp: 167,08ha.
Đất chưa sử dụng: 330,29ha.
Tổng dân số xã Sơn Lư theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.410 người. Trong đó: nam giới 1.268 người, nữ giới 1.142 người; mật độ dân số 53 người/km2.
Xã Sơn Lư thời phong kiến thuộc tổng Tam Lư, gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, tổng Tam Lư gồm có 7 xã là xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư.
- Xã Tam Lư gồm có các bản: Hạ, Xum, Làu, Nà Sài.
- Xã Hậu Lư gồm có các bản: Bon, Hậu, Sỏi, Bìn, Hẹ.
- Xã Sơn Lư có các bản: Lấm, Păng, Na Sai.
- Xã Thượng Lư có các bản: Mò, Phe, Cha Lung, Pa.
- Xã Hàm Lư có các bản: Ngàm, Bôn, Kham, Khà, Có Hướng.
- Xã Trung Lư có các bản: Hát, Muống, Sại, Cha Lóc, Hao.
- Xã Định Lư gồm có các bản: Tình, La, Sát.
Năm 1939, Thực dân Pháp và chính quyền phong kiến đã sát nhập 7 xã trên thành 3 xã và đặt tên là: xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư.
- Xã Thượng Lư bao gồm các bản: Mò, Ngàm, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hậu. Hát, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi và bản Bìn.
- Xã Trung Lư gồm các bản: Muống, Sại, Cha Lóc, Tình, La và bản Sát.
- Xã Sơn Lư gồm các bản: Hạ, Xum, Làu, Lấm, Păng, Hiềng và bản Na Sài.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư. 
Như vậy, xã Sơn Lư trước năm 1966 thuộc xã Tam Lư.
Thực hiện Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 13/4/1966 chia tách xã Tam Lư thành 2 xã: xã Sơn Lư và xã Tam Lư. 
Xã Sơn Lư lúc này gồm có 9 bản: Lấm, Păng, Bon, Hẹ, Bìn, Sỏi, Làu, Xum và Hạ.
Theo Quyết định số 19 - HĐBT, ngày 29 tháng 2 năm 1988: Xã Sơn Lư chia tách thành 2 xã lấy tên là xã Sơn Lư và xã Sơn Hà.
- Xã Sơn Lư gồm các chòm bản Bon, bản Hao, bản Hẹ, bản Păng, bản Sỏi, bản Lấm và bản Bìn với 7.862ha diện tích tự nhiên và 2.735 nhân khẩu.
 - Xã Sơn Hà gồm các chòm bản Hạ, Làng, Làu, Xum với 7.000ha diện tích tự nhiên và 2.725 nhân khẩu.
Đến năm 1996, thành lập huyện Quan Sơn, xã Sơn Lư có 473 hộ, 1.945 nhân khẩu và các bản sau: Bản Sỏi, bản Bìn, bản Hẹ, bản Hao, bản Bon, bản Păng, bản Lấm.
Năm 2003, theo Nghị định số 131/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 về việc thành lập thị trấn Quan Sơn trên cơ sở 579,40ha diện tích tự nhiên và 2.820 nhân khẩu của xã Sơn Lư.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thị trấn Quan Sơn, xã Sơn Lư còn lại 5.916,87ha diện tích tự nhiên và 2.057 nhân khẩu.
Địa danh và địa giới xã Sơn Lư có từ đấy và ổn định cho tới nay.
Hiện nay xã Sơn Lư gồm các bản: Păng, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi, Bìn.
Xã Sơn Lư nằm dọc theo tuyến Quốc lộ 217, từ Km 36 + 500 (giáp đất thị trấn Quan Sơn) đến Km 49 (giáp xã Sơn Điện) có nhiều đồi núi, khe suối nhỏ ngăn cách. 
Xã Sơn Lư có sông Lò chảy từ xã Tam Lư ra gặp đường 217 tại Km 40 phía dưới bản Bon. Có nhiều suối trong đó có suối Tuốp là suối lớn nhất do 2 suối Bìn và suối Sỏi hợp lại tại Km 46 + 300 tạo thành. Suối Tuốp kéo dài từ Km 46 + 300 xuống đến Km 40 thì gặp sông Lò từ xã Tam Lư ra. Xã Sơn Lư có nhiều núi đá khai thác làm vật liệu xây dựng, làm đường đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Như Pha Mạ tại Km 44 (bản Hẹ).
Trên địa bàn xã có các đồi, núi, sông, suối như sau: núi pha Phanh, pha Mạ, pha Bó Lồm (thuộc bản Hẹ); pha Lếc (thuộc bản Sỏi), pha Đứa thuộc bản Bon, pha Lang, pha Xú Lú thuộc bản Păng, pha Su Lú (động Nang Non) thuộc bản Păng. Đồi Pù Đen Mường ở bản Bìn, Pù Un ở bản Sỏi, Pù Na Ngại bản Bon, Pù Liệt Sỹ thuộc bản Păng. Suối Kẹm ở bản Sỏi, suối Bát ở bản Bìn, suối Phanh ở bản Hẹ, suối Tuốp chảy qua các bản Sỏi, Bìn, Hẹ, Hao Bon.
Ruộng nước của xã Sơn Lư ít hơn so với các xã Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy. Tài nguyên rừng xã Sơn Lư có nhiều gỗ, nứa, vầu. Nứa, vầu là nguồn lợi thu nhập hàng ngày của đồng bào.
Xã Sơn Lư trước đây có nhiều động thực vật quý hiếm nhưng do người dân săn bắt, khai thác nên đã dần cạn kiệt. Hiện nay, xã vẫn có nhiều giống lúa, giống cây con đặc sản như các giống lúa khau cáy nọi (nếp cái hoa vàng), kháu cắm pạnh (nếp cẩm), kháu lạnh (lúa chịu hạn); mị niêu (mít dai), cam sành, cây măng bương (mạy mươi) cây măng sặt (mạy chá)... Giống gà ri (cáy pắn), vịt bầu (pệt côn), lợn cỏ (mú tay), nhím...
 Xã Sơn Lư có diện tích đất lâm nghiệp chiếm trên 80% tổng diện tích của xã. Trong đó diện tích rừng tự nhiên còn 63%, trên rừng có các loại động thực vật đa dạng, phong phú, còn có các piềng bãi và thung lũng thuận lợi cho phát triển gia súc, gia cầm.
Hầu hết các bản trong xã đều nằm dọc Quốc lộ 217 nên thuận tiện cho bà con đi lại, giao lưu trao đổi hàng hóa với các vùng miền trong ngoài huyện. Dòng sông Lò chảy qua địa bàn xã rất thuận lợi cho nhân dân đánh bắt theo mùa.
Xã có 3 dân tộc anh em cùng chung sống là: dân tộc Thái, Mường, Kinh. Mỗi dân tộc có truyền thống văn hóa riêng làm phong phú cho văn hóa của xã. Toàn xã có 2.466 nhân khẩu, trong đó: người Thái có 1.834 khẩu; người Mường có 495 khẩu; người Kinh có 137 khẩu. Có các dòng họ: Hà, Lữ, Lương, Vi, Lò, Hoàng, Lộc. Họ Hà là dòng họ chiếm tỉ lệ đông nhất trong xã. 
2.3.6.2. Các bản thuộc xã Sơn Lư
Bản Păng: 
Bản Păng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Làng, xã Sơn Hà; phía tây giáp bản Bon; phía nam giáp bản Hạ, xã Sơn Hà; phía bắc giáp với Khu 1, thị trấn Quan Sơn.
Bản Păng nằm ở trung tâm xã Sơn Lư, cách trung tâm huyện Quan Sơn 4km về phía tây. Từ trên đỉnh núi Pha Lang nhìn xuống, địa hình bản Păng như một chiếc bát. Ngày nay, bản được chia cắt thành 2 bản là bản Păng 1 và Păng 2 (bản Hiềng) ở Km 39.
Bản Păng có núi Pha Lang, có Pha Su Lú (tức động Nang Non), có dòng sông Lò chảy qua hết địa phận của bản, có suối Sún, suối Kha, suối Hiêng, suối Sâu, suối Khạng, suối Pu, suối Đứa, suối Hố với địa hình chủ yếu là đồi và núi cao.
Bản Păng có dân tộc Thái, chiếm 86,4%; dân tộc Kinh chiếm 13,6%. Là bản ở trung tâm xã nên có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ, thông tin một cách thuận lợi. Hiện nay, có đến 1/3 số hộ trong bản sinh sống rải rác theo dọc đường Quốc lộ 217 và đường biên đi xã Sơn Hà, 2/3 số hộ còn lại sinh sống ở trong bản. Bản Păng có đường vành đai biên giới đi qua tại địa điểm cầu qua sông Lò nối với đường Quốc lộ 217 tại Km 37.
Dân bản sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông, lâm nghiệp. Nông, lâm nghiệp chiếm tới 95% thu nhập của nhân dân.
Từ buổi ban đầu khai đất lập bản chỉ có 2 dòng họ với 12 nhân khẩu, đến nay bản Păng đã có các dòng họ lớn nhỏ: Lò, Hà, Mạc, Lữ, Vi, Ngân, Lương, Lộc, Cao, Bùi, Nguyễn, Tô, Trần, Phạm, Đinh, Đỗ. Bản có 3 dân tộc Thái, Mường, Kinh đến từ các vùng miền khác nhau: xã Trung Xuân, xã Trung Hạ, xã Trung Thượng, huyện Lang Chánh, huyện Bá Thước và từ miền xuôi lên cùng nhau sinh sống, đoàn kết một lòng xây dựng quê hương ngày càng phồn thịnh.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Păng thuộc mường Hạ, dòng họ trong làng có nhiều họ nhưng chiếm nhiều nhất là họ Vi và họ Lữ.
Bản Bon
Bản Bon thuộc diện khó khăn ở xã Sơn Lư, người dân sống chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217 nhưng địa thế chủ yếu là vực và đồi núi nên rất khó trong việc làm nhà ở. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Bon thuộc mường Hạ. 
Bản Bon có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Păng; phía tây giáp bản Hao; phía nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía bắc giáp đất bản Hẹ và bản Bàng, bản Máy, xã Trung Thượng.
Địa hình chủ yếu là đồi, núi cao. Bản Bon có núi Pha Lông, có hang Pha Đứa, có dòng suối Tuốp chảy dọc qua đến hết địa phận của bản. Ngoài ra, còn có suối Lông, suối Ngại, suối Bon.
Bản Bon chiếm phần lớn là người dân tộc Thái, còn lại là người dân tộc Kinh. Người Thái ở bản Bon có các dòng họ: Hà, Lữ, nhưng nhiều nhất là họ Hà Văn.
Người dân sinh sống chủ yếu vào nghề nông, lâm nghiệp; trong đó, nông nghiệp chiếm 45%, lâm nghiệp chiếm 55% thu nhập của người dân.
Bản Hao
Bản Hao có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bon; phía tây giáp bản Hẹ; phía nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía bắc giáp với đất bản Hẹ và bản Bàng, bản Máy của xã Trung Thượng.
Đặc điểm địa hình là đồi, núi cao, bản Hao có núi Pha Lông, Pha Phanh, có suối Tuốp chảy dọc qua hết địa phận bản. Có đến 90% là rừng, cây phân tán chủ yếu là cây luồng, vầu, nứa và các loại cây phát tán khác. Nhân dân sống chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217 và cạnh suối Tuốp.
Cư dân bản Hao chủ yếu là người Mường nên mọi nét văn hóa phong tục tập quán đều theo văn hóa của người Mường.
Bản Hẹ
Bản Hẹ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Hao; phía tây giáp bản Sỏi, bản Bìn; phía Nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía Bắc giáp với đất bản Máy, bản Bàng xã Trung Thượng.
Bản Hẹ có địa hình toàn đồi, núi cao: Phá Mạ, Phá Bó Lôm, Phá Phanh, có suối Tuốp, suối Phanh chảy dọc theo hết địa phận của bản. Rừng chiếm 95% diện tích của bản. 
Bản Hẹ có 3 dân tộc cùng chung sống là dân tộc Thái, Mường và Kinh
Các nét văn hóa và phong tục tập quán của dân cư trong bản Hẹ cơ bản mang đậm nét văn hóa của người Mường.
Bản Sỏi
Bản Sỏi: phía đông giáp với đất bản Hẹ, bản Hao; phía tây giáp bản Bun, xã Sơn Điện và bản Tình, xã Tam Lư; phía nam giáp bản Tình, xã Tam Lư; phía bắc giáp với bản Bìn.
Bản Sỏi có đồi, núi cao như núi: Pha Lết, Pha Có. Có dòng suối Sỏi chảy dọc qua hết địa phận của bản. Tài nguyên thiên nhiên có đến 95% là rừng, chủ yếu là cây luồng, cây vầu, nứa và các loại cây phân tán khác. Nhân dân chủ yếu sống dọc theo con suối Sỏi.
Bản Sỏi có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. 
Bản Bìn
Bản Bìn mới được thành lập. Năm 1967, chỉ có 3 hộ gia đình họ Lương làm ăn, sinh sống và lập thành bản gọi là bản Bìn. 
Bản Bìn có vị trí địa lý: phía đông giáp với đất bản Hẹ; phía tây giáp bản Bun, xã Sơn Điện; phía nam giáp bản Sỏi; phía bắc giáp với bản Na Hồ thuộc xã Sơn Điện.
Bản Bìn có địa hình đồi, núi cao giống như bản Sỏi, trên địa bàn bản có con suối Bìn, suối Vát chảy qua.
Đồng bào sinh sống chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp. Các nét văn hóa và phong tục tập quán của dân cư trong bản Bìn tương đồng các bản khác trong xã Sơn Lư.
Bản Sỏi có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
2.3.7. Xã Sơn Hà
2.3.7.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Sơn Hà có vị trí địa lý:
Phía bắc giáp xã Sơn Lư và thị trấn Quan Sơn.
Phía tây giáp xã Tam Lư.
Phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Hà theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.924,74ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 8.056,59ha.
Đất phi nông nghiệp: 147,68ha.
Đất chưa sử dụng: 720,47ha.
Tổng dân số xã Sơn Hà theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.050 người. Trong đó: nam giới 1.021 người, nữ giới 1.029 người; mật độ dân số 43 người/km2.
Xã Sơn Hà thuộc mường Hạ ngày trước. Mường Hạ gồm hai xã Sơn Lư và Sơn Hà. 
Theo Quyết định số 19 - HĐBT, ngày 29 tháng 2 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng: Chia xã Sơn Lư thành 2 xã lấy tên là xã Sơn Lư và xã Sơn Hà.
- Xã Sơn Lư gồm các chòm bản Bon, Hao, Hẹ, Păng, Sỏi, Lấm và Bìn với 7.862ha diện tích tự nhiên và 2.735 nhân khẩu.
Địa giới xã Sơn Lư ở phía đông giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp xã Sơn Điện; phía nam giáp xã Tam Lư; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
- Xã Sơn Hà gồm các bản: Hạ, Làng, Làu, Xum với 7.000ha diện tích tự nhiên và 2.725 nhân khẩu.
Địa giới xã Sơn Hà ở phía đông giáp huyện Lang Chánh; phía tây giáp giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp xã Tam Lư; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Xã Sơn Hà hiện nay gồm các bản: bản Làng, bản Làu, bản Xum, bản Nà Sắng, bản Nà Ơi, bản Hạ.
Sơn Hà là xã thuộc vùng sâu, vùng xa nằm ở phía đông nam của huyện Quan Sơn. Địa hình của xã hiểm trở, phức tạp có nhiều đồi núi dốc chạy dài từ Bắc tới Nam.
Địa bàn xã trước đây có nhiều loại động vật như hươu, nai, hoẵng, sơn dương, lợn lòi, khỉ, trăn và các loại chim quý như chim công, khướu, chim nộc thua, chim yểng,... Ngoài ra còn có nhiều thực vật quý như dổi, sến, phong lan.
Các núi đồi, hang động trên địa bàn của xã tạo nên địa thế cảnh quan phong phú, đa dạng như núi Pù Mằn, Pom Ché ở bản Làng; núi đá Pha Lang, Phá Khám, Phá Gia, Pha Han, Pha Lọm ở bản Hạ; Phá Phứng, Phá Mó, Pha Pem ở bản Làu, Hang Mường, Hang Kia,...
Dân cư trong xã bao gồm dân tộc Thái chiếm 96%; dân tộc Mường chiếm 0,074%; dân tộc Kinh 0,3% dân số toàn xã. Do đó văn hóa truyền thống xã Sơn Hà đậm sắc thái văn hóa Thái.
Xã Sơn Hà có các dòng họ sinh sống là Hà, Ngân, Lộc, Lò, Lương, Vi, Lê, Phạm; trong đó, họ Hà có số hộ, số khẩu đông nhất trong toàn xã.
2.3.7.2. Các bản thuộc xã Sơn Hà
Bản Làng 
Bản Làng trước đây gọi là Piềng Làng, bản nằm ở phía bắc, cách trung tâm xã 1km, bản Làng có núi Pù Mằn ở phía đông, có con suối Hạ chảy qua bản. Bản Làng có vị trí địa lý: phía bắc giáp bản Păng, xã Sơn Lư; phía đông giáp bản Nà Đang, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Piềng Hiến, Khu 2, thị trấn Quan Sơn; phía nam giáp bản Hạ.
Dân cư bản Làng sống thành hai nhóm, có dòng suối Hạ ngăn cách. Về mùa mưa lũ, việc đi lại giữa hai nhóm của bà con trong bản rất khó khăn. 
Bản Làng thành lập từ năm 1965, theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của Đảng và Nhà nước. Lúc đó đã có 11 gia đình với 5 dòng họ: Hà, Lộc, Lương, Ngân, Vi ở nhiều nơi khác nhau cùng với 100 hộ người Kinh đến đây khai hoang, vỡ ruộng xây dựng cuộc sống mới. Đó là các thửa ruộng như Na Khăm, Na Mằn, Băng Khăm; dấu tích của các bia mộ như Pom Héo Xá, Héo Mằn bắt nguồn từ núi Pù Mằn kéo dài đến bản Làng, sinh ra các suối nhỏ như suối Khéo, suối Kèng Pa Tốt, suối Luông, suối Na. 
Bản Làng hiện nay có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Dân cư sinh sống chủ yếu dọc theo suối Hạ với nguồn kinh tế chính là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
Trong bản có các dòng họ đó là: Vi, Lương, Hà, Ngân, Trịnh, Đặng. Dòng họ Vi là họ có công khai phá, hình thành nên bản Làng; những người trong dòng họ khác đã di cư từ các bản khác về đây sinh sống. 
Bản Hạ 
Bản Hạ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Nà Sắng; phía tây giáp bản Păng, Sơn Lư; phía nam giáp bản Nà Ơi; phía bắc giáp bản Làng.
Bản Hạ trước đây thuộc Pọng Tái. Nghe các cụ cao niên trong bản kể lại: cách đây khoảng 300 năm về trước nơi đây gọi là Pọng Tái, đất rộng người thưa, có nhiều dòng họ đã tụ tập về đây dựng nhà, khai đất lập nên bản mường. Bản có Phá Mống Mường, có con suối Hạ chảy qua.
Bản Hạ xưa có miếu thờ thần đất và các bậc có công xây dựng bản mường nhưng nay không còn. Hiện còn tên gọi các ngọn núi quanh bản như Pha Phứng, Pha Muôp, Pha Hao. Có hang động như hang Mương, hang Thắm...
Bản Hạ có ba dân tộc cùng chung sống đoàn kết bên nhau là dân tộc Thái, Mường và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc Thái chiếm 98%. Bản Hạ có rất nhiều dòng họ, trong đó một số dòng họ lớn như họ Vi, họ Hà, họ Lò, họ Lương, họ Ngân, họ Lộc.
Bà con dân bản chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp: làm ruộng nước và canh tác nương rẫy, bảo vệ chăm sóc, khai thác sản phẩm từ rừng.
Bản Nà Ơi
Bản Nà Ơi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Nà Sắng; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Làu; phía bắc giáp bản Hạ.
Bản Nà Ơi có các ngọn núi Pha Muôp, Pha Hào. Có suối Tai Đia, suối Bâu và một số mương, mó nước khác.
Người dân bản Nà Ơi sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản. 
Bản Nà Ơi có các dòng họ như: Lò, Lương, Hà, Ngân, Vi. Các họ có một số điều kiêng kị: Họ Ngân kiêng ăn rắn; Họ Hà và Lò kiêng con Cuốc Cuốc; Họ Lương kiêng Hổ; Họ Vi kiêng lấy quạt giấy quạt cơm.
 Bản Nà Sắng
Bản Nà Sắng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Làu; phía nam giáp bản Hạ; phía bắc giáp bản Làng; phía tây giáp bản Nà Ơi.
Nà Sắng có núi Pha Da, có suối Chăng chảy qua bản, có đập bản Hạ, mương Nà Lưa. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản.
Dân cư của bản sinh sống chủ yếu dọc theo suối Hạ, có đường Tây Thanh Hóa đi qua, phân bố thành ba nhóm dân cư. Trong bản có các dòng họ: Lò, Lương, Hà, Lộc, Vi.
Bản Làu
Bản Làu thuộc vùng sâu của xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn. Bản nằm dọc theo suối Hạ, cách trung tâm huyện lỵ 10km. Bản Làu có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Nà Ơi, xã Sơn Hà; phía nam giáp bản Xum, xã Sơn Hà; phía bắc giáp bản Nà Sắng, xã Sơn Hà.
 Bản Làu có con suối Hạ chảy qua bản với chiều dài khoảng 4km, là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng của bản. Bản Làu có nhiều đồi, núi như: Pha Mó, Pha Hào, Pha Pém, Pha Phứng, Pha Thắm Tám. Có suối Hạ, suối Ban, suối Muống. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản.
Bản Làu có tên gọi từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ năm 1921, có họ Lò di cư đến sinh sống trên mảnh đất này. Sau đó các dòng họ khác đã lần lượt di cư đến cùng khai phá đất đai làm ăn, sinh sống. Hiện nay, trong bản có tới 10 dòng họ khác nhau, có một số dòng họ lớn như: họ Hà, họ Lò, họ Vi, họ Lộc, họ Đỗ, họ Ngân, họ Lương.... Bản Làu có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Trong đó, dân tộc Thái chiếm 90% số dân cư trong bản.
 Bản Xum
Bản Xum có vị trí địa lý: phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Làng, xã Sơn Hà; phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn.
Bản Xum có núi Pù Tền, hang Pèo, có suối Hạ, mương Hạ.
Dân cư trong bản 100% là người dân tộc Thái. Trong bản có các dòng họ: Hà, họ Vi, họ Lò, họ Lữ, Phạm. Người dân bản Xum sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác nông nghiệp và khai thác lâm thổ sản, hiện nay có một số hộ làm dịch vụ, buôn bán nhỏ lẻ.
2.3.8. Xã Tam Lư
2.3.8.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Tam Lư có vị trí địa lý:
Phía đông giáp xã Sơn Lư, xã Sơn Hà.
Phía tây giáp xã Tam Thanh, xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và xã Tam Thanh.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Tam Lư theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 6.175,69ha. Trong đó:
 - Đất sản xuất nông nghiệp: 4.333,09ha.
 - Đất phi nông nghiệp: 180,01ha.
 - Đất chưa sử dụng: 1.662,59ha.
Tổng dân số xã Tam Lư theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.808 người. Trong đó: nam giới 1.398 người, nữ giới 1.410 người; mật độ dân số 45 người/km2.
Xã Tam Lư thời phong kiến thuộc tổng Tam Lư, gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, tổng Tam Lư gồm có 7 xã: xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư.
 - Xã Tam Lư gồm có các bản: Hạ, Xum, Làu, Nà Ơi.
 - Xã Hậu Lư gồm có các bản: Bon, Hậu, Sỏi, Bìn, Hẹ.
 - Xã Sơn Lư có các bản: Lấm, Păng, Nà Sài (nơi huyện lỵ Quan Sơn ngày nay).
 - Xã Thượng Lư có các bản: Mò, Phe, Cha Lung, Pa.
 - Xã Hàm Lư có các bản: Ngàm, Bôn, Kham, Khà, Co Hương.
 - Xã Trung Lư có các bản: Hát, Muống, Sại, Cha Lóc, Hao.
 - Xã Định Lư gồm có các bản: Tình, La, Sát.
Đến năm 1939, Thực dân Pháp và chính quyền phong kiến đã sát nhập 7 xã trên thành 3 xã và đặt tên là: xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư.
 - Xã Thượng Lư bao gồm các bản: Mò, Ngàm, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hậu. Hát, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi và bản Bìn.
 - Xã Trung Lư gồm các bản: Muống, Sại, Cha Lóc, Tình, La và bản Sát; 
 - Xã Sơn Lư gồm các bản: Hạ, Xum, Làu, Lấm, Păng, Hiềng và bản Na Sài.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư, lúc này xã Tam Lư gồm có 29 chòm: Chòm Lấm, Hạ, Păng, Bon, Hẹ, Sỏi, Tình, Hậu, Muống, Sại, Hát, Mò, Ngàm, Bôn, Kham, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hạ, Xum, Làu, Hao, Sài, Hiềng, Sát, Na Sài, Cha Lóc và chòm Có Hướng.
Năm 1960, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng mô hình HTX cấp thấp, chòm Sại là chòm đầu tiên của xã Tam Lư thành lập HTX. Đến năm 1961, 28 chòm còn lại của xã lên HTX cấp thấp và lấy tên chòm gọi tên HTX.
Năm 1963, bản Piềng Làng thành lập HTX cấp cao gọi là HTX Đại Thắng. Đến năm 1966, cả xã Tam Lư lên HTX cấp cao, thực hiện công hữu hóa về ruộng đất, tư liệu sản xuất, dồn các HTX bản Mò, bản Ngàm, bản Kham, bản Bôn, bản Có Hướng, Bản Nà Ấu thành HTX Trung Tiến.
Thực hiện Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 13/4/1966 “Mục 5: Chia xã Tam Lư thành 2 xã: Sơn Lư và Tam Lư.
- Xã Sơn Lư gồm có 9 chòm (bản): Lấm, Păng, Bon, Hẹ, Bìn, Sỏi, Làu, Xum và Hạ.
- Xã Tam Lư gồm có 9 chòm (bản): Sại, Muống, La, Pa, Hậu, Tình, Hát, Trung Tiến và Trung Lập”. 
Thực hiện Quyết định số 19/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 20 tháng 5 năm 1988: mục 6:
“Chia xã Tam Lư thành 2 xã lấy tên là xã Tam Lư và Tam Thanh.
- Xã Tam Lư gồm các chòm (bản) Hát, Hậu, Muống, Sại và Tình với 6.209,2ha diện tích tự nhiên và 2.800 nhân khẩu.
Địa giới xã Tam Lư ở phía đông giáp xã Sơn Hà, phía tây và phía bắc giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp xã Tam Thanh”.
Sau nhiều lần chia tách, đến năm 1996, Tam Lư còn toàn bộ đất mường Sại và một phần đất mường Mò (bản Hậu).
Xã Tam Lư hiện nay gồm các bản: Sại, Hậu, Tình, Muống, Hát, Piềng Khóe.
Xã Tam Lư có nhiều đồi núi, sông suối, suối lớn nhất là suối Tình. Suối Tình bắt nguồn từ hướng bắc giáp với địa phận bản Sỏi, xã Sơn Lư chảy theo hướng đông - nam để về sông Lò tại bản Hát.
Sông Lò đoạn qua xã Tam Lư dài khoảng 7km. Đi từ ngã ba Km 42 đường 217 đi vào theo đường lên Cửa khẩu mường Pao sẽ gặp bản đầu tiên của xã Tam Lư là bản Hát, cách đường 217 khoảng 5km.
Qua bản Hát lên phía thượng nguồn sông Lò sẽ gặp bản Hậu, từ bản Hậu rẽ phải vào 5km gặp bản Tình.
Qua bản Hậu lên gặp Đồn Biên phòng Tam Thanh và bản Nà Ấu xã Tam Thanh. Rẽ trái qua cầu theo sông Lò tại bản Hậu đi xuống thì về bản Muống cách cầu treo khoảng 2km, qua sông Lò từ đầu cầu treo bản Hậu ngược lên thượng nguồn là bản Sại, tiếp đến là bản Piềng Khóe cách cầu treo bản Hậu lên khoảng 2km.
Xã Tam Lư có nhiều phong cảnh đẹp và tài nguyên quý như Pù Lông Lênh (đồi Xa Mu) ở bản Piềng Khóe giáp với biên giới Việt - Lào và Xóm Có Hướng của bản Ngàm xã Tam Thanh. 
Cam, quýt trồng ở xóm Khà thuộc bản Có Hướng, xã Tam Thanh (Tam Lư cũ) là món đặc sản trước đây đồng bào thường cúng tiến quan trên.
Gỗ có nhiều loài cây quý như pơ mu, sa mu, chò, dổi, vàng tâm... cây lâm nghiệp khác có nhiều như nứa, vầu, song, mây, rừng trồng có nhiều luồng, lát, quế, keo, muồng.
Vụng Hậu với nhiều câu chuyện dân gian ly kỳ về mô típ thuồng luồng, có dịp đến thăm bản Tình ta sẽ được chứng kiến mó nước mặn, nơi này trước đây nai, hoẵng, bò rừng từng đàn tập trung về uống nước theo chu kỳ trăng mọc hàng tháng. Tiếng Thái địa phương gọi là “Pung Quáng”, “Pung Ngùa”.
Mó nước quý này thuộc xóm La địa phận bản Tình, bản Tình trước đây bao gồm hai xóm nhỏ là xóm La và xóm Tình hợp lại lấy tên là bản Tình. Xóm La ở phía thượng nguồn suối Tình cách xóm Tình khoảng 2km.
Xã Tam Lư cùng với xã Tam Thanh là 2 xã có nhiều lúa nước sản xuất 2 vụ bội thu hơn các xã khác dọc sông Lò. Xã Tam Thanh có cánh đồng Nà Ấu (cánh đồng bà nội). Xã Tam Lư có hai cánh đồng rất rộng, đất đai màu mỡ, đó là cánh đồng bản Sại và bản Piềng Khóe (Khé).
Tam Lư có 3 dân tộc anh em là: Thái, Mường, Kinh cùng chung sống; trong đó: Dân tộc Thái chiếm 99,2%; Dân tộc Mường 0,5%; Dân tộc Kinh 0,3%.
2.3.8.1. Các bản thuộc xã Tam Lư
Bản Hát
Bản Hát nằm bên dòng suối Hát chảy từ chân núi Pha Lang.
Bản Hát có từ lâu đời. Tương truyền, người dân nơi đây rất thích hát khặp, nhất là nam nữ thanh niên. Trong những đêm trăng, bản làng luôn rộn rã, tiếng khèn bè, tiếng sáo ôi dìu dặt, âm thanh khua loóng vang vọng. Mặc dù cuộc sống của bà con còn gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng trong bản dưới mường, trên sàn hạn khuống, nam thanh nữ tú sau những giờ lao động mệt nhọc, tối đến lại say mê trao cho nhau những lời khặp, bày tỏ tình cảm tha thiết và mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp. Chính vì vậy, mọi người đã đặt tên cho bản của mình là bản Khặp sau đó đổi tên là bản Hát.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Hát dân cư còn thưa thớt, sau năm 1945 bản đã dần phát triển. Lúc bấy giờ đã có 8 hộ gia đình mang 4 dòng họ khác nhau; đó là họ Lộc, họ Hà, họ Lữ và họ Vi cùng chung sống đoàn kết, thương yêu giúp nhau làm ăn sinh sống. Họ đã chung nhau tìm nơi đắp đập ngăn dòng suối Hát lấy nước vào ruộng, khai hoang piềng, bãi được 5000m2, gọi là Na Hát.
Dân cư trong bản chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái và một số hộ người Kinh. Chính vì vậy, mọi nét văn hóa, phong tục tập quán bản Hát đều đậm đà bản sắc văn hóa của người Thái ở Quan Sơn.
Bản Hậu
Bản Hậu nằm giữa trung tâm xã Tam Lư, được hình thành lâu đời. Phía bắc giáp suối Tình, bản Hát; phía đông giáp với sông Lò, bản Muống; phía tây nam giáp sông Lò, bản Sại; phía tây giáp với xã Tam Thanh; phía tây bắc giáp với suối Nghịu, bản Tình. 
Bản Hậu có 4 con đường nối liền với các bản trong xã.
Dân cư bản Hậu, phân bố thành các khu: Khu 1 ở đầu bản là bản Na Chá; Khu 2 ở giữa đường chính; Khu 3 ở cuối bản tính từ dưới lên gọi là bản Hát; Khu 4 ở gần ven sông là bản Tá Cang. 
Bản Hậu hiện có các dòng họ là họ Lò, Vi, Hà, Phạm, Lữ, Ngân, Lương và họ Lê.
Bản Hậu có nhiều nét độc đáo về văn hóa, lưu truyền câu chuyện liên quan đến lập làng, dựng bản. Ngay từ thế kỷ XV, đời sống của nhân dân bản Hậu đã rất phát triển. Bản đã hình thành tổ chức quan bản độc lập do hai dòng họ Lò và họ Vi thay nhau cai quản. 
Bản Hậu đã xây dựng đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015.
Bản Tình
Bản Tình có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Hát; phía tây giáp với bản Sỏi, xã Sơn Lư; phía nam giáp bản Hậu; phía bắc giáp bản Hẹ, xã Sơn Lư.
Bản Tình có hang Thắm Luông, Thắm Nọi. Có núi Pha Lanh giáp với Tam Thanh và Đồn Biên phòng 501; có thung lũng Bản La. Có suối Tình chảy qua giữa bản và có các xứ đồng mang tên: na Quan, na Cha.
Trước đây bản có nguồn gốc từ mường Sại, sau này chuyển vào có tên là bản Tình. Bản Tình có hai dân tộc cùng chung sống là dân tộc Thái và Kinh. Người Thái ở bản Tình có các dòng họ là họ Hà, Vi, Lương, Ngân, Lò, Lộc và Đinh. 
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp với bản Hậu; phía nam giáp bản Sại; phía bắc giáp bản Hát.
Ngày xưa, bản Muống có tên gọi là Muống Say Kháng vì địa hình trong bản giống như hình tượng một cái chảo gang (tiếng Thái là Say Kháng), và có cây kéo to ở đầu bản (tiếng Thái là Muống). Từ năm 1955, bản đã bỏ bớt từ Say Kháng, chỉ gọi là bản Muống.
Trong bản chia thành 3 khu dân cư: Muống trong, Muống ngoài và Lương Sơn, có ngọn núi tên là Pha Lang, ngọn núi này hướng về bản có hình con Sóc bay giáp với bản Hát và xã Sơn Lư. Bản Muống còn có các ngọn núi póm Pu Nhéo, póm Có Vá, ngọn núi này có 3 cây đa rất to và linh thiêng trên đỉnh, và ngọn núi Póm Lắng Hươn.
Bản Muống có hai hang động nhỏ, tiếng Thái gọi là Thắm Pha Hán với ý nghĩa của ngọn núi Pha Hán có hình tượng giống con ngan nên được người dân trong bản đặt tên là Pha Hán, hai hang động này ở gần nhau nên người dân thường gọi là thắm Tớ, thắm Tềnh.
Bản Muống có con sông Lò chảy dọc theo bản. Trong bản có các xứ đồng mang tên: na Kéo, na Nơ, na Muống, na Cận, na Túng, na Hóm, na Piêng.
Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước và lâm nghiệp. Tất cả đều là người dân tộc Thái. Bản có 4 dòng họ là họ Lữ, họ Hà, họ Lò, họ Lương.
Bản Sại
Bản Sại là một bản biên giới giáp ranh với nước bạn Lào, có 4km đường biên. Bản nằm ở phía tây xã Tam Lư, cách trung tâm xã 2km. 
Bản Sại có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Muống; phía bắc giáp bản Hậu; phía tây giáp bản Piềng Khóe, xã Tam Lư; phía nam giáp nước bạn Lào với 4km đường biên. 
Bản Sại là trung tâm của mường Sại xưa. Chiều dài của bản khoảng 1,5km, có con đường giao thông đi dọc sông Lò, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. 
Tương truyền dân gian kể lại rằng: Vào một năm (cuối thế kỷ XVII) trời mưa to gió lớn, con suối Cha Lóc nước dâng lên cao, đổ ào ào từ trên cao xuống. Người dân bản Sại bất ngờ trông thấy một cái máng lợn (hang Mú) xuôi theo dòng nước trôi xuống. Ông Tạo thấy thế liền cho dân bản lần theo dòng suối tìm đến tận đầu nguồn thì thấy một dòng họ với 5 hộ gia đình và 38 nhân khẩu. Khi hỏi thì không người nào biết là họ gì, nguồn gốc ở đâu đến, chỉ biết những người này là dân tộc Khơ Mú. Tạo mường đã cho các gia đình nhập cư vào mường của mình và được phép mang họ Tạo (họ Phạm). Hiện nay, con cháu các gia đình này vẫn cư trú ở bản. Nhân dân bản Sại vui mừng vì có những người mới đến nhập cư nên ông tạo mường đã cho khai phá một đám ruộng mới, đặt tên là na Xá và đặt tên cho một quả đồi mang tên các hộ đó là Pom Xá Khô. Hiện nay quả đồi ấy vẫn còn.
Mường Sại dưới sự cai quản của ông Tạo mường, nhân dân đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, kinh tế phát triển, đời sống tinh thần phong phú. Tiếng tốt đồn xa, các dòng họ từ những nơi khác tìm đến xin được chung sống với mường ngày càng đông. Tính đến thời điểm đó đã có 5 dòng họ cùng chung sống là họ Kha (tức họ Phạm, họ Hà ngày nay); họ Lữ, họ Vi, họ Lò và họ Lương. 
Hiện nay, bản Sại có 2 dân tộc anh em cùng chung sống là Thái và Kinh. Trong đó dân tộc tộc Thái chiếm 98%. 
Bản Piềng Khóe (Khé)
Piềng Khóe là bản thành lập mới nhất của xã Tam Lư. 
Piềng Khóe có trí địa lý: phía đông và phía nam giáp bản Sại; phía tây giáp với bản Mò, xã Tam Thanh; phía bắc giáp xã Tam Thanh.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc vào bản Sại, xã Tam Lư. Năm 2008, được tách ra từ bản Sại gọi là bản Piềng Khóe. 
Bản Piềng Khóe có nhiều dòng họ lớn nhỏ như: họ Phạm, họ Hà, họ Lò, họ Vi, họ Lương, họ Bùi, họ Ngân, họ Lữ, họ Đỗ, họ Lê, họ Phan. Họ Hà có nguồn gốc từ Sơn La và từ bản Bon, xã Sơn Lư. Họ Lò: có nguồn gốc từ bản Ngàm, xã Tam Thanh và bản Sại, xã Tam Lư. Họ Vi: có nguồn gốc xuất xứ từ xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và từ 2 xã Mường Mìn, Sơn Điện; có một số hộ từ bản Hậu, xã Tam Lư chuyển vào. Họ Lương: có nguồn gốc từ xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa và từ bản Sủa, xã Sơn Điện. Họ Ngân có nguồn gốc từ bản Máy, xã Trung Thượng. Họ Lữ có nguồn gốc từ xã Trung Hạ, Trung Thượng. Họ Đỗ, Lê, Phan đều có nguồn gốc của từ huyện Thiệu Hóa lên làm ăn sinh sống.
Bản Piềng Khóe có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước và khai thác lâm sản, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên: luồng, nứa, vầu...
2.3.9. Xã Tam Thanh
2.3.9.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Tam Thanh có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Tam Lư.
Phía tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh. 
Phía bắc giáp xã Sơn Điện, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Tam Thanh theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 9.924,36ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 9.367,49ha. 
Đất phi nông nghiệp: 220,72ha.
Đất chưa sử dụng: 356,15ha.
Tổng dân số xã Tam Thanh theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.534 người. Trong đó: nam giới 1.793 người, nữ giới 1.741 người; mật độ dân số 36 người/km2.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Tam Thanh thuộc mường Mò, tổng Tam Lư, châu Quan Hóa. Tam Lư thời ấy gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, Tam Lư gồm có 7 xã: xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư. Các làng bản xã Tam Thanh hiện nay, thời kỳ đó thuộc xã Thượng Lư.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư.
Thực hiện Quyết định số 19-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 20 tháng 5 năm 1988: mục 6: “Chia xã Tam Lư thành 2 xã, lấy tên là xã Tam Lư và xã Tam Thanh. Xã Tam Thanh gồm hầu hết địa phận mường Mò. Trừ bản Hậu thuộc về xã Tam Lư.
Toàn xã có 698 hộ gia đình 3.435 nhân khẩu. Trong đó: Dân tộc Thái có 3.382 người chiếm 98%; dân tộc Kinh chiếm 0,2%; dân tộc Mường chiếm 0,1% dân số toàn xã. Trong 3 dân tộc sinh sống trên địa bàn, người Thái là dân tộc có mặt từ thuở khai mường lập bản, người Kinh, người Mường mới đến sinh sống tại xã từ năm 1988.
Xã Tam Thanh hiện nay có các dòng họ cùng chung sống đoàn kết gắn bó bên nhau. Đó là các dòng họ: Hà, Phạm, Lò, Lữ, Ngân, Lương, Lộc, Khoang, Vi, Dương, Trương, Bùi, Lê, Trịnh. Trong đó, dòng họ chiếm số hộ, số khẩu đông nhất là họ Hà.
Hiện nay, xã Tam Thanh gồm có 9 bản: Bản Bôn; bản Cha Lung, bản Phe, bản Nà Ấu, bản Mò, bản Ngàm, bản Kham, bản Pa, bản Piềng Pa.
Xã Tam Thanh nằm về phía tây của huyện Quan Sơn, cách trung tâm huyện lị gần 20km từ Km 42 Quốc lộ 217 vào 12km. Tam Thanh là một xã miền núi thuộc vùng sâu, vùng xa, có đường biên giới quốc gia tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Xã Tam Thanh có địa hình núi non hiểm trở, cao nhất là các ngọn núi Pù Xà Lày, Pù Phà Mứt ở bản Pa; Pù Lông Lênh ở bản Ngàm. Có con sông Lò và nhiều khe, suối ngăn cách các làng bản. Thác 20 sải ở bản Khà vừa cung cấp nước sinh hoạt tưới tiêu cho đồng ruộng vừa là một thắng cảnh đẹp của xã Tam Thanh. Người dân sinh sống dọc hai bên dòng sông Lò và các suối Khà, suối Pa. Đường sá đi lại giữa các bản còn nhiều khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa lũ.
Địa hình xã chia cắt bởi nhiều sông suối, đồi núi. Trong đó có con suối lớn nhất là suối Pa. Con sông Lò chảy từ Mường Pao, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sang, đoạn thượng nguồn bên nước bạn Lào gọi là Nặm Pao.
Sông Lò chảy qua các bản Kham, Bôn, Ngàm, Piềng Pa, Nà Ấu, Mò của xã Tam Thanh rồi xuống địa phận xã Tam Lư.
Suối Pa bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào chảy theo hướng tây - đông qua bản Pa, Cha Lung, Phe đổ ra sông Lò tại bản Piềng Pa. Do vậy bản Piềng Pa còn có tên gọi khác là bản Sộp Pa có nghĩa là bản miệng suối (cửa suối) Pa. Người Thái gọi nơi suối, sông tiếp giáp nhau là miệng suối, miệng sông còn cửa sông là nói theo người Kinh.
Xã Tam Thanh nhiều phong cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng như Thác 20 sải ở suối Khà, xóm Có Hướng của bản Ngàm. Cánh Ngước sông Lò thuộc địa phận bản Kham, thung lũng Xam Họi (động 300) của bản Ngàm về phía thượng nguồn sông Lò, Pù Phạ Mứt bản Pa giáp với bản Yên, xã Mường Mìn. Trên địa bàn xã trước đây có nhiều động vật và thực vật quý hiếm như: hổ, báo, hươu, nai, lợn lòi, gấu, bò tót, khỉ, vượn, tê tê, nhím, đại bàng, yểng, chim trĩ, chim công và nhiều động vật khác. Thực vật thì có nhiều loài gỗ quý như: sến, táu, sưa, dổi, lát hoa và rất nhiều loài cây thuốc chữa bệnh. Hiện nay, các loài động vật và thực vật đã dần cạn kiệt, số lượng và chủng loại không còn nhiều như trước đây.
Rừng ở Tam Thanh có nhiều gỗ, nứa, vầu, song mây, cây dược liệu là cây mọc tự nhiên. Đặc biệt cây phèn (cây chủ thả cánh kiến) vừa mọc tự nhiên vừa do nhân dân trồng thả cánh kiến. Ngày trước đồng bào Thái đã có câu ca nói về 4 vùng, trong đó có vùng đất Quan Sơn:
“Khí chắng lánh mường Mò
Che khô Mường Ly
Pa pính chi Mường Xím
Kháu hóm niếu Mường Mìn Cay nọi”.
Dịch:
Cánh kiến đỏ Mường Mò
Chè khô Mường Lý
Cá nướng ngon Mường Xím
Gạo nếp dẻo thơm ở Mường Mìn là Cay nọi
2.3.9.2. Các bản thuộc xã Tam Thanh
Bản Nà Ấu
Bản Nà Ấu (theo tiếng Thái gọi là bản ruộng bà nội). Bản Nà Ấu, trước đây gọi là Chiềng Tén, Chiềng Mò.
Bản Nà Ấu ở cửa ngõ xã Tam Thanh, cách trung tâm UBND xã 1km về phía đông. 
Bản Nà Âu có vị trí: phía đông giáp với bản Sại, bản Hậu xã Tam Lư; phía tây giáp với bản Phe, bản Bôn xã Tam Thanh; phía nam giáp với bản Mò xã Tam Thanh; phía bắc giáp với bản Tình, xã Tam Lư. 
Nà Ấu là bản có từ lâu đời. Tương truyền trong dân gian rằng: vào khoảng thế kỷ XVI có hai ông bà từ đồng bằng Bắc bộ vào xứ Thanh tìm nơi làm ăn sinh sống. Đến Mục Sơn được một thời gian, hai ông bà để gia đình người con trai ở lại, còn hai ông bà lại đi tiếp lên vùng đất Quan Sơn, thấy vùng đất này có thể khai hoang làm ruộng nước nên hai ông bà ở lại, tập hợp các dòng họ cùng chung sức khai phá đất đai, xây dựng bản làng. Người con trai ở Mục Sơn biết ông bà đã chọn được nơi ở phù hợp nên đã cùng vợ con lên chung sức làm ăn với bố mẹ. Bản mường ngày càng phát triển, mọi người biết ơn công lao của ông đã tôn ông làm tạo mường. Sau khi ông bà mất, con cháu và bà con đã lập đền thờ cúng ông bà. 
Bản Nà Ấu lúc đó có tên là Chiềng Tén. (Nà Ấu theo tiếng Thái là ruộng bà nội). Tưởng nhớ đến công lao của ông bà nên khi ông bà mất, dân bản đã gọi bản Nà Ấu của mình là Chiềng Mò.
Giai đoạn từ 1900 đến 1945, bản Chiềng Mò có 5 dòng họ cùng làm ăn chung sống. Nhưng do bị thực dân Pháp và giai cấp phong kiến áp bức bóc lột nên dân bản phải trốn vào rừng sâu cư trú. Đến những năm 1950 - 1951, giặc Pháp cấu kết với một số phần tử phản động trong nước dồn dân sang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Lực lượng dân quân du kích cùng một số dân tản cư không theo giặc sang nước bạn Lào đã xuống xã Trung Thượng và huyện Lang Chánh kết hợp với bộ đội địa phương đứng lên đánh Pháp. Cuối năm 1953, đánh đồn Bốt - huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, giải phóng Thượng Lào. Từ đó, dân bản lại trở về quê cũ, tiếp tục làm ăn sinh sống. Lúc đó bản Chiềng Mò chỉ còn 14 hộ, 82 nhân khẩu.
Giai đoạn năm 1954 đến năm 1960, nhân dân bản Chiềng Mò được tuyên truyền giáo dục, giác ngộ cách mạng, một lòng đoàn kết làm ăn sinh sống xây dựng bản làng, cùng nhau chuẩn bị mọi điều kiện vật chất và tinh thần để vào HTX. Ruộng đất được nhập vào HTX quản lý. Đến năm 1961 - 1963, nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, nhân dân bản Chiềng Mò đã xây dựng HTX bậc thấp liên hợp giữa các bản: Nà Ấu, Mò, Kham, bản Bôn, Bản Ngàm và bản Có Hướng. Gọi là Tổ đổi công, rồi tiến lên xây dựng HTX bậc cao. Bản lúc này có 18 hộ 101 nhân khẩu. Với tài nguyên thiên nhiên phong phú, ruộng đất nương rẫy phát triển nên đời sống nhân dân bản Chiềng Mò ngày càng ổn định, sung túc.
Địa phận bản Nà Ấu bắt đầu từ Póm Kín Xê (Núi ăn thề) xuống Bằng Khóe, ngược dòng sông Lò đến Bằng Tình vào theo suối Pa. Đến suối Long Hé tắt qua suối Nà Oi lên thẳng đỉnh Pha Lanh, từ Pha Lanh xuống Póm Kín Xê. 
Bản Nà Ấu nằm dọc theo sông Lò, phía trước mặt có cánh đồng rộng và con sông Lò; phía sau có đồi Pù Sần và Póm Lăng, có khe suối Tá Bành. Nà Ấu có cánh đồng Nà Mo được phân từng khu vực có các tên gọi là Nà Mương, Nà Mén, Nà Păn, Nà Quyền, Nà Hái, Nà Hái Lăng, Nà Lúm, Nà Hó Luống, Nà Lọng Nặm, Nà Nặm Bò, Nà He Tiếm, Nà Phén, Nà Dia, Nà Ấu và có một tuyến mương chính từ bản Phe đến cánh đồng có chiều dài 2.760 m.
Bản Nà Ấu 100% đều là dân tộc Thái. Người Thái bản Nà Ấu có 6 dòng họ: họ Phạm, Hà, Lương, Lò, Vi, Lữ chung sống đoàn kết bên nhau. Họ Hà là dòng họ cư trú lâu đời, có số hộ, số khẩu đông nhất bản.
Bản Mò
Bản Mò có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Khóe; phía tây giáp bản Ngàm; phía nam giáp bản Bôn; phía bắc giáp bản Nà Ấu.
Người dân bản Mò sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong bản đều là người Thái. Có 7 dòng họ: Lò, Lương, Hà, Lộc, Phạm, Vi, Lữ làm ăn, chung sống, đoàn kết, gắn bó bên nhau.
Bản Piềng Pa
Bản Piềng Pa thành lập năm 1988. Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp bản Nà Ấu; phía bắc giáp bản Bôn.
Bản Piềng Pa có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Người dân trong bản Piềng Pa chủ yếu làm nghề kinh doanh, buôn bán.
Bản Bôn (Pa Phèn)
Bản Bôn có từ sau khi tạo mường Mò chia đất cho tạo mường Chự. Khi mất bản Bôn về cho mường Chự thì lấy bản Pa Phèn đặt tên mới là bản Bôn. 
Bản Bôn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp bản Kham; phía bắc giáp bản Piềng Pa.
Bản Bôn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc mường Mò. Bản Bôn có hai dòng họ cùng chung sống là Thái và Mường. Bản có các dòng họ: Lương, Vi, Lữ, Lộc, Lò, Ngân, Hà, Phạm cùng sinh sống đoàn kết với nhau. 
Bản Ngàm (Bản Pa Vai)
Bản Ngàm giáp biên giới Việt - Lào, là cửa ngõ biên giới với cột mốc H5 về phía đông nam sông Lò. Đây là một bản vùng sâu, vùng xa giáp với Phôn Xay, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cách trung tâm xã Tam Thanh 15km. 
Bản Ngàm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Mò; phía bắc giáp bản Bôn có sông Lò ngăn cách; phía tây giáp bản Kham, có sông Lò ngăn cách; phía nam giáp với nước bạn Lào.
Bản Ngàm có chiều dài khoảng 1.500m uốn cong hình chữ S. Dân cư tập trung ở giữa hai bản còn rải rác ở đầu bản và cuối bản với địa phận hẹp thường được gọi là bản trong và bản ngoài. Ở phía trước bản có con mương tưới nước chảy sát theo bản bắt nguồn từ suối Khà đến cánh đồng với chiều dài 2.000m, dưới mương chính có cánh đồng chạy dọc sang bản. Cánh đồng được ngăn cách làm ba nhóm thường gọi là na Nóc, na Cuống và na Có Hướng. Cánh đồng na Chá, na Lo, na Tén, na Lúm, na Tang Táy, na Có Muống, na Sài, na Luống, na Ta Cá, na Có Hướng. Những tên ruộng này có từ xa xưa để lại. Phía sau bản về phía nam có 3 quả đồi gọi là Póm Sân, Póm Lắng Hườn (đồi sau nhà) và Póm Phái.
Bản Ngàm. Có 6 dòng họ lớn: họ Lò, Lương, Hà, Ngân, Vi và Lường thuộc hai dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống, đoàn kết gắn bó bên nhau. Người Thái chiếm 95% dân số của bản.
Bản Kham 
Bản Kham là bản vùng biên giới của xã Tam Thanh. Bản Kham có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm (ngăn cách bởi con sông Lò); phía bắc giáp bản Bôn (ngăn cách bởi dòng suối Kham); phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp biên giới Việt - Lào, có cột mốc H5.
Hiện nay, địa phận bản Kham được tính từ suối Kham vào theo suối Co Vin (cửa suối cây Bi) lên đến đỉnh núi Póm Chồn Ngôn đến mốc biên giới đất biên phòng, thẳng xuống đỉnh Pù Cân xuôi xuống Pù Mỵ, núi Pha Lay xuống đến sông Lò là Vằng Tá Cọ. Từ Vằng Tá Cọ theo sông Lò xuống đến cửa suối Kham. 
Bản Kham trải dọc ngang chân đồi theo hướng tây - nam, dài 800m uốn lượn hình chữ S theo địa thế của sông Lò chảy qua địa bàn của bản. Dân cư sinh sống tập trung nhiều nhất ở đầu và cuối bản. Vì địa hình chật hẹp nên bản Kham thường gọi là bản trong và bản ngoài. Bản ngoài giáp sông Lò về phía nam. Bản trong giáp suối Kham về phía tây, bản có hai hang đất xuyên thẳng vào chân đồi, sâu 50m, rộng 1,4m, cao 2,5m, có màu đất vàng sét và màu tro lẫn đá mồ côi. Hang trên cách hang dưới 40m. Hang dưới có mó nước chảy liên tục. Từ xa xưa các cụ truyền lại bằng cái tên: Hu Vó (hang Mó Nước). Khu vực hang này gọi là Lúng Nghe.
Phía trước bản Kham có con mương tưới tiêu dài 1.200m chạy sát theo bản. Bắt nguồn từ suối Kham đến cánh đồng chạy dọc theo bản, ngăn cách thành hai nhóm, bà con nơi đây thường gọi là na Chá và na Cuống. Các cánh đồng có tên gọi từ xa xưa truyền lại là na Quán, na Chá, na Hín, na Khuống. Con sông Lò chạy vòng từ đầu bản đến cuối bản. Về phía sau bản là các ngọn đồi dọc theo hướng đông - tây, gọi là Póm Sần, Póm Mó, Póm Lắng Hươn, Póm Có Vá.
Bản Kham có 9 dòng họ: Lương, Vi, Lò, Ngân, Phạm, Khoang, Lữ, Hà, Bùi với hai dân tộc anh em cùng chung sống là dân tộc Thái và dân tộc Mường. 
Bản Phe
Bản Phe là bản biên giới Việt - Lào của xã Tam Thanh. Bản Phe có vị trí địa lý tiếp giáp như sau: phía đông giáp bản Nà Ấu, Piềng Pa; phía tây giáp bản Cha Lung; phía nam giáp bản Kham; phía bắc giáp bản Tình xã Tam Lư.
Phía Nam của bản có rừng đồi Pom Buốc Chạng, Cằng Long Vương; phía bắc có dãy núi Pù Sung Rông đồi kéo dài tận tới Pha Lanh; phía tây có đồi Tén Bặt Còn, 4 chân đồi tỏa xuống thành thung lũng, có dòng suối Pa bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, chảy sang hai bên bờ suối có cánh đồng xanh tươi và có rừng luồng cao xanh bát ngát.
Dọc suối Pa có vũng nước mà hằng năm các cụ thường tế Cằng Long Vương. Theo các người già trong bản, trước đây, năm nào mưa thuận gió hòa, ăn nên làm ra, dưới suối Pa lại nổi lên đôi cá sấu. Năm nào làm ăn không thuận lợi thì nổi lên đôi rắn ráo cổ vàng, có cánh tay (thác Con Gà), cánh sắng (thác Sắng), ở dưới chân thác có hang Long vương. Mùa xuân năm nào bản Phe có sự biến động trong làng thì nước trong hang chảy ra đục ngầu. Có Cánh Sao Va, tương truyền là nơi tạo Bôn xin Tạo Phe điều chỉnh lại ranh giới, ít nhất cho xin 20 xại. Tạo Phe không chấp nhận, vẫn theo ranh giới cũ, tại Cánh Phá Lạn. Từ đó, được mang tên là Cánh Sao Va - Phá Lạn ngăn ranh giới bản Phe và bản Bôn. Cuối bản có dãy đá to và dài, trên dãy đá xương rồng cạnh suối Lọng Pháng xưa kia các cụ truyền lại là rồng đất nổi lên, bị sét đánh nổ đầu chết biến thành đá.
Đồi Tén Bặt Còn là nơi làm rẫy tập trung, có Piềng bãi rộng lớn, trên đồi cao gió mát, hằng năm vào mùa thu trai gái tập trung vui chơi, hát khặp, ném còn, đánh khăng, đánh mảng. 
“Buốc khoài om pù sung” là nơi có con trâu đực húc chết một con hổ tại đó nên mang tên Lũng trâu om. Na Úm, Na Oi là nơi đàn hổ hay đến sinh con, bắt thú. Còn có câu ví: “Ngước băng hừa, xứa na Úm, chú hốm mạy, chú mi xác mú”. Nghĩa là: Thần vương ở vụng Hưa, hổ gầm ở Na Úm, mỗi bóng cây đều có xác lợn.
Bản Phe có các bến suối: tá Tóc, tá Luống, tá Tớ, tá Phé và tá Na Pháng. Tá Mỏ có Tá Bó Cúng (mó tôm), tá Lọng Nghịu và tá Lọng Lin.
Có các suối chảy trong bản: suối Lọng He, suối Lọng Na Oi, suối Mòn, suối Lo Hen, suối Tá Bó, suối Lọng Nghịu, Lọng Lin, Lọng Pháng, Khoài Đón, và suối Tíu, có hang Trăn bên ngọn suối Phe, có hai vụng nước suối ngọt, được gọi là Púng Xộp Púng và Púng Xộp Úm nơi thú vật hay đến uống nước.
Phía nam của bản có suối Lọng Văn, suối Púng, suối Tói, suối Na Chá, suối Sao Ba, suối Dá Ngâu, suối Na Oi. Có một dãy đá to cao trên mặt bằng khoảng 30m2. Tương truyền, người xưa nếu bị voi đuổi hay chạy lên trên nóc hòn đá để trốn tránh nên gọi là Cón Hín Pái Chạng.
Các dòng họ sinh sống lâu đời ở bản Phe là họ Lữ, Hà, Lò, Vi. Trong đó, dòng họ Lữ là dòng họ khai sơn mở đất của bản.
Bản Cha Lung
Bản Cha Lung được hình thành 2 xóm (Cha Lung, Cha Lan) nằm dọc theo suối Pa.
Cha Lung là bản có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 3km và có đường ranh giới giáp với các xã Sơn Điện và xã Tam Lư của huyện Quan Sơn.
Bản Cha Lung có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phe; phía nam giáp với đường biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía tây giáp với bản Pa; phía bắc giáp với bản Tình, xã Tam Lư.
Năm 1961, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhân dân bản Cha Lung xây dựng Hợp tác xã bậc thấp, liên hợp với bản Phe là HTX Trung Lập. Lúc này, bản có 18 hộ với 103 nhân khẩu. Sau khi giải tán HTX, bản trở lại tên gọi ban đầu là bản Cha Lung.
Bản có dòng suối Pa chạy dọc từ đầu đến cuối bản. Phía trước bản có cánh đồng ruộng, sang bên kia suối Pa có Pom Tén Bặt Còn (nghĩa là núi đỉnh đồi ném còn). Bản Cha Lung đầu ngoài giáp bản Phe, từ suối Khoài Lón đến Hắng Vằng Văn (Đuôi Vụng Văn). Phía trong từ suối Khén bên kia suối Pa từ Hát Sộp Khua. 
 Phía sau bản có 2 con suối nhỏ, đầu làng là suối Nong Ó, cuối bản là Huối Cần và có 3 đồi núi. Đầu bản là Pom Sưa Nắng (đồi hổ ngồi); giữa bản là Póm Hín Chạng (đồi Đá Voi), cuối bản là Póm Che (đồi Chè). 
Bản Cha Lung có 7 cánh đồng, tên gọi bằng tiếng Thái là: na Piềng Héo, na Tưng Cha Lung, na Póm, na Bán, na Cha Lán, na Muống và na Tá, có 4 tuyến mương với chiều dài là 2.462m. Trong đó có một tuyến dài 2.000m được xây đắp bê tông kiên cố, lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt của bản Cha Lung chủ yếu lấy từ 2 dòng suối Pa và suối Lóng.
Bà con trong bản đã chung sức xây dựng quê hương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống kinh tế. Cuộc sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng phong phú. 
Bản Cha Lung hiện nay có diện tích là 966,6ha, với 6 dòng họ và 2 dân tộc Thái, Kinh chung sống đoàn kết bên nhau.
Bản Pa
Bản Pa có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Cha Lung; phía tây giáp bản Yên, xã Mường Mìn; phía nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp bản Xa Mang, xã Sơn Điện.
Bản Pa có hai dân tộc Thái và Mường cùng chung sống. Trong bản có các dòng họ lớn nhỏ, gồm: họ Lương, họ Lò, họ Ngân, họ Khoang, họ Phạm, họ Vi, họ Lữ, họ Hà, họ Lê.
Người dân bản Pa làm ăn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm sản. 
2.3.10. Xã Sơn Điện
2.3.10.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Sơn Điện có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Sơn Lư.
Phía tây giáp xã Mường Mìn.
Phía nam giáp xã: Tam Thanh, Tam Lư (huyện Quan Sơn) và huyện Sầm Tớ, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Thiên Phú, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Điện theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 9.437,35ha. Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 8.549,06ha.
- Đất phi nông nghiệp: 297,45ha.
- Đất chưa sử dụng: 590,84ha.
Tổng dân số xã Sơn Điện theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 4.117 người. Trong đó: nam giới 2.164 người, nữ giới 1.953 người; mật độ dân số 44 người/km2.
Xã Sơn Điện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, gồm 2 xã Trịnh Sơn và xã Trịnh Điện hợp thành xã Sơn Điện.
Ngày 28/2/1950, Sơn Điện hợp nhất với xã Sơn Thủy lấy tên chung là xã Sơn Thủy.
Đến năm 1963 lại chia tách xã Sơn Thủy ra thành 2 xã là xã Sơn Thủy (Mường Xia) và xã Sơn Điện (Mường Mìn).
Xã Sơn Điện gồm có các chòm: Bun, Ban, Sủa, Ngàm, Nhài, Yên, Bơn, Chiềng Mìn và Tân Sơn.
Theo Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999, xã Sơn Điện lại tách thành hai xã mới, xã Sơn Điện và xã Mường Mìn.
Dân cư trong xã gồm dân tộc Thái chiếm 49,33%; dân tộc Mường chiếm 43,81%; dân tộc Kinh chiếm 6,86%. 
Trong các dân tộc trên địa bàn xã, dân tộc Thái có mặt sớm nhất, dân tộc Mường đến Sơn Điện đầu thế kỷ XV, dân tộc Kinh đến từ năm 1977. 
Xã Sơn Điện có các dòng họ chính, gồm: họ Lương, Lò, Phạm, Hà, Lộc, Ngân, Vi, Lữ. 
Hiện nay, xã Sơn Điện có 11 bản và hai khu dân cư: Bản Ban; bản Bun; bản Na Nghịu; bản Na Lộc; bản Ngàm; bản Nhài; bản Na Hồ; bản Tân Sơn; bản Sủa; bản Na Phường; bản Xa Mang; hai khu dân cư Km 54 và Km 61. 
Xã Sơn Điện có dòng sông Luồng và tuyến đường 217 đi qua. Đoạn sông Luồng chảy qua Sơn Điện từ cửa suối Yên (Bản Tân Sơn) xuống đến hết địa phận bản Sủa dài khoảng 15km.
Đường 217 chạy qua Sơn Điện từ đỉnh Pù Đen Mường Km 49 giáp với xã Sơn Lư (tính từ Đồng Tâm) lên đến Km 74 + 500 cầu suối Yên giáp với xã Mường Mìn dài 15,5km.
Sơn Điện có nhiều núi nhưng chủ yếu là núi đất có tầng đất dày, thiên nhiên ban cho Sơn Điện (Mường Mìn) nhiều gỗ, vầu và nứa nên đồng bào có nguồn thu nhập ổn định từ sản phẩm rừng.
Núi đá ở Sơn Điện có núi Pha Đón ranh giới với xã Sơn Thủy, Pha Đón thuộc địa phận bản Na Nghịu, Pha Phanh địa phận bản Sủa, Na Hồ kéo dài xuống xã Nam Động, huyện Quan Hóa và một số núi đá ở bản Sủa giáp với xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn và xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Địa phận xã Sơn Điện (Mường Mìn) cũng có nhiều khe suối. Trong đó có suối Bun là lớn nhất.
Suối Yên bắt nguồn từ bản Yên giáp biên giới Việt - Lào chảy theo hướng tây - nam về đông - bắc đổ ra sông Luồng tại địa phận bản Chiềng - Tân Sơn Km 65.
Cầu suối Yên nơi ranh giới của Sơn Điện và Mường Mìn (đập tràn) đường 217 thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là điểm oanh tạc ác liệt thường xuyên của máy bay Mỹ. Hàng vạn tấn bom đạn Mỹ đã ném xuống nơi đây trong những năm 1965 - 1968 nhằm phá đập suối Yên ngăn đường tiếp tế của ta sang chiến trường C (Lào).
2.3.10.2. Các bản thuộc xã Sơn Điện
Bản Sủa (Súa)
Bản Sủa trước đây gồm ba bản là bản Sủa, bản Na Hồ và bản Na Phường.
Bản Sủa nằm dưới chân núi dọc theo sông Luồng và suối Sủa, cách trung tâm xã Sơn Điện 15km về phía đông bắc. Địa hình nhiều đồi núi dốc, núi đá, khe suối. Chiều dài từ đầu bản đến cuối bản là 1,8km. Chiều rộng là 500m. Bản có diện tích tự nhiên là 952,1ha.
Bản Sủa trước đây địa bàn rộng, phức tạp, dân cư đông, giao thông đi lại khó khăn, bị ngăn cách bởi con sông Luồng không thuận lợi cho việc đi lại cũng như sự phát triển chung của bà con trong bản. Vì vậy, năm 1987, bản Sủa được chia thành hai bản là bản Sủa và bản Na Hồ. 
Năm 2008, theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân bản Sủa, lại tách bản Sủa thành hai bản là bản Sủa và bản Na Phường. Bản Na Phường được tính từ đập cống suối Xa Lá đi dọc suối Sủa; bản Sủa được tính từ đập cống suối Xa Lá đi dọc theo bờ sông Luồng, hai bản đều giáp ranh với xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Hiện nay, bản Sủa có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bâu, xã Nam Động, huyện Quan Hóa; phía bắc giáp bản Na Phường; phía nam giáp bản Na Hồ; phía tây giáp bản Ngàm.
Bản Sủa gồm hai dân tộc anh em cùng chung sống là dân tộc Thái và người dân tộc Mường. 
Dân cư bản Sủa sinh sống chủ yếu từ hai nguồn lâm nghiệp và nông nghiệp trồng lúa nước.
Bản Na Phường 
Bản Na Phường thành lập năm 2008 tách ra từ bản Sủa (Súa)
Phía đông giáp bản Sủa, phía tây giáp bản Bơn xã Mường Mìn và bản Cóc, xã Sơn Thủy.
Phía bắc giáp xã Nam Động huyện Quan Hóa, phía nam giáp bản Na Hồ.
Bản Na Phường có hai dân tộc Thái, Mường với các dòng họ chiếm đa số là Lương, Lộc, Lò. Người dân sống chủ yếu làm nghề nông, lâm nghiệp.
Bản Na Hồ
Bản Na Hồ được tách ra từ bản Sủa từ năm 1987. Địa giới của bản được tính từ bên phải bờ sông Luồng đi xuống hạ lưu. 
Bản Na Hồ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa; phía tây giáp bản Bun; phía nam giáp bản Bìn, xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn; phía bắc giáp bản Sủa.
Bản Na Hồ có diện tích tự nhiên là 715,8ha. Bản có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người dân bản Na Hồ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Bun
Bản Bun có vị trí: phía đông giáp bản Bìn, xã Sơn Lư, Na Hồ xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Ban; phía nam giáp bản Sỏi, xã Sơn Lư; phía bắc giáp bản Ngàm xã Sơn Điện.
Bản có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
Bản Ban
Bản Ban có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bun; phía tây giáp bản Xa Mang, Na Lộc; phía nam giáp xã Tam Thanh; phía bắc giáp bản Na Hồ, bản Ngàm.
Bản có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường.
Bản Ban có diện tích tự nhiên là 880,6ha; trong đó, diện tích sản xuất đất nông nghiệp: 20 ha. Đất lâm nghiệp: 650ha; còn lại là đất khác.
Bản Xa Mang
Bản Xa Mang có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ban; phía tây giáp bản Yên, xã Mường Mìn và giáp nước bạn Lào; phía Nam giáp bản Pa và Cha Lung, xã Tam Thanh; phía bắc giáp bản Na Lộc và Na Nghịu.
Bản Xa Mang nằm dọc theo suối Xa Mang, là bản có 1,8km đường biên giới với nước bạn Lào. Bản cách trung tâm xã 11km về phía đông nam, cách trung tâm huyện Quan Sơn 27km. Diện tích tự nhiên của bản là 626ha.
Bản Xa Mang được hình thành từ lâu nhưng hợp rồi lại tách, bản ổn định khi các hộ dân từ các nơi về xây dựng làng bản theo dự án 327, lâm trường Na Mèo năm 1994 và dự án trồng rừng 661. Lúc thành lập bản định canh định cư theo dự án 327 lâm trường Na Mèo đưa vào 19 hộ, đến nay quá trình nhập cư tăng lên 29 hộ.
Bản Xa Mang có địa hình đồi, núi, nhiều khe suối nên giao thông đi lại khó khăn, thông tin liên lạc chưa được phủ sóng tuyệt đối. Chiều dài của bản là 1,2km, chiều rộng là 600m. Trong bản có nhiều suối như: suối Bôn, suối Chính, suối Côi, suối Lào, suối Lech, suối Xa Mang. 
Bản Xa Mang có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. 
Bản Ngàm
Bản Ngàm hình thành từ lâu đời. Có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa; phía tây giáp bản Na Lộc; phía nam giáp bản Ban; phía bắc giáp bản Na Phường.
Ở phía bắc của sông Luồng có núi đá Pha Đón và Pha Lanh, thung lũng Khu Lống Pha Pứng. Bản có con sông Luồng chảy qua, có các suối như suối Bơn, suối Chóc Lách, suối Tá, suối Căm, Ta Lau, suối Huối Hơn, huối Mường, huối Hón Tấp, huối Mường Tấp, huối Héo, huối Tín Pệt, huối Ta Láp, huối Sau Tạng, huối Vứng, huối Tàng Luống và các xứ đồng như: Nà Xa Láo, Nà Nưa, Nà Tống, Nà Pa Cọ, Nà Piềng Pù.
Bản Ngàm được phân bố thành 2 khu dân cư gồm khu Piềng Vứng và khu Co Nào. Có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Có 5 dòng họ: Lò, Lương, Vi, Ngân, Phạm (Lò Khăm).
Người dân trong bản sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Na Lộc
Bản Na Lộc lúc đầu có tên là Kòn Dộc thuộc bản Nhài. Đến năm 1963, đổi tên bản là Na Lộc, tách Na Lộc thành bản riêng thuộc xã Sơn Điện cho đến nay. 
Bản Na Lộc nằm dọc theo Quốc lộ 217, giao thông thuận lợi, có sông Luồng chảy qua địa bàn của bản, địa hình nhiều đồi núi và thung lũng, đất đai canh tác nông nghiệp và lâm nghiệp, đặc biệt là núi Pha Ta Mướng và Tạng Keo Mứt.
Bản Na Lộc có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm, bản Ban; phía tây giáp cơ quan Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía nam giáp bản Ban và bản Xa Mang; phía bắc giáp đất bản Ngàm.
Người dân sinh sống dựa chủ yếu vào lâm nghiệp chiếm 60%, nông nghiệp chiếm 25% và dịch vụ chiếm 15%.
Mật độ dân cư trong bản thưa thớt ở ba khu, phân bổ không đồng đều. Có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống là: Thái, Mường và Kinh. 
Bản Na Nghịu (Bản Cây Gạo)
Bản có tên gọi khác là bản Nhài tớ, có nghĩa là Nhài dưới.
Bản Na Nghịu có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Lộc, bản Ngàm; phía tây giáp bản Nhài; phía nam giáp bản Xa Mang; phía bắc giáp bản Na Lộc và khu trung tâm xã Sơn Điện và cơ quan Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo.
Bản Na Nghịu trước đây thuộc bản Nhài, lịch sử hình thành của bản gắn với quá trình hình thành bản Nhài. Năm 1987, tách Na Nghịu thành một bản mới thuộc xã Sơn Điện. Tên gọi của bản có từ đấy cho đến nay.
Bản có địa hình đồi, núi cao, có con sông Luồng chảy qua.
Bản Na Nghịu có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh Có các dòng họ là họ Hà, họ Lương, họ Vi, họ Phạm, họ Lò. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Nhài (Dài)
Bản Nhài trước đây gồm các bản Na Lộc, Na Nghịu, bản Nhài và một phần diện tích bản Tân Sơn ngày nay. Diện tích tự nhiên trên 3.000ha. Năm 1959, Nhà nước thành lập bản Tân Sơn gồm một phần đất bản Chiềng và bản Nhài.
Năm 1974, chia tách Na Lộc thành bản riêng. Năm 1987, lại tách Na Nghịu thành một bản mới. 
Bản Nhài có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Nghịu, phía tây giáp bản Tân Sơn, phía nam giáp bản Xa Mang, phía Bắc giáp bản Bơn, bản Ngàm. 
Địa hình bản Nhài có nhiều núi rừng, khe, suối. Con suối lớn nhất là suối Nhài, có sông Luồng chảy qua bản gần 1km, có Pha Đón cao ngất, thác suối Nhài 3 tầng đẹp kỳ vĩ, thác cao gần 100m.
Nhân dân bản Nhài giàu lòng yêu nước chống ngoại xâm từ xưa đến nay. Ngay từ thế kỷ thứ XV đã có người tham gia đội quân đi đánh giặc Minh ở đồn Quán pế, phía tây sông Mã, thuộc đất Quan Hóa giáp Mai Châu Hòa Bình, trong đó có ông Tiều Quế, Pú Ông tức Lương Văn Ông. Sang thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng lãnh đạo, suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân bản Nhài đã nhiệt tình cùng với nhân dân cả nước góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Ngay từ thời kỳ đầu, bản đã có người tham gia vào Ủy ban lâm thời xã, hăng hái tham gia dân quân du kích đánh đồn Mường Xia, Sơn Thủy từ năm 1948 đến 1950 và đồn Mường Sôi - Lào từ năm 1950 đến 1953 và hăng hái tham gia dân công phục vụ chiến dịch thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ. Những năm 1953 -1954, bản còn là căn cứ kho tàng trung chuyển phục vụ chiến dịch thượng Lào suốt từ Km 60 đến Km 63. Dân quân du kích bản Nhài đã cùng với bộ đội tuần tra bảo vệ kho tàng an toàn.
Bản Tân Sơn 
Vùng đất bản Tân Sơn trước đây có tên gọi là Piềng Cần. 
Bản Tân Sơn có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp bản Nhài; phía tây giáp bản Chiềng, xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Bơn, xã Mường Mìn; 
Từ ngày 31/08/1999 về trước, bản nằm ở trung tâm xã Sơn Điện cũ. Năm 1960, Nhà nước thành lập bản Tân Sơn gồm một phần đất bản Chiềng và bản Nhài. Sau khi chia thành hai xã Sơn Điện và Mường Mìn, Tân Sơn trở thành bản cuối xã Sơn Điện, giáp với xã Mường Mìn, có đường Quốc lộ 217 xuyên qua bản từ Việt Nam sang nước bạn Lào. Tên gọi của bản có từ đó cho đến ngày nay.
Diện tích tự nhiên 325,8ha; trong đó, diện tích ruộng lúa nước 20ha; diện tích trồng màu 19,1ha; diện tích rừng luồng 175ha; diện tích rừng gỗ lim 1,7ha, còn lại là đất khác.
Bản Tân Sơn có sông Luồng (Nặm Tuông) chảy qua, có nhiều suối nhỏ là suối Na Mòn, suối Nam Túm, suối Léch Nưa, suối Léch Tớ, suối Vóc Pát, suối Noong Tàu. Sông suối chảy trên địa bàn là nguồn nước thuận lợi cho đồng bào sản xuất và sinh hoạt. Hiện tại, người dân lấy nước tưới tiêu cho hoa màu từ suối Yên chảy qua bản Na Pạng vào bản Tân Sơn và dùng nước sinh hoạt ở suối Na Mòn.
Bản Tân Sơn có núi Pha Đón, săn Pù Có Vá, săn Dào, săn Tắm Tàn, săn Phòng Không, đồi Pha Toóc, đồi Pa Vai.
Đồng bào canh tác trên các piềng, bãi: Piềng Co Mí, Piềng Léch; Các cánh đồng: na Hát Pénh, na Su Lục, na Lin Lenh, na Co Há, na Có Hiềng, na Pốt, na Ang, na Ma Lai, na Pi Niêng, na Cần, na En Mạ.
Theo cụ Phạm Bá Quyết, 91 tuổi (năm 2001), cán bộ hưu trí bản Chiềng, xã Mường Mìn, bản Tân Sơn ngày nay từ 1959 về trước gọi tên piềng Cần. Vào giữa thế kỷ XV, ông Hai, tạo Pọng Nhài và ông Ba, ông Tư ở bản Chiềng, ba anh em đã thống nhất huy động nhân dân toàn mường đào mương Cần, đắp phai lấy nước từ na Pạng về piềng Cần khai hoang các cánh đồng na Hát Pénh, na Co Há, na Lín Lánh trồng lúa; piềng Cần làm hoa màu cạn; piềng Su Lục làm thao trường tập luyện phi ngựa (en mạ). Đó là các cánh đồng của bản Tân Sơn ngày nay.
Tạo Tư làm rẫy ở đầu piềng Cần liền trồng 3 bụi cây cần vào đám rẫy đó, thấy bụi cây cần xanh tốt nên đặt tên cho bãi đất này là piềng Cần. Tên gọi có từ đó. 
Bản Tân Sơn có 3 dân tộc: Thái, Mường và Kinh cùng sinh sống. 
Người dân bản Tân Sơn sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản (nứa, vầu, trồng và chăm sóc luồng).
2.3.11. Xã Mường Mìn
2.3.11.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Vị trí địa lý của xã Mường Mìn. 
Phía đông giáp bản Tân Sơn và bản Xa Mang, xã Sơn Điện.
Phía tây giáp xã Na Mèo, giáp bản Chía, Mường Xôi, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía nam giáp bản Kiên, Na Muồn, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Sơn Thủy.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Mường Mìn theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.920,51ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 7.823,86ha.
Đất phi nông nghiệp: 181,35ha.
Đất chưa sử dụng: 915,30ha.
Tổng dân số xã Mường Mìn theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.324 người. Trong đó: nam giới 1.171 người, nữ giới 1.153 người; mật độ dân số 26 người/km2.
Từ năm 1945 trở về trước, Mường Mìn đặt trung tâm của bộ máy cai trị ở bản Chiềng Mìn. Mường Mìn (2 xã Sơn Điện và Mường Mìn) được tính từ Km 49 Pù Đen Mường là ranh giới giữa xã Sơn Lư đến Mường Cha Km 78 thuộc địa phận xã Na Mèo ngày nay. Trước năm 1931, Thực dân Pháp đã chia Mường Mìn thành 2 xã để dễ bề quản lý, cai trị gọi là xã Trịnh Điện và xã Trịnh Sơn (nay là Sơn Điện, Mường Mìn).
Năm 1963, theo Quyết định số 30 - CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 6 - 3 - 1963: Chia ba xã Tam Chung, Sơn Thủy và Trung Thành thuộc huyện Quan Hóa thành 7 xã mới, thì xã Sơn Thủy thành hai xã mới là xã Sơn Thủy và xã Sơn Điện. 
Xã Sơn Thủy gồm có các chòm: Muống, Tân Lập, Thanh Sơn, Cha Khót, Hiềng, Thủy Thành, Bo, Thủy Chung, Thủy Sơn, Trung Tiến và Xuân Tiến; 
Xã Sơn Điện gồm có các bản: Bun, Ban, Sủa, Ngàm, Nhài, Yên, Bơn, Chiềng Mìn và Tân Sơn. Mường Mìn lúc bấy giờ thuộc xã Sơn Điện.
Theo Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999: “Mục 2. Thành lập xã Mường Mìn thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở 8.190ha diện tích tự nhiên và 2.115 nhân khẩu của xã Sơn Điện. Địa giới hành chính xã Mường Mìn: phía đông giáp xã Sơn Điện, phía tây giáp xã Sơn Thủy, phía nam giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía bắc giáp xã Sơn Thủy. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính xã Sơn Điện có 10.355ha diện tích tự nhiên và 4.287 nhân khẩu”. Tên gọi xã Mường Mìn có từ đó cho đến ngày nay.
Xã Mường Mìn là một xã vùng cao miền biên giới của huyện Quan Sơn có 10,8km đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cách trung tâm huyện lỵ Quan Sơn hơn 30km về phía tây. Mường Mìn nằm theo Quốc lộ 217 chạy lên Cửa khẩu quốc tế Na Mèo. Mường Mìn có địa hình hiểm trở của kiểu rừng nhiệt đới. 
Xã Mường Mìn là vùng đất có phong cảnh sơn thủy hữu tình, có câu chuyện tình Pha Dua nổi tiếng trong cộng đồng người Thái ở Quan Sơn. Có các núi đá như: Pha Đon (núi đá trắng); Pha Hen (núi ngửa cổ); Pha Dùa (núi nhô ra sông), Pha Cay (núi cúng gà), Pha Phứng (núi ong làm tổ), Pha Đen (núi trên trán); bên cạnh các núi đá là núi đất: Pù Xà Lày (thuộc quần thể dãy Trường Sơn chảy từ huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sang huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An), Pù Cút, Sắn Lắng Bán (núi sau bản, chảy từ Pù Cút qua eo Pa Lết tại Km 71, đường 217 chảy về hết hạ nguồn suối Yên tại Km 65 - 300m), Pom Cằng Pạng - Póm Pù Kì nối lên Pù Cút. Nơi đây trước kia là khu vực người Khơ Mú sinh sống. Từ năm 1935, người Khơ Mú đã di chuyển lên bản Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát sinh sống, Pù Cánh Khóe (rừng thác quế), Sài Khao là thung lũng trên núi (có tên cát bạc, cát trắng). Đây cũng là địa danh người Khơ Mú đã từng sinh sống.
Xã Mường Mìn là vùng núi rừng trùng điệp, có những dãy núi cao như Pù Xa Lày cao 1.416m so với mặt nước biển, có dãy núi Pha Dùa cao nhất khu vực huyện Quan Sơn (hơn 1.640m). 
Xã Mường Mìn có Pha Đón, xưa kia là nơi trực chiến của dân quân xã Sơn Điện (khi xã Mường Mìn còn chung với xã Sơn Điện) bắn máy bay Mỹ. Pha Đón nằm trong quần thể núi đá vôi theo chiều chếch Đông - Bắc tạo vòng cung ôm lấy dòng sông Luồng uốn lượn tăng thêm sự kỳ vĩ của non nước Mường Mìn. Có đồi Pom Dưới theo truyền thuyết là mồ chôn quân Minh, là trận địa đanh thép làm cho máy bay Mỹ kinh hoàng mỗi khi chúng đến bắn phá cầu suối Yên. Chính nơi đây vào một đêm tháng 2 năm 1966, dân quân đã bắn cháy một máy bay Mỹ rơi về phía nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Cầu suối Yên cách Km 65 về phía Đồng Tâm 200m, là chiếc cầu trên tuyến đường 217 nối liền nước ta với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đế quốc Mỹ đã trút nhiều bom đạn xuống đây nhằm cắt đứt con đường huyết mạch giao thông tiếp viện cho chiến trường C giữa nước ta với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Xã Mường Mìn có mạng lưới sông suối chằng chịt, độ dốc cao, dòng chảy lớn. Sông Luồng là con sông chính chảy qua địa bàn xã. Sông bắt nguồn từ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, do hai con suối lớn của Mường Xôi và Mường Pùn hợp lại. Dòng bên tả gọi là dòng Nặm Xôi; bên hữu gọi là Nặm Pùn chạy về hợp lại vào Việt Nam gọi là nặm Tuông (sông Luồng) chảy vào xã Na Mèo đi qua xã Sơn Thủy, chảy qua dãy Pha Dùa vào xã Mường Mìn, gặp suối Yên tại bản Tân Sơn bắt đầu chảy về xã Sơn Điện, và các xã của huyện Quan Hóa: xã Nam Động, xã Nam Tiến và xã Nam Xuân gặp sông Mã tại phía ngoài Hang Ma khoảng 2km, xã Hồi Xuân huyện Quan Hóa. Đây là con sông làm huyết mạch giao thông nối liền các xã ở huyện Quan Sơn và huyện Quan Hóa. Ngày xưa khi đường bộ chưa phát triển, sông Luồng, sông Lò, sông Mã là con đường thủy vận chuyển lâm thổ sản chính từ miền ngược xuống miền xuôi ở Thanh Hóa. 
Suối Yên là con suối chính của Mường Mìn dùng để tưới nước ruộng của các bản Yên, Na Pạng, Luốc Làu, bản Chiềng và Tân Sơn xã Sơn Điện. 
Suối Bóng là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho các ruộng na Co Phày, na Có Tén, na Piềng Bán, na Pa Mác, na Có Phường, na Có Lướng, na Chà Khé.
Suối Én là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho các cánh đồng: na Én, na Cháo, na Keo, na Héo, na Có Phúng, Nà Lạ.
Bên cạnh dòng sông Luồng, suối Yên, suối Én, suối Bóng là các khe, hón dày đặc. Mỗi khe, hón đều gắn với địa danh làng bản Mường Mìn, gắn với quá trình khai mường lập bản. Sau đây là một số khe, hón ở Mường Mìn:
Dọc theo sông Luồng có các khe suối: suối Cướm (hón cây trám), suối Héo (suối bãi tha ma chiềng Lào), Nặm Bóng (suối Bóng lòng suối cát mịn, chảy từ Pù Cút xuống), suối Hưa (nơi người xưa kéo đi tìm đất kéo thuyền dấu trong hón), suối Còn Sét (hón cá mương, nơi đây đã đào được trống đồng), suối Chộc (hón có nhiều gỗ bi người Thái hay dùng làm cối giã gạo, gọi là Chộc), suối Hát Quáng (hón Thác rộng), suối Lế (suối tế lễ khu rừng thiêng Mường Mìn xưa)...
Dọc tả hữu suối Yên có các hón: hón Na Nốm (hón ruộng cây trúc), Na Mon (hón ruộng cây dâu), hón Xá (trước kia là bản của người Khơ Mú), hón Pung (Pung là mỏ nước ngọt trâu thích uống), hón Ché Phai (góc đập), hón Ngóm, cha Lan, Cộng, Sứng, Na Yến, Na Ón, Chạng Náu (hón voi thối), hón Én, Cay, Chá, Pung, Ai (hón làm ranh giới hai bản Yên và bản Mìn), Muống, Tá Ban, Đống Khống (hón Thiêng), Páo, Pha, Pha Phứng (suối núi đá ong mật), Pung. 
Dọc theo suối Én có các hón: Ho Láng (tên nhân vật thần thoại Ho Láng), Có Mị (hón cây mít), Nặm Dín (suối nước mát), suối Héo (suối bãi tha ma), Có Cần (hón có nhiều cây song cần), suối Tóc, Có Nào (hón cây tranh), Có Hày (hón cây sanh), Na Héo (hón ruộng tha ma), Tống Thánh, Có Hín Hại (hón đá xấu), Tanh Hướng (hón nhà ông Hướng), suối Sần (nơi thờ cúng lưu vực suối Én), Có Toi (hón họ lá trầu không), Ngoi Cắng (hón cây khỉ độc ngủ), Na Cháo, Mác Càng (trái Cóc), Na Ti, Na Mạ, Súm Luồng, Sái Khò, Khúa Lậc, Có Phày, Bo Khoắn (hón Lạc vía), Chừa Lẹ (hón dây mác lẹ), Có Kè (cây da báo).
Dọc tả hữu suối Bóng có các khe hón: huối Có Mị (hón cây mít), Na Bo (hón chảy ra ruộng Bo), Tha Lánh (hón thiêng), huối Khuông (xưa suối có hũ bạc thiêng), Có Ten (hón cây mác ten), Có Phường (hón cây khế), Khí E (hón vãi phân), Na Lai (ruộng vân hoa), Pa Khà (hón Cỏ tranh), huối Dum (hón cây lát), Sộp Mú (hón mõm lợn), Pa Mác (hón cây cau), Có Ngóa (hón cây vả), Có Phày (hón cây dâu da ba múi), Cha Khụ (hón co rụt), suối Pán (hón Hé), suối Lìn Nặm (hón máng nước), Pùng Bón Nóc (hón bãi môn ngoài), Pùng Bon Cuống (hón bãi môn trong), Heo Kéo (hón Mồ chôn của người Kinh), Có Mòn (hón cây dâu), Tín Cánh (hón chân thác), Keo Đén (hón ranh giới), 
Lưu vực suối Lế có các hón: suối Pa Mác (ruộng bãi cau), suối Đưa (ruộng cây sung), Luốc Ưng, Che Khe, Héo Phó, Huối Xá, Na Có Lướng, Đín Cánh (suối đất đỏ), Có Hộc (hón cây bương), Sa Ăn, Thắm Toi (hón dây trầu), Na Ang, Nóng Xơ, Hín Đắm (hón đá đen), suối Hượn (hón chữa bệnh cùi - hủi), Huối Sần (hón thờ thần), Phá Dồng, suối Cút (hón cây dương xỉ), suối Chưa Dượng (hón Hoằng Đằng).
Ruộng nước ở Mường Mìn chiếm tỷ lệ khá cao trong toàn huyện. Từ xa xưa người Mường Mìn đã đào mương dẫn nước vào ruộng để chủ động tưới tiêu. Những con mương dài 3 - 4km như mương Suối Lế, mương Cang (mương Cần), mương Luông, mương Lè. Ở Mường Mìn lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn, khí hậu nhiệt đới, ẩm. Nhiệt độ trung bình từ 12 - 340, mùa đông nhiệt độ trung bình khoảng 180C; mùa hè trung bình 290C. Chính vì nhiệt độ trung bình của hai mùa không chênh lệch nhau quá lớn nên rất thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp.
Sau đây là một số piềng bãi, ruộng đồng người dân Mường Mìn khai phá canh tác từ bao đời nay: Ven sông Luồng có các piềng: piềng Phạ (bãi Trời), piềng Bơn (bản Bơn), piềng Sa Hay, piềng Bóng (bãi đối diện suối Bóng), piềng Chiềng Lào (bản Luốc Làu), piềng Héo (bãi tha ma các nhà quí tộc), piềng Khật (nơi quân sỹ đi đánh giặc Minh chiến thắng trở về gặp nhau giữa hai đường thủy bộ rồi định cư ở Mường Mìn - thuộc bản Chiềng, Na Piềng Phạ, na Piềng Băng Dao, na Bơn. 
Ruộng lưu vực suối Yên có: na Le (ruộng đẹp nên người qua đường phải ngước nhìn), na Nốm (ruộng cây trúc), na Nốm Nưa (ruộng cây trúc trên), na Sộp Lin (ruộng đầu máng), na Mác Cại (ruộng cây vải), na Kháu Cháo (ruộng cơm nấu nồi), na Pông Diên (ruộng ông Diên khai phá), na On Bua (ruộng rừng cây trúc làm cần rượu), na Khà (ruộng rừng tranh), na Ách Chạng (ruộng ách voi), na Pông Đống Khuống (ruộng sâu thiêng), na Duỗi Bá (ruộng bóng đa), na Ten Luông (ruộng lạch nước lớn), na Hách Tén (ruộng mường hay cấy lấy ngày ở trên), na Hách Lọng (ruộng mường hay cấy lấy ngày ở mương), na Lọng Ang (ruộng rốn nước), na Hòn Hín (ruộng nhiều đá), na Lọng Diên (ruộng trũng lắm lươn), na Hới Lau (ruộng bãi cây lau), na Dụng Cáng (ruộng giữa bản Pom Dụng), na Hòn Có Báy (ruộng nơi giặc Mỹ ném bom xuống đoàn người đang cấy ruộng năm 1968), na Tá, na Cha Khang (ruộng cây thuộc thận), na Có Phày, na Hói mạng, na Kem Cha, na Kẹm Lọng, na Sum Luồng (bụi luồng), na Có Phèn, na Có Há, na Có Hiến, na Kiên Lọng, na Hó Láng, na Păn, na Khoài, na Ngân, na Pun Xôi, na Pạng Háng, na Pạng Húa, na Ché Phái, na Pạng Muôn, na Lọng Sài, Na Ngóm Hang, na Ngóm Húa, na Nghịu, na Pồng Nọi, na Sộp Cộng, na Muống, na Ta Ban, na Pồng, Luống, na Hiềng, ma Mưới (ruộng vật được gấu), na Lăn, na Hín, na Có Hum, na Viêng, na Yến, na Bón, na Đín, na Đín Mò, na Húa Cánh, na Ón. 
Lưu vực suối Én có các cánh đồng: na Tín Cánh, na Có Muống; na Có Sán, na Có Ha, na Bán Sần, na Lài, na Có Nôi, na Có Muống, na Héo, na Hày, na Chưa Lẹ, na Có Phày (ruộng cây dâu da), na Có Cần, na Lu, na Lạ, na Keo, na Láp, na Có Cần, na Hát, na Hi, na Cháo, na Cao, na Én, na Háng Kẻ, na Che Khé (ruộng cây gội đầu). Lưu vực suối Lế có các thửa ruộng: na Sộp Huối, na Pa Mác, na Đưa, na Ưng, na Có Hộc, na Pồng, na Hiềng, na Ti, na Phó Nọi, na Nám Huối, na Có Lướng...
Mường Mìn có một số thác vừa và nhỏ như thác Cánh Khóe, thác Sào Ba (20 sải), Suối Páo, thác Cánh Lum, suối Hặc - gần đồn biên phòng Mường Mìn, bản Yên (ba nơi này trước kia là nơi người Khơ Mú cư trú), thác Cánh Ngóm (dối diện bản Na Pạng), thác Cánh Lế, Cánh Bóng Pa Tuận (Thác Cánh Bóng cá cùng đường).
Hang động ở mường Mìn gồm có: hang Dùa, hang Hiến, hang Khúa Pồng, hang Thẳm Toi, Hòn Lạn Tắng.
Đất đai xã Mường Mìn rất màu mỡ, thuận lợi cho nhân dân canh tác trồng trọt và khai thác nguồn lợi từ rừng. Các loại cây vầu, nứa, luồng là thế mạnh chính của xã Mường Mìn trong phát triển lâm nghiệp, đem lại cho bà con thu nhập khá ổn định, cuộc sống từng ngày đổi thay. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người dân xã Mường Mìn không tiếc sức người sức của, khai thác rừng phục vụ cho kháng chiến: làm nhà ở, nhà kho, nhà xưởng cho trạm tiểu tu Na Lạ tại Km 68 khai khác gỗ để đóng thùng xe. Rừng còn là nơi ngụy trang cho kho và nhà xưởng cũng như che chở nhân dân và bộ đội dưới những tán lá xanh của đại ngàn.
Rừng núi Mường Mìn có rất nhiều gỗ quý như sến, táu, chò chỉ, pơ mu (lông lênh), có rừng cọ bạt ngàn ở các đồi, piềng bãi để lợp nhà.
Người dân xã Mường Mìn sống chủ yếu ở 5 bản: bản Mìn, bản Chiềng, bản Luốc Làu, bản Bơn, và bản Yên. Các bản chạy dọc theo đường biên giới nước bạn Lào, xã Na Mèo, xã Sơn Thủy, xã Tam Thanh. 
Bản Mìn, bản Chiềng, bản Luốc Làu có thế mạnh là rừng gỗ, vầu, nứa, samu, le, luồng,... 
Bản Bơn có rừng luồng và khai thác đá; gỗ chò chỉ ở suối Lế, pha Hen. Bản Yên có nhiều thế mạnh như: gỗ xamu, dổi, sến, táu, cọ... Bản còn có thác Cánh Khé dài gần 100m - một thắng cảnh thơ mộng và hùng vĩ của núi rừng Mường Mìn.
Mường Mìn còn nổi tiếng một thời với nhiều loại động vật quý hiếm như voi, tê giác, gấu ngựa, bò tót, hươu, nai, hoẵng, hổ, báo, lợn lòi, chim công và muôn loài muông thú quý. Tạo hóa đã ban tặng cho người Mường Mìn nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú và giàu đẹp. Các loài gen quý hiếm hiện đang còn và phát triển. “Lá phổi xanh” núi rừng Mường Mìn đang được dân bản bảo tồn và gìn giữ.Vì thế, tên gọi Mường Mìn xưa là “Mường Mì” (Mường Có). Dưới sông lắm cá, trên rừng lắm cây nhiều thú. Sau gọi chệch đi là Mường Mìn.
Xã Mường Mìn hiện nay, gồm có các bản sau: bản Luốc Làu; bản Chiềng gồm 2 bản Pom Hin, Có Kè hợp lại; bản Mìn gồm các bản nhỏ là: Na Pạng - Na Keo - Na Cháo nay gọi các bản Luốc Làu (gồm Pom Dụng, Luốc Làu), bản Mìn, Chiềng trước đây gọi là bản Chiềng Mìn. Trung tâm bản là Pom Hin (bản Chiềng) ngày nay; bản Bơn; bản Yên (gồm 4 chòm: Tá Ban, Sần, Na Ón, Huối Hặc).
Xã Mường Mìn có 3 dân tộc cùng chung sống bên nhau. Người Thái chiếm 89%; người Mường chiếm 6,5%; người Kinh chiếm 3,6% dân số toàn xã.
Trung tâm xã đóng ở Km 65 + 400, về phía Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo; ở khu vực bản Cò Kè thuộc bản Chiềng.
Mường Mìn cũng có nhiều phong cảnh đẹp như Pha Dùa ở bản Bơn, Pù Xà Lày, Pù Xà Mứt ở bản Yên.
Trước năm 1935, trên địa bàn Sơn Điện cũ (nay là Mường Mìn) có đồng bào Khơ Mú cư trú ở Pù Kì, suối Khà, suối Dồm, Piềng Luông. Sau năm 1935, đồng bào di cư trở lại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một số về bản Lách, huyện Mường Lát cư trú.
2.3.11.2. Các bản thuộc xã Mường Mìn
Bản Chiềng 
Bản Chiềng là trung tâm Mường Mìn. Bản nằm giữa sông Luồng và suối Yên, nơi tiếp giáp giữa suối Yên và sông Luồng thành hình chữ V, sau bản là đồi Pom Giới. 
Bản chiềng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tân Sơn, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Luốc Làu; phía nam giáp với đất của bản Tân Sơn, xã Sơn Điện và bản Mìn; phía bắc giáp bản Bơn.
Bản Chiềng Mìn trước đây gồm có 10 bản (chòm): Bản Pom Hin, Bản Có Kè, Na Mác Cại, Luốc Làu, Pom Dụng, Na Pạng, Na Keo, Ché Phái Lè, Luốc Cang, Na Chá, Huối Bóng. Bản Chiềng ngày nay gồm: Pom Hin, Có Kè, Huối Bóng, Mác Cạn.
Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, lâm nghiệp trồng rừng và khai thác nguồn lợi từ rừng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhiều người đã có công xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước như cụ Phạm Bá Tam, Phạm Bá Tứ, Phạm Bá Lượng, từng làm Tạo Mường Mìn hay Phạm Bá Ba, Phạm Bá Lương, Phạm Bá Phúc... làm Chủ tịch xã, Phó Chủ tịch UBHC huyện Quan Hóa, Phạm Văn Thư - nguyên Chủ tịch UBND huyện Quan Sơn là người con bản Chiềng.
Bản Luốc Làu
Bản Luốc Làu có vị trí địa lý: phía đông giáp với sông Luồng và bản Chiềng; phía tây và phía nam giáp bản Mìn; phía bắc giáp bản Bơn.
Bản Luốc Làu thuộc Chiềng Mìn trước đây, còn có tên là bản Nưa, nay lấy tên là bản Luốc Làu (bản có các chòm: Keo Cong, Luốc Làu, Che Phai Lè, Luốc Cang, Pom Dụng hợp lại).
Bản Luốc Làu dân cư chủ yếu là dân tộc Thái. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Bơn
Bản Bơn có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Sủa, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Chiềng; phía nam giáp bản Tây Sơn, xã Sơn Điện; phía bắc giáp bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy.
Bản Bơn nằm cách trung tâm xã khoảng 4km về phía tây bắc, có địa hình tương đối bằng phẳng, đồng ruộng bậc thang ở phía trước bản, phía sau bản là vườn đồi trầm hương, lát, quế... Xung quanh bản là một hệ thống núi, đồi bao quanh và đặc biệt có hai ngọn núi Pha Dùa và Pha Hen là một danh lam thắng cảnh hùng vĩ. Dòng sông Luồng chảy qua bản với chiều dài 4km, suối Lế dài 7km cung cấp nước tưới tiêu cho toàn bộ đồng ruộng trong bản.
Người dân bản Bơn sinh sống bằng nông, lâm nghiệp nhưng chủ yếu là lâm nghiệp. Phụ nữ bản Bơn nổi tiếng khéo tay dệt vải, ươm tơ và duyên dáng.
Bản Bơn có hai dòng họ là: họ Vi, họ Phạm, đông nhất là họ Vi. 
Bản Mìn
Bản Mìn xưa thuộc Chiềng Mìn, xã Sơn Điện, huyện Quan Hóa cũ. Đến năm 1987, thì tách làm hai bản là bản Mìn và bản Chiềng. Bản Mìn gồm có 4 bản nhỏ: Na Keo, Na Cháo, Na Pạng, Na Chá. Trong đó, Na Keo và Luốc Cháo dọc vào theo con suối Én, trục đường 217. Bản Na Pạng, Na Cha ở dọc theo con suối Yên. Trong bản có các dòng họ chính là: họ Phạm, họ Lương, họ Vi, họ Hà, họ Ngân. Bản Mìn là trung tâm của xã, là cái nôi của văn hóa xã Mường Mìn.
Địa hình bản Mìn có nhiều suối, đồi, thác và núi như: núi Pom Pạng, Pù Ngóm, Pha Đen, có suối Yên, suối Én, suối Chá... có thác Cánh Ngóm và thác Cánh Én. Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp.
Bản Yên 
Bản Yên trước năm 1945, lấy tên là Pọng Yên. Từ năm 1945 đến năm 1948 lấy tên là Nông Hội Yên.
Bản Yên có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xa Mang, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Cha Khót, xã Na Mèo; phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp bản Mìn.
Bản Yên là bản vùng cao biên giới Việt - Lào. Bản nằm ở thượng nguồn suối Yên, một suối lớn bắt nguồn từ phía tây nam giáp biên giới chạy ra đường 217 A gặp sông Luồng tại bản Chiềng, xã Mường Mìn. Bản Yên cách trung tâm xã Mường Mìn 6km về hướng tây - nam, bản có 11,8km đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Cách trung tâm xã 6km, cách trung tâm huyện 42km. 
Bản Yên nằm dưới chân núi Pù Xà Lày, cao 1.416m so với mặt biển. Cánh Khóe xưa vốn là bản cư trú của người Khơ Mú, nơi đây trồng nhiều cây quế (tiếng Thái gọi là khóe hoặc khé), dãy núi này thuộc quần thể dãy Trường Sơn chảy từ Thượng Lào xuống là nơi hội tụ của các con suối lớn nhỏ bắt nguồn ở độ cao đổ dồn về thung lũng bản Yên, lưu vực suối Yên.
Đến thế kỉ XVI - XVII một bộ phận khá lớn dân bản Yên (Pọng Yên) cũ đã di chuyển sang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đi mường Quạ, mường Mùn huyện Quỳ Châu, Con Cuông, Nghệ An nên các bản suối Hặc, suối Xứng, Na Ón có lúc không còn người ở.
Đến đầu thế kỷ XX, bản có gần 60 hộ chủ yếu là họ Vi, Lương, Phạm. Họ đã lập Sần (Thần) bản tại bản Yên Nưa (Yên trên hay Yên trong). Sần của dòng họ Vi. Vì vậy, sau này bản được gọi là bản Sần.
Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, có các dòng họ Len, Hà, Lộc, Lữ, Lương của người Mường đến cư trú, làm ăn sinh sống. Do đường sá đi lại khó khăn, cuộc sống vất vả nên bà con đã chuyển cư vào sống ở khu vực Tây Nguyên. Một bộ phận dòng họ Phạm, họ Hà chuyển ra bản Chiềng Mìn sinh sống. 
Hiện nay, bản Yên, có 7 dòng họ với 3 dân tộc anh em cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Người dân sinh sống ở 2 cụm dân cư chính là bản Piềng Sần (Yên trong), bản Ta Bán (Yên ngoài). 
Từ trung tâm xã vào bản Yên có đường đi giữa bản Ta Bán lên Yên trong và Na Ón. Đồn biên phòng 499 đóng ở Na Đín Mó (ruộng đất dẻo có thể nặn làm nồi đất) thuộc Yên trong.
Bản Ta Bán (Yên ngoài) có số hộ và nhân khẩu đông hơn bản Yên trong. Bản tọa lạc trên mỏm đồi tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 6km. Trước bản là ruộng nước dọc hai bên bờ suối Yên cấy hai vụ. Từ dưới cánh đồng nhìn lên là rừng trồng, rừng tự nhiên xanh tươi ngút ngàn.
Bản Piềng Sần (Yên trong) tọa lạc trên bãi đất tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 3,1ha có độ dốc dưới 5%. Thế bản tựa vào núi nhìn ra suối theo hướng tây - bắc. Hai bên suối trước bản là ruộng nước cấy hai vụ. 
Nhìn chung phong cảnh 2 bản Yên (trong, ngoài) đều đẹp. Mặc dù là vùng sâu, vùng xa nhưng từ lâu đời vẫn là một bản trù phú.
Người dân bản Yên cần cù, siêng năng, hiếu khách. Ruộng nước bản Yên nhiều, đất tốt, năng suất cao. Rừng bản Yên rộng, giàu tài nguyên. Nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm như gỗ pơ mu, xa mu, dổi, de, chò chỉ, thú rừng rất nhiều. Đặc biệt rừng bản Yên nhiều cây cọ mọc tự nhiên nên gấu, khỉ, đến trú ngụ, các loài chim lớn ăn quả cọ như nộc cộc, nộc ngách (phượng hoàng, chim mỏ sừng...) trước đây bay từng đàn hàng ngàn con, chim yểng cổ vàng cũng rất nhiều.
Bản Yên có nhiều khe suối nên lắm cá, nhiều tôm, cua, là nguồn thủy sản phong phú từ lâu đời cho dân khai thác..
Ngày xưa, vào bản Yên đồng bào thường có câu “Kháu bán Yên phá tín xúm lướt”. Có nghĩa là vào bản Yên phải đi bộ, đường sá đi lại khó khăn, đá núi, sỏi cào trơn trượt 39 chỗ qua khe, 42 chỗ lội vụng sâu, lội suối trèo non cả buổi, vào đến bản Yên bàn chân tụ máu!
Bây giờ bản Yên đã có đường cấp phối chạy qua vào đồn biên phòng Mường Mìn. Hàng ngày có xe tải vào mua lâm sản là gỗ, luồng, vầu, nứa của đồng bào khai thác. Bản Yên đã có điện lưới, có sóng điện thoại, sóng truyền hình đến với từng hộ dân. Đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân Bản Yên đã thực sự đổi thay.
2.3.12. Xã Sơn Thủy
2.3.12.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Vị trí địa lý xã Sơn Thủy: 
Phía đông và phía nam giáp giáp xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn; 
Phía tây giáp xã Na Mèo, huyện Quan Sơn và huyện Viêng Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; 
Phía bắc tiếp giáp các xã Hiền Kiệt, xã Thiên Phú, xã Hiền Chung của huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Thủy theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 13.376,97ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 11.508,03ha.
Đất phi nông nghiệp: 271,63ha. 
Đất chưa sử dụng: 1.378,13ha.
Tổng dân số xã Sơn Thủy theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.352 người. Trong đó: nam giới 1.683 người, nữ giới 1.669 người; mật độ dân số 25 người/km2.
Xã Sơn Thủy trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc Mường Xia - Mường Chu Sàn tổng Hữu Thủy. Mường Chu Sàn là một trong những mường lớn của dân tộc Thái nằm ở khu vực biên giới phía tây của tỉnh Thanh Hóa (phía nam sông Mã từ Mường Chanh, huyện Mường Lát kéo dài đến mường Chự, huyện Quan Sơn và một phần mường Ca Da, huyện Quan Hóa).
Thực hiện Quyết định số 30-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 06 tháng 3 năm 1963, chia xã Sơn Thủy thành 2 xã là xã Sơn Thủy và xã Sơn Điện. 
Xã Sơn Thủy gồm có các bản: bản Muống; Tân Lập, Thanh Sơn, Cha Khót, Hiềng, Thủy Thành, Bo, Thủy Chung, Thủy Sơn, HTX Trung Tiến và Xuân Tiến.
Năm 1999, thực hiện Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999, xã Sơn Thủy lại tách thành hai xã Sơn Thủy và Na Mèo: “Xã Na Mèo thành lập trên cơ sở 12.195ha diện tích tự nhiên và 2.605 nhân khẩu của xã Sơn Thủy”. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Sơn Thủy còn 13.175ha diện tích tự nhiên và 2.981 nhân khẩu.
Sơn Thủy hiện nay gồm 12 bản: Thủy Sơn, Chung Sơn, Xuân Thành, Thủy Thành, Thủy Chung, Khà, Mùa Xuân, Xia Nọi, Muống, Cóc, Hiết và bản Chanh. Bản Xia Nọi và Mùa Xuân là 2 bản của người Mông. Các bản còn lại chủ yếu là người Thái có xen kẽ một số người Kinh và người Mường
Sơn Thủy là một xã vùng cao giáp biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Vùng đất Sơn Thủy là nơi giao hòa giữa dòng suối Xia bắt nguồn từ nước bạn Lào, chảy róc rách theo các chân núi đá thơ mộng, trong đó có núi Lá Hoa, hang Bo Cúng nhập vào con sông Luồng ngay tại trung tâm mường Xia tạo nên vùng ngã ba Sơn Thủy hữu tình. 
Nơi ngã ba sông suối này là trung tâm của đất mường Chu Sàn. Từ đây, có con đường giao thông dọc theo biên giới từ Tén Tằn (huyện Mường Lát) sang sông Lò, ngược lại từ suối Yên sang Khằng, Khiết, Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Hiền Chung (huyện Quan Hóa). Đây chính là tuyến đường nối các huyện phía tây của tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Do vậy, vùng đất Sơn Thủy từ xa xưa đã được chọn là thủ phủ của mường Chu Sàn.
Địa hình của xã có nhiều đồi núi, khe, suối: Có dòng sông Luồng bắt nguồn từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo chảy theo hướng tây - đông, đoạn qua địa bàn xã Sơn Thủy cũ dài khoảng 18km. Sông Luồng có nhiều ghềnh thác hiểm trở, lưu lượng nước đoạn này ít hơn các đoạn hạ lưu.
Các sông suối: sông Luồng, suối Muống, suối Xiết, suối Lác, suối Luốc Chạng thuộc địa phận bản Xuân Thành.
Núi Pha Dùa, sông Luồng, suối Phay, suối Ho, suối Lý, suối Nong Vua, hang Pha Cáng, thuộc địa phận bản Chung Sơn.
Núi Pha Lài, Pha Ú, Pha Día, đồi Pom Có, Pom Tá Phát, Pom Día, hang Pha Ú, Pha Lài, suối Xia, suối Día thuộc địa phận bản Thủy Chung.
Pha Dùa, Pha Hen, Pha Phứng, Pha Chừn, đồi Pom Sối, sông Luồng, Huối Hen, hang Pha Hén, hang Dùa thuộc địa phận bản Thủy Sơn.
Núi Pha Muống, Pha Hang Cáp, Pha Ói, Pha Xứ Phướng, Pom Lăng Hườn, huối Xia, huối Lin thuộc địa phận bản Muống.
Núi Pha Xúi, Pha Lánh, pha Xa Lịch, Huối Cóc, Huối Luốc Tua, Hang Máy, thuộc địa phận bản Cóc. 
Núi Pha Sát, Pha Vái, Pha Lài, Pha Khí Linh, Pha Cày, đồi Pom Ối, Pom Khoài, hang Bo Cúng, Ta Mong, Co Láy, suối Xia, suối Tong, suối Vái thuộc địa phận bản Chanh. 
Núi Pha Đón, Pha Púng, Pha Xúi, Pha Hang Cáp, hang Pha Pung, Pha Ác, đồi Pom Mét, suối Xia thuộc địa phận bản Hiết. 
Núi Pha Hang Póng, Pha Khà, Pha Lúng Thúng, hang Lươm Lang, huối Xỉa, Vơ Hong, Khà, Cha Loi, Ta Cuội thuộc địa phận bản Khà. 
Núi Pha Khúa, Pha Lín Chí, Pha Vóc Mạy, hang Co Dùm, Huối Xia, Huối Khua, thuộc địa phận bản Xia Nọi.
Núi Pha Xa Láng, Pha Héo, Pha Khéo Mú, Pha Puốc, Pha Vắn, đồi Pom Vực, hang Hin Lệch, suối Ca Lóc, suối Na, suối Choi, suối Xa Còng thuộc địa phận bản Thủy Thành.
Sông Luồng, suối Xia là hai con sông, suối chính trên địa bàn Sơn Thủy. Ngoài ra còn có rất nhiều suối.
Suối Xia Lấp bắt nguồn từ Cụm Nặm Ngà, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chảy vào Việt Nam, gặp Xia Nọi tại phía trên Xia Nọi khoảng 1km hợp thành suối Xia. Suối Xia chảy qua các bản Khà, Chanh, Hiết, Muống, Thủy Chung đổ ra sông Luồng. Đoạn chảy qua bản Chanh nó đi qua động Bo Cúng huyền diệu. Nước suối Xia trong veo, lưu lượng nước khá lớn. Do vậy mà suối có cá dốc, loại cá ưa sinh sống ở nước sâu.
Xã Sơn Thủy có nhiều phong cảnh đẹp như núi Pha Dùa, Pha Hen, Pha Úi, Pha Bó, Pha Bóc Ngoạng, động Bo Cúng, hang Dơi, hang Gấu, hang Càng Cói, hang Hổ... Pha Bóc Mạy; có các thác đẹp như thác 20 sải ở suối Sàng bản Na Mèo, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo...
Vùng đất Sơn Thủy là thủ phủ của mường Chu Sàn trước đây, có đền thờ tướng quân Tư Mã Hai Đào. Hằng năm cứ đến 15/3 âm lịch, đồng bào thường tổ chức thắp hương cúng ngài và 5 năm một lần, huyện Quan Sơn tổ chức Lễ hội Mường Xia, lễ hội diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng 3 âm lịch.
Thiên nhiên ban tặng cho Sơn Thủy nhiều đồi núi hang động, sông suối với nhiều loài động vật thực vật phong phú. Các hang động ở Sơn Thủy rất đa dạng phong phú, nhiều cảnh đẹp, nếu được đầu tư đúng mức tương lai sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái cộng đồng hấp dẫn cho du khách và tăng thêm thu nhập cho đồng bào địa phương. 
Dân cư xã Sơn Thủy gồm 4 dân tộc Thái, Mường, Kinh, Mông: dân tộc Thái, chiếm 79,7%; dân tộc Mông chiếm 19,8%; dân tộc Mường chiếm 0,24%; dân tộc Kinh, chiếm 0,16%.
Sơn Thủy là nơi cộng cư của nhiều dòng họ. Đó là các họ: Hà, Lữ, Len, Hoàng, Lương, Cao, Ngân, Lò, Phạm, Sung, Thao, Hơ, Chá, Gia, Lê, Vi...
2.3.11.2. Các bản thuộc xã Sơn Thủy
Bản Thủy Sơn (Na Tuồng)
Thủy Sơn trước đây gọi là bản Na Tuồng, là bản cửa ngõ của xã Sơn Thủy. Địa thế của bản có núi đồi, sông suối bao quanh, dân cư phân bổ thành hai nhóm, ngăn cách bởi con sông Luồng, nơi chân núi Pha Dùa. Ngoài ra còn có một nhóm sống tập trung bên xóm Na Tuồng, còn phần lớn ở Piềng Dùa nơi cửa ngõ của xã Sơn Thủy. 
Bản Thủy Sơn có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp xã Mường Mìn; phía tây giáp bản Chung Sơn và Thủy Chung; phía bắc giáp bản Cóc.
Sau thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chính quyền xã đã tổ chức đầu tư thủy lợi, đắp đập làm mương lấy nước tưới tiêu cho ruộng Na Tuồng. Đầu năm 1959, chính quyền xã đã kêu gọi nhân dân trong toàn xã khai hoang mở rộng diện tích lúa nước. Vận động nhân dân đến khôi phục bản Na Tuồng. 7 hộ gia đình đã tình nguyện rời bản của mình đến Na Tuồng chung sức canh tác, cùng làm ăn sinh sống (bản Máy 3 hộ, 14 nhân khẩu, bản Muống 2 hộ, 9 nhân khẩu, bản Hiết 1 hộ, 7 nhân khẩu, bản Xuân Thành 1 hộ, 7 nhân khẩu).
Năm 1965, bản Na Tuồng sát nhập bản Hen thành HTX Thủy Sơn, có tổng cộng là 17 hộ, 99 nhân khẩu. Từ đó nhân dân HTX Thủy Sơn từng bước ổn định, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển. 
Năm 1969, thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về việc xây dựng HTX bậc cao, HTX Thủy Sơn được sát nhập với HTX Chung Sơn thành HTX Đội 3, bản Na Tuồng thuộc HTX nông nghiệp Chung Sơn.
Năm 1990, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, HTX Chung Sơn lại chia tách thành 3 HTX: Chung Sơn, Thủy Chung và Thủy Sơn. Bản Na Tuồng nằm trong HTX Thủy Sơn.
Năm 1994, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, giải thể chế độ HTX cho phù hợp với cơ chế chính sách mới. Từ đó, HTX Thủy Sơn lấy tên là bản Thủy Sơn cho đến nay. 
 Bản Thủy Sơn trước kia chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, nhưng từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương giao đất giao rừng cho hộ gia đình, người dân bản Thủy Sơn đã kết hợp làm nông với phát triển trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ và khai thác nứa, vầu, duy trì và phát triển các nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, những lúc nông nhàn thì chài lưới trên sông Luồng, suối Xia nên đời sống của bà con từng bước được cải thiện. 
Các dòng họ sinh sống lâu đời ở bản là họ Lò, Hà, Vi, Ngân, Lữ, Phạm của dân tộc Thái. Những năm gần đây bản đã có một số hộ người dân tộc Kinh, Mường đến nhập cư cùng làm ăn chung sống làm cho hoạt động giao lưu văn hóa của bản có thêm nhiều sắc thái phong phú, đời sống kinh tế cũng ngày càng được nâng cao. 
 Bản Chung Sơn (Máy hoặc Xia Tớ)
Bản Chung Sơn bao gồm Xia Tớ, Xia Cang hợp lại còn có tên là bản Máy (bản Cháy).
 Bản Chung Sơn tọa lạc dựa lưng vào núi Pha Dùa, trước mặt là sông Luồng: phía đông giáp bản Thủy Sơn; phía tây giáp bản Xuân Thành; phía bắc giáp bản Thủy Chung; phía nam giáp xã Mường Mìn, theo ranh giới tự nhiên là núi Pha Dùa. 
Từ 1962 đến 1990 là HTX Chung Sơn. Năm 1990, HTX Chung Sơn được chia tách thành 3 bản đó là bản Chung Sơn, Thủy Sơn và Thủy Chung.
Chung Sơn có 2 dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống. Bản có các dòng họ Ngân, Vi, Hà, Lữ, Hoàng, Phạm và họ Nguyễn. Bà con sinh sống chủ yếu bằng nghề nông lâm nghiệp.
Bản Thủy Chung (Na Cò)
Bản Thủy Chung có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chung Sơn; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Thủy Sơn; phía bắc giáp bản Muống (Khu đất ranh giới).
Trước đây, vùng đất này có tên là Na Cò - Pom Cò. Đến năm 1989 được chia thành 3 bản: Thủy Sơn, Chung Sơn và Thủy Chung. Bản Thủy Chung có tên gọi từ đấy cho đến bây giờ.
Địa hình bản Thủy Chung có các núi, đồi: Pha Lài, Pha Ría, Pha U; Có suối Sẻ, suối Gồm và một số mương, mó nước.
Hiện nay, bản Thủy Chung có ba dân tộc cùng chung sống là Thái Mường và Kinh. Trong bản có 12 dòng họ chung sống bên nhau, một số dòng họ lớn như: họ Ngân, họ Phạm, họ Vi, họ Hà, họ Lữ. 
Người dân Thủy Chung sinh sống chủ yếu là trồng cây lúa nước, đồng thời trồng và khai thác lâm sản như luồng, vầu, nứa.
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Hiết; phía tây giáp bản Thủy Chung; phía nam giáp bản Cóc; phía bắc giáp Pha Ác.
Bản Muống xưa kia gọi là pọng Muống thuộc xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy. Pọng gồm có 3 bản: bản Muống, bản Hiết và bản Cóc. Năm 1962, gọi là HTX bản Muống. 
Theo người già trong bản kể lại, xưa kia do trong làng, đầu làng, cuối làng, bờ khe, bờ suối đều có rất nhiều cây xoài, tiếng Thái gọi là Có Muống nên đặt tên bản là bản Muống.
Người Thái bản Muống có các dòng họ chính: Ngân, Phạm, Lương, Lò, Lữ. Bản Muống là một bản của người Thái có truyền thống văn hóa lâu đời. Hiện nay, dân cư sinh sống chủ yếu dọc theo suối Xia. Đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào bằng nghề nông nghiệp lúa nước, làm nương rẫy, khai thác lâm sản. Nguồn cá, tôm, rong rêu dưới suối Xia trước đây rất dồi dào, nay đã khan hiếm đi nhiều. Hiện nay, đồng bào kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp với chăn nuôi gia súc gia cầm. Đời sống dân bản chưa giàu nhưng cuộc sống đã tương đối ổn định và khá hơn trước. Nhiều gia đình đã vươn lên làm giàu từ chính mảnh đất quê hương do tổ tiên gây dựng.
Bản Cóc
Trước năm 1945, bản Cóc thuộc mường Xia, xã Hữu Thủy, tổng Hữu Thủy. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Cóc thuộc xã Sơn Thủy.
Bản Cóc nằm ở phía đông xã Sơn Thủy, có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Muống, xã Sơn Thủy; phía nam giáp bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp bản Chanh, xã Sơn Thủy.
Thời kỳ miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, bản Cóc gia nhập HTX và nằm trong HTX bản Muống, bao gồm 4 bản: Muống, Cóc, Hiết, Chanh.
Bản Cóc là một bản đặc biệt khó khăn của xã Sơn Thủy, giao thông đi lại rất hạn chế. Bản cách trung tâm xã Sơn Thủy 4 - 5km. Hệ thống đường đất và phải đi qua suối khe hiểm trở. Địa hình đồi, núi cao và rừng sâu. Bản còn có một số hang động như: hang Lòng Dằm, hang Kia Nặm, hang Cáy Phớ.
Bản Cóc có hai con suối là suối Cóc và suối Ma Nàng. Suối Cóc có chiều dài khoảng 5 - 6km và suối Ma Nàng có chiều dài khoảng 2 - 3km. Suối Cóc bắt nguồn từ đất bản Sủa xã Sơn Điện đổ về bản và chảy ra suối Xia tại bản Muống. Dòng suối Cóc là nơi cung cấp nguồn nước chủ yếu tưới tiêu ruộng lúa cho bà con dân bản.
Bản Cóc đều là người dân tộc Thái. Người dân nơi đây sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp, trồng cây lúa nước và hoa màu như: ngô, khoai, sắn. Khai thác lâm sản: luồng, nứa, vầu và chăn nuôi nhỏ lẻ.
Trong bản có một số dòng họ lớn như: Họ Vi, họ Lương, họ Lữ, họ Hà, họ Lò, họ Phạm, họ Ngân. Họ Phạm ngày trước ở trung tâm Mường Xia và một số họ di cư ở khắp nơi về sinh sống.
Bản Hiết
Bản Hiết có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Cóc; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Muống và bản Cóc; phía bắc giáp bản Muống và bản Chanh.
Bản Hiết cách trung tâm xã 4 km về phía đông bắc, giao thông đi lại khá thuận tiện. Trên địa bàn của bản có rất nhiều núi, đồi, sông suối, mương, mó.
Theo người già trong bản kể lại: ngày trước dân bản làm ra của cải nhưng không có sự cai quản chỉ đạo của Tạo bản nên cứ mỗi lần nghe tin các quan lại về thu thuế là cả làng lại kéo nhau đi trốn vào khu Pung San và Nặm Bo vì ở đây ít người biết đến. Lánh một thời gian họ lại về bản làm ăn sinh sống. Lúc này bản đang có tên là bản Kiết. Sau này, họ quyết định sống định cư tại bản và chịu mức đóng thuế và đi phu rất cao cho quan, tạo. Ngoài ra, dân bản còn bị ép đi phu và cống nộp sản phẩm làm ra, do sự áp bức oan ức đó dân bản đã đặt lại tên thành bản Xiết (có nghĩa tủi thân), một thời gian sau đổi tên là bản Na Sài, tiếp đến là Nà Dón rồi sau cùng đổi tên bản Hiết.
Hiện nay, đồng bào cư trú chủ yếu ở dọc hai bên đường cái, hình thành ba nhóm: nhóm 1 ở khu bản cũ, nhóm 2 ở khu vực Pom Mét và nhóm 3 ở khu vực Nà Dón. 
Bản Hiết có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Bản Hiết có nhiều dòng họ: Họ Lữ, họ Lương; họ Vi, họ Hà, họ Lò, họ Phạm, họ Lê, họ Nguyễn, họ Ngân. Nhân dân sinh sống chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Chanh
Bản Chanh có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Thiên Phủ, xã Nam Động, Quan Hóa; phía tây giáp bản Khà; phía nam giáp bản Hiết; phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Trước đây bản Chanh nằm trong bản Muống. Năm 1981, bản được tách thành một bản riêng. Bản Chanh có nhiều đồi, núi, suối, khe rất phức tạp.
Hệ thống núi ở bản Chanh có Phá Sát cao 2.000m; Phá Háng Cáp cao 2.220m; Phá Lá cao hơn 1.000m; Phá Lài cao 1.000m; Phá Vai cao 2.000m so với mực nước biển.
Các đồi như: Pù Ôi, Pù Khằng, có thung lũng: Lọng Mu Min, Lọng Nóng Xay, hang: Bo Cúng, Có Láy, Tà Mong. Các suối như: suối Xia, suối Vai, suối Tong.
Bản Chanh có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người Thái bản Chanh có các dòng họ: Vi, Hà, Lữ, Ngân, Lò, Lương, Len, Lộc. Các dòng họ chủ yếu là từ Quan Hóa di cư về đây sinh sống, riêng họ Lữ di cư từ Hòa Bình đến.
Người dân sinh sống chủ yếu là nghề trồng lúa nước, trồng rừng và khai thác rừng, chăn nuôi gia súc.
 Bản Khà
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Khà thuộc mường Xia, xã Hữu Thủy.
Bản Khà có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chanh; phía tây giáp bản Xia Nọi và bản Mùa Xuân; phía nam giáp bản Thủy Thành; phía bắc giáp bản Ho, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Bản Khà nằm ở một thung lũng dọc theo suối Xia, xung quanh là đồi núi cao, trong đó có núi Phá Kha, Pom Cò, Pom Sà Luống, Pha Lông. Có suối Xia, suối Chá Lọi, suối Khà..., vị trí địa lý tách rời với các bản làng lân cận. 
Bản Khà có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Bản có các dòng họ chính: Họ Hà, họ Lữ, họ Lò, họ Ngân. 
Là một bản dân cư chủ yếu là người dân tộc Thái nên mọi nét phong tục tập quán của bản đều đậm đà bản sắc văn hóa của người Thái.
Bản Xia Nọi
Bản Xia Nọi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Mùa Xuân; phía tây giáp các bản Ho, Cháo, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa; phía nam giáp bản Khà, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp biên giới Việt - Lào.
Bản Xia Nọi chỉ có người Mông cư trú, tên Xia Nọi là do người Thái đặt tên từ xa xưa cho 2 nhánh của dòng suối Xia trong mát. Suối Xia có 2 nhánh. Nhánh lớn bắt nguồn từ Lào về Việt Nam, đồng bào Thái địa phương gọi là “Huối Xia tớp” (suối Xia lớn); nhánh nhỏ chảy theo hướng đông bắc - tây nam đổ về suối Xia lớn, ngọn suối Xia nhỏ vẫn thuộc đất Việt Nam. Đồng bào Mông từ Pù Nhi di cư đến năm 1989 có 10 hộ ở suối Xia nhỏ lập bản, đồng bào Thái gọi bản đó là bản Xia Nọi, đồng bào Mông cũng theo đó gọi tên cho bản mình. 
Bản có 9,2km đường biên với cột Mốc từ 320 - 323. Địa hình của bản có rất nhiều đồi núi cao và hiểm trở bao bọc. Trong bản có suối Xia, suối Khua, hang Khua.
Bản Xia Nọi phân thành hai nhóm hộ nằm dọc theo suối Khua và phía nam lối ra bản Khà. Các dòng họ trong bản là: Sung, Chá, Hà, Thao, Hơ.
Bản Mùa Xuân 
Bản Mùa Xuân có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Thủy Thành, bản Khà; phía tây giáp bản Ché Làu, xã Na Mèo và bản Hin Đăm (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào); phía nam giáp bản Thủy Thành; phía bắc giáp bản Xia Nọi.
Bản Mùa Xuân chủ yếu là người Mông sinh sống( ). Đồng bào từ Pù Nhi chuyển đến từ năm 1989 cùng với hai bản Ché Làu, Xia Nọi. 
Bản Mùa Xuân trước khi có người Mông đến ở, người Thái đặt tên là bản “Sa Lước”, nhưng bản hợp lại tan, chỉ từ khi đồng bào Mông đến ở thì mới ổn định đến hiện nay. Ở bản Mùa Xuân có một núi đá với nhiều loại cây nở hoa quanh năm, người Thái gọi núi đá có cây đó là “Pha Bóc Mạy” (núi lá hoa). Khi đồng bào Mông đến ở nhìn núi hoa đẹp như mùa xuân quanh năm nên đã đặt tên bản của mình là bản Mùa Xuân. Tên Mùa Xuân tươi trẻ, có sức sống, có địa danh núi đá “cây hoa” rực rỡ quanh năm với huyền thoại giữa Công chúa Việt Nam và Hoàng tử nước Lào.
Từ bản Mùa Xuân đến trung tâm xã Sơn Thủy 22km theo đường liên thôn, hoặc có thể đi ra Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo theo đường liên thôn Na Mèo - Mùa Xuân.
Bản Mùa Xuân có địa hình chủ yếu là đồi, núi cao, dốc đứng: đồi Pó Chinh cao 1.000m. Bản có suối Xia, suối Sa Lước, suối Tiên Chạy, suối Xia và suối Há Đai chảy dài 4km từ vành đai biên giới, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, nước rất trong và nhiều cá.
Bản Mùa Xuân có các dòng họ cùng chung sống đoàn kết là họ: Thao, Sung và họ Hơ.
Bản Xuân Thành (Xia Nưa)
Bản Xuân Thành có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Bo xã Na Mèo; phía nam giáp bản Chiềng xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Thủy Thành.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Xuân Thành thuộc Mường Xia, xã Hữu Thủy, sau Cách mạng thuộc xã Sơn Thủy.
Năm 1948, Pháp đem quân về đóng đồn ở bản, đến ngày 03 - 02 - 1950, bộ đội và du kích của ta tấn công giải phóng đồn. 
Bản Xuân Thành nằm về phía tây của xã Sơn Thủy, cách trung tâm xã 2 km. Bản có nhiều đồi, núi cao hiểm trở, vách đá dốc đứng, thung lũng nhỏ hẹp. Con sông Luồng chảy qua bản tạo nên một hệ thống suối dày đặc: suối Xiết, suối Chạng Nặm, suối Muống, suối Chu Khụ, suối Khua Lậc, suối Luốc Hay, suối Luốc Bâu, suối Ho, suối Ca Loóc. Có hai hệ thống hồ là: hồ Khua Lậc và hồ Luốc Hay.
Bản Xuân Thành được phân thành 4 xóm, nằm dọc theo sông Luồng với chiều dài 2km. Có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái Mường và Kinh
Trong bản có nhiều dòng họ như họ: Phạm, Hà, Lương, Vi, Lữ, Hoàng, Cao, Ngân, Nguyễn, Mạc, Võ. Dòng họ Phạm chiếm phần lớn số hộ, số khẩu trong bản, ngoài ra các dòng họ khác là do lấy vợ, lấy chồng và một số họ di cư tụ tập về đây làm ăn sinh sống lập thành bản Xuân Thành.
Bản Thủy Thành (Pom Vực + Ca Loóc)
Bản Thủy Thành nằm ở phía tây xã Sơn Thủy. Có vị trí địa lý như sau: phía đông giáp bản Xuân Thành; phía tây giáp bản Sa Ná, xã Na Mèo và bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy; phía nam giáp bản Xuân Thành; phía bắc giáp bản Chung Sơn, bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy.
Bản Thủy Thành ngày nay, trước kia gọi là bản Ca Loóc, vì nhân dân cư trú không ổn định, lúc đi vào, lúc đi ra, tiếng Thái gọi là Ca Loóc Kháu, Ca Loóc Óc nên được gọi là bản Ca Loóc.
Vào năm 1960, có ba xóm là: Xóm Ca Loóc, xóm Pom Vực và xóm Hát Tó được lấy tên là HTX Thủy Thành. Đến năm 1963, sát nhập Xuân Tiến và Thủy Thành gọi là HTX Xuân Thành. Đến năm 1989, HTX Xuân Thành tách thành 2 HTX. Trong đó, xóm Ca Loóc và xóm Pon Vực lấy tên là HTX Thủy Thành. Từ năm 1991, giải thể HTX đến nay gọi là bản Thủy Thành.
Bản Thủy Thành với hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp.
Bản Thủy Thành là một bản đặc biệt khó khăn của xã Sơn Thủy. Nằm cách trung tâm xã khoảng 4 km, giao thông đi lại hạn chế, nhiều đồi núi hiểm trở. Hệ thống giao thông toàn đường đất và phải đi qua sông Luồng. Địa hình có nhiều đồi, núi cao và hang động. Bản có 5 hang động lớn nhỏ, cách bản từ 1 - 4 km đó là Thắm Sa lốc, Thắm Ka Dếnh, Thắm Nghịu, Thắm Càng Coi, Thắm Kía, Thắm Sa Láng, Thắm Lum, Thắm Hang.
Hiện nay, ở bản Thủy Thành đồng bào cư trú thành hai xóm: xóm Ca Loóc và xóm Pom Vực; dân cư trong bản gồm 9 dòng họ chung sống cùng nhau, gồm các họ: họ Phạm, họ Hà, họ Vi, họ Ngân, họ Lữ, họ Lò, họ Hoàng, họ Lương, họ Mạc.
2.3.13. Xã Na Mèo
2.3.13.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Na Mèo có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Sơn Thủy.
Phía tây giáp huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía nam giáp xã Mường Mìn và huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã SơnThủy.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Na Mèo theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 12.744,16ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 11.158,40ha.
Đất phi nông nghiệp: 360,98ha.
Đất chưa sử dụng: 1.224,78ha.
 Tổng dân số xã Na Mèo theo số liệu Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.458 người, trong đó nam giới 1.797, nữ giới 1,661; mật độ dân số 27 người/km2.
Dân cư bao gồm dân tộc Thái chiếm 79,38%; dân tộc Kinh chiếm 11,1%; dân tộc Mông chiếm 7,3%; dân tộc Mường chiếm 2%.
Trong số các dân tộc cư trú ở Na Mèo, dân tộc Thái có lịch sử lâu đời. Người Kinh lên định cư từ năm 1979, người Mường định cư từ năm 1986, người Mông chuyển từ Mường Lát đến từ năm 1989.
Các dòng họ trong xã gồm có: Họ Vi, họ Phạm, họ Ngân, họ Hà, họ Lữ, họ Lương, họ Lò, họ Hoàng, họ Thao, họ Hơ, họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Mai, họ Lê, họ Gia.
Xã Na Mèo ngày xưa là đất thuộc xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy thuộc mường Xia. Thời Pháp thuộc, Na Mèo nằm trong xã Sơn Thủy. Sau thời kỳ chống Pháp đến thời kỳ chống Mỹ, Na Mèo vẫn là một bản thuộc xã Sơn Thủy. 
Thực hiện Nghị định số 65/1999/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 “Thành lập xã Na Mèo thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở 12.195ha diện tích tự nhiên và 2.605 nhân khẩu của xã Sơn Thủy”. Xã Na Mèo chính thức có từ đây. 
Na Mèo thuộc mường Xia. Tên xã Na Mèo lấy tên gọi từ tên của một bản lớn nhất của xã - bản Na Mèo. 
Xã Na Mèo hiện nay được tổ chức thành 10 bản: Bản Na Mèo; bản Km83 (bao gồm xóm 87); bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Cha Khót; bản Hiềng; bản Bo; bản Sa Ná; bản Son; bản Ché Làu.
Địa hình xã Na Mèo chủ yếu là đồi núi, rừng cây, sông suối, nguồn tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng. Trước đây, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, hươu nai, hoẵng, gấu, khỉ, sơn dương, nhím, các loài bò sát và các loài chim quí như công, trĩ, vẹt, tê tê... Trên rừng có rất nhiều loài thực vật như lát, dổi, vàng tâm, chò chỉ, táu, nghiến... cùng rất nhiều loài thực vật khác.
Núi, đồi, hang, sông suối trên địa bàn xã Na Mèo: núi Pha Bo kéo dài từ đầu bản Xuân Thành xã Sơn Thủy đến suối Bo ở bản Bo. Vì vậy, dân bản gọi là núi Pha Bo.
Núi Pha Đanh ở bản Sộp Huối. Pha Đanh nghĩa là núi đỏ. Khi mặt trời chuẩn bị lặn, ánh nắng chỉ còn chiếu trên các đỉnh núi cao, ánh nắng mặt trời chiếu vào mặt phía tây của ngọn núi tạo thành màu đỏ rực, nên người dân gọi là Pha Đanh.
Pha Hang Trùng, hang Trác ở bản Hiềng. Hang Trùng nghĩa là trong núi có hang động. Tương truyền rằng, ngày xưa, có nàng Công chúa tên Nàng Trành không may qua đời, họ tộc quá thương tiếc nên nhà vua đã ra chiếu chỉ cho người làm quan tài đặt vào hang Trùng, hang Trác mong muốn một ngày nào đó công chúa sẽ đầu thai trở lại. Hiện nay, trong hang Trùng, cỗ quan tài một bên vẫn còn nguyên vẹn. 
Hang Trác rất rộng, ngày xưa các hộ dân trong bản thường tản cư vào mỗi khi tránh giặc. 
Hang Bó ở bản Sa Ná là nơi tản cư của các bản Sa Ná, bản Son trong thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ.
Ngoài ra, Na Mèo còn có một số hang động khác như hang Pha Kiu Cánh, Pha Lọm, Pha Máy... 
Các ngọn đồi: đồi Pù Cút ở bản Sộp Huối. Pù nghĩa là dốc, Cút là loài cây dương xỉ. Pù Cút là đồi có nhiều loài cây dương xỉ mọc; đồi Ca Chặp ở bản Na Mèo. 
Sông suối: xã Na Mèo là nơi bắt nguồn của con sông Luồng. Hai dòng suối Xôi và suối Pùn bắt nguồn từ nước bạn Lào chảy vào địa phận Na Mèo hợp lại tại đó. Tiếng Thái “Chào” là “Tuộng”, qua năm tháng nói chệch đi là “Tuồng” người Kinh gọi là “sông Luồng”. Sông Luồng chảy dọc theo địa bàn xã. Từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo đến hết đất bản Bo sang địa phận xã Sơn Thủy...
Bên cạnh sông Luồng, Na Mèo có rất nhiều khe suối: suối Sàng, suối Tà Ngơn, suối Mèo, suối Khâm, suối Ca Men, suối Nà May (bản Na Mèo); suối Hó, suối Pu, suối Ha, suối Cài, suối Ông (bản Km 83); suối Cha Khót, suối Buôm, suối Pa (ở các bản Sộp Huối, Cha Khót); suối Đen, suối Khinh (bản Hiềng); suối Bo, suối Piêu, suối Xiết (bản Bo); suối Son, suối Xôm (các bản Sa Ná, bản Son).
Các dãy núi tập trung nhiều loại gỗ quý, là nơi sinh sống của các loài động thực vật có tác dụng giữ gìn nguồn nước phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và tưới tiêu cho đồng ruộng trên địa bàn xã. Sông, suối, núi rừng còn là nguồn cung cấp thực phẩm, nguyên liệu phục vụ cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Na Mèo là vùng đất có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dồi dào, có thể phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm thành các trang trại lớn. Người dân Na Mèo có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi. Đây là thế mạnh của xã trong phát triển kinh tế, làm giàu ngay trên quê hương của mình. 
Na Mèo là một xã biên giới, có Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, là đường giao thương giữa Việt Nam với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, nên rất thuận lợi cho giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế, dịch vụ thương mại. Tỉ lệ rừng của xã còn khá cao, trữ lượng rừng tự nhiên còn từ 60 đến 70%, trong rừng còn nhiều gỗ quý, nhiều loại thảo dược quý hiếm, rất thuận lợi cho xã phát triển về lâm nghiệp, chế biến lâm sản; phát triển cây dược liệu, cung cấp nguồn nguyên liệu chữa bệnh cho nhân dân.
Chợ phiên Na Mèo họp vào sáng thứ 7 hàng tuần rất tấp nập đông vui. Các cơ quan như: Đồn Biên phòng, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, Hải quan Na Mèo, trường tiểu học và trung học cơ sở được xây dựng khang trang cùng với cửa hàng thương nghiệp, bưu điện, khách sạn, nhà xưởng mọc lên làm tăng thêm cảnh sầm uất của phố núi vùng biên cương Tổ quốc.
2.3.13.2. Các bản thuộc xã Na Mèo
Bản Bo
Bản Bo nằm ở phía đông của xã Na Mèo. Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xuân Thành, xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Hiềng; phía nam giáp với Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản xa Ná.
Sông Luồng chảy từ bản Hiềng qua bản Bo rồi dọc xuống bản Xuân Thành của xã Sơn Thủy. Bản còn có núi Pha Bo, Pha Hang Chùng, đồi Pom Khắm, Pom Suối Xiết, Pom Có vá, Pom Na Nọi, Pom Ốc, Pom Suối Khinh, Pom Na Tạo. Suối thì có suối Bó, suối Xiết, suối Piêu và suối Khinh.    
Người dân sinh sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi.
Người dân bản Bo chủ yếu là người Thái (nguồn gốc trước kia thuộc dân mường Chu San, sau gọi là mường Xia). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc mường Xia, xã Sơn Thủy. Sau khi tách xã, là Bản Bo thuộc xã Na Mèo.
Bản Hiềng
Bản Hiềng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bo; phía tây giáp bản Sộp Huối; phía nam giáp đội 2, Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản Sa Ná.
Bản Hiềng được lập vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIX. Theo người già kể lại, có một ông Tạo từ mường Quạ, Nghệ An đến khai phá lập làng ở Piềng Nà. Sau đó ông Tạo Quạ chuyển đi đâu không ai rõ. Đến khoảng năm 1926 - 1927, có gia đình nhà ông Hương Vạ (tức họ Lò ngày nay) từ mường Chánh (huyện Lang Chánh) di cư đến. Tiếp sau đó, có thêm nhà Hiến Vún họ Vi cũng chuyển đến. Được một thời gian họ lại chuyển đi. Sau này có 5 hộ họ Lương đi từ Mường Xôi (Lào) xuống đây làm ăn sinh sống và đặt tên bản là bản Hiềng và ở trên khu ruộng của bản Hiềng ngày nay. Cho tới năm 1973, thực hiện theo kế hoạch định canh, định cư của Nhà nước, nhân dân trong bản đã chuyển xuống nơi ở hiện nay và để lại chỗ cũ làm ruộng. 
Ở phía bắc bản Hiềng là một dải núi gồm 7 ngọn núi lớn nhỏ từ tây sang đông. Ngoài ra còn có rất nhiều đồi núi và piềng bãi. Bản Hiềng có con sông Luồng chảy qua dài khoảng 2 km và có tới 8 khe suối lớn nhỏ như: suối Len, suối Miệng, suối Ma, suối Khinh...
Nông nghiệp chiếm 65%, lâm nghiệp chiếm 35% thu nhập của nhân dân trong bản. Bản Hiềng có hai dân tộc Thái, Kinh cùng chung sống.
Hiện nay, bản Hiềng có các dòng họ: Họ Lương, họ Lò, họ Hà, họ Ngân, họ Phạm, họ Vi, họ Đỗ.
Bản Sa Ná
Bản Sa Ná được hình thành trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và thuộc mường Xia của xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy.
Bản Sa Ná có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xuân Thành, bản Ca Loóc của xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Km 83, xã Na Mèo; phía nam giáp bản Hiềng, bản Bo; phía bắc giáp bản Mùa Xuân.
Bản Sa Ná ở phía tây nam có hang Pha Bo, hang Thắm Tạo Sài, giữa bản có con suối Son chảy dọc theo con đường cấp phối chảy về phía nam và tiếp giáp với sông Luồng ở bản Hiềng. Bản có diện tích tự nhiên là 766,8 ha. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp.
Hiện nay, bản có 3 dân tộc Kinh, Mường và Thái, trong đó chủ yếu là người dân tộc Thái, có các dòng họ là họ Phạm, Lò, Vi, Lương, Hà, Ngân, Nguyễn. Các dòng họ này có nguồn gốc khác nhau di cư đến, từ nước bạn Lào sang và các huyện Cẩm Thủy, Thọ Xuân lên, cùng các bản khác như bản Son, bản Hiềng trong xã chuyển đến. 
Bản Son
Bản Son có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sa Ná; phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía nam giáp bản Ché Làu, xã Na Mèo và bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp bản Km 83, bản Na Mèo và bản Sộp Huối.
Dân cư trong bản đều là người dân tộc Thái. Người Thái bản Son có các dòng họ: Vi, Lữ, Lương, Hà, Lò, Ngân. Người dân bản Son sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và lâm nghiệp. Nhìn chung đời sống còn nhiều khó khăn.
Bản Sộp Huối
Bản Sộp Huối nằm ở trung tâm xã Na Mèo. Phía đông giáp bản Hiềng và Km 76 Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía tây giáp bản Km 83 và bản Na Pọng; phía nam giáp bản Mìn, xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Sa Ná, bản Son.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở vùng đất này dân bản sinh sống không ổn định, nay đây mai đó. Sau năm 1955, người dân khắp nơi đã tụ họp lại để cùng nhau xây dựng làng, bản. Lúc mới thành lập, bản Sộp Huối mới chỉ có 10 hộ, 68 khẩu. Hiện nay, trong bản có các dòng họ: Phạm, Ngân, Lò, Vi, Lương, Bùi, Nguyễn, Lữ, Hà.
Bản có con sông Luồng và có suối Cha Khót chảy qua. Dân bản canh tác trên các xứ đồng Chè Lum, Nà Sán, Suối Buôn.
Dân cư trong bản chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. Người dân bản Sộp Huối sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm nghiệp.
Bản Na Pọng
Bản Na Pọng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sộp Huối; phía tây giáp bản Cha Khót; phía nam giáp Tiểu khu 211 của Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản Km 83.
Dân cư trong bản chủ yếu là dân tộc Thái. Bản có các dòng họ: Vi, Phạm, Hà, Lữ, Lò, Bùi, Lương. Người dân làm ăn sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và khai thác lâm thổ sản. 
Bản Cha Khót
Bản Cha Khót có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Pọng, xã Na Mèo; phía tây giáp bản Láu Thông, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía nam giáp bản Yên; phía bắc giáp bản Km 83 (Sộp Cài).
Bản Cha Khót có núi Pom Bấu, Pha Móng; có các hang động như: hang Thắm, hang Dé, hang Thắm Quác và có con suối Cha Khót chảy qua bản. Cha Khót là một bản còn nhiều khó khăn, người dân sinh sống chủ yếu với nền kinh tế nông, lâm nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp rất ít chỉ có 4,3 ha.
Bản hiện có 6 dòng họ cùng chung sống, làm ăn gắn bó bên nhau là các họ: Vi, Lò, Lữ, Hà, Lương. Phần lớn dân cư bản Cha Khót di cư từ xã Trung Hạ lên sinh sống. 
Bản Km 83 (Sộp Cài)
Bản Km 83: phía đông giáp bản Sộp Huối; phía tây giáp bản Na Mèo; phía bắc giáp bản Sa Ná, bản Son; phía nam giáp bản Na Pọng và bản Cha Khót.
Bản Km 83 được hình thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1994, do Lâm trường Na Mèo (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa) thành lập theo dự án 327 của Chính phủ.
Bản Km 83 có con sông Luồng nằm phía trước bản chảy dọc theo ven đường Quốc lộ 217, từ phía tây chạy về phía đông tiếp giáp với bản Sộp Huối. Tại suối Cài thuộc bản 83 khoảng năm 1957 có cơ sở làm việc của Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Xu Pha Nu Vông đến ở và làm việc. Nay một số di tích như đường, hầm, hào vẫn còn.
Dân cư, bản Km 83 có 3 dân tộc Mường, Kinh và Thái, trong đó chủ yếu là người Thái. Bản có các dòng họ Phạm, họ Hà, họ Ngân, họ Vi, họ Nguyễn, họ Lữ, họ Hoàng, họ Lương, họ Lò. Người dân trong bản sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Na Mèo
Na Mèo là bản vùng cao biên giới tại Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, có từ lâu đời, tên bản cũng như truyền thuyết lập bản gắn với tên xã. 
Na Mèo là vùng đất heo hút, hẻo lánh, giáp biên giới Việt - Lào, nhưng có nhiều bãi bằng ở ven các con suối nên bà con đã đến khai hoang thành ruộng để trồng lúa nước. Vì là vùng heo hút xa xôi, vắng vẻ, rừng núi âm u, rậm rịt nên đây cũng là nơi trú ngụ của nhiều loài thú dữ như hổ, beo, gấu, lợn lòi. Đồng bào đã ghép hai từ chỉ đặc điểm tên gọi của bản. Na là ruộng, mèo có ý gọi hổ (cọp, hùm, beo), một cách nói lái, nói tránh động vật hung dữ của Chúa sơn lâm. Đây là vùng đất nhiều ruộng rẫy nhưng cũng lắm cọp beo.
Na Mèo còn được đồng bào giải thích theo một nghĩa khác: Na là ruộng, ruộng lấy nước suối Mèo về tưới nên gọi Na Mèo.
Bản Na Mèo có vị trí địa lý: phía tây giáp với bản Lán, bản Lơi, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp với bản Ché Làu, bản Son; phía nam giáp với bản Cha Khót.
Bản Na Mèo có diện tích tự nhiên là 174,7ha; bao gồm 5 dân tộc anh em và 26 dòng họ.
Bản Ché Làu
Ché Làu là một bản vùng cao biên giới, phía tây giáp với bản Hin Pén Na Mặn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Phía bắc giáp với bản Hin Đăm, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Phía đông giáp với bản Mùa Xuân xã Sơn Thủy. Phía nam giáp với bản Son và bản Na Mèo. 
Bản Ché Làu nằm trên đỉnh của dãy núi Xy Ny (núi Vượn), cao chừng 2.600m. Ché Làu cùng với Mùa Xuân và Xia Nọi xã Sơn Thủy là 3 bản người Mông của huyện Quan Sơn. Bản có đường biên giới dài 5 km kéo dài từ mốc giới G11 đến G12 tiếp giáp với 2 bản của huyện Viêng Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Bản Ché Làu cách Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo (bản Na Mèo) về phía đông bắc khoảng 14km đi theo đường liên thôn Na Mèo - Mùa Xuân. Bản Ché Làu ở trong thung lũng tương đối rộng, là đầu nguồn của các khe nước dồn về suối Son, Sa Ná. Trên địa bàn của bản gồm nhiều ngọn núi thấp mấp mô tạo thành cảnh quan rất đẹp.
Trước khi người Mông đến ở (năm 1989) thì chưa có người đến lập bản ở đó. Tên gọi Ché Làu theo tiếng Mông “Hàu xua dế” có nghĩa là chè uống. Theo tiếng Thái là “Che lau” (chè uống), nhưng đồng bào Mông nói chệch từ “Che lau” thành “Ché làu”. Sở dĩ nói bản “Che Lau” (chè uống) vì đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết địa hình của bản rất phù hợp với cây chè. Chè trồng ở đó có hương vị thơm ngon, uống ngọt đậm đà. Ngày xưa người Thái các bản Sa Ná, bản Son, xã Sơn Thủy (nay là Na Mèo) đã từng lên đó làm rẫy lúa, ngô và trồng chè nên đồng bào gọi vùng đó là “Che Lau”, tên “Che Lau” là do người Thái đặt cho địa danh đó từ xa xưa. Hiểu một cách khác “Che lau” tiếng Thái có nghĩa là chè trồng ở trong rừng. Từ năm 1989, đồng bào Mông đến đây tìm đất và đến năm 1990 chính thức thành lập bản và đặt tên bản là Ché Làu...
2.4. DANH MỤC TÊN BẢN, XÃ, MƯỜNG Ở HUYỆN QUAN SƠN HIỆN NAY VÀ THỜI KỲ CHÂU QUAN HÓA
TT    Tên bản, xã hiện nay    Tên bản, xã, mường thời kỳ châu Quan Hóa
    Tên bản    Thuộc xã    Tên bản    Thuộc mường    Thuộc xã    Thuộc tổng
I        Trung Xuân            Trung Hạ    Cổ Nam
1    Cạn    Trung Xuân    Cạn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
2    La    Trung Xuân    La    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
3    Mòn    Trung Xuân    Mòn    mường Chự    Hồi Xuân    Phú Lệ
4    Piềng Phố    Trung Xuân        mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
5    Muống    Trung Xuân    Muống    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
6    Phú Nam    Trung Xuân    Phụn    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
7    Phụn    Trung Xuân    Lum    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
II        Trung Hạ        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
8    Lợi    Trung Hạ    Lợi    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
9    Din    Trung Hạ    Din    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
10    Xày    Trung Hạ    Chiềng Xày    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
11    Chiềng    Trung Hạ    Chiềng Xày    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
12    Bá    Trung Hạ    Bá    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
13    Lang    Trung Hạ    Cha Lang    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
14    Xanh    Trung Hạ    Xanh    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
III        Trung Tiến        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
15    Cum    Trung Tiến    Cum    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
16    Chè 
(Pa Chè)    Trung Tiến    Cum Hóc    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
17    Lầm    Trung Tiến    Lầm    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
18    Lốc    Trung Tiến    Lốc    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
19    Đe    Trung Tiến    Đe    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
20    Pọng    Trung Tiến    Pọng    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
21    Tong    Trung Tiến    Tong    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
22    Tiểu khu Km 22    Trung Tiến        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
IV        Trung Thượng        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
23    Bàng    Trung Thượng    Bàng    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
24    Máy    Trung Thượng    Máy    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
25    Bôn    Trung Thượng    Bôn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
26    Khạn    Trung Thượng    Pù Khạn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
27    Ngàm    Trung Thượng    Ngàm    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
28    Bách    Trung Thượng    Bách    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
V        Thị trấn Quan Sơn        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
29    Khu 1    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
30    Khu 2    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
31    Khu 3    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
32    Khu 4    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
33    Khu 5    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
34    Khu 6    Thị trấn Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VI        Sơn Lư        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
35    Sỏi    Sơn Lư    Soi    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
36    Bìn    Sơn Lư    Bìn    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
37    Hẹ    Sơn Lư    Hẹ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
38    Hao    Sơn Lư    Hao    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
39    Bon    Sơn Lư    Bon    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
40    Păng    Sơn Lư    Păng    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VII        Sơn Hà        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
41    Xum    Sơn Hà    Xum    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
42    Làu    Sơn Hà    Làu    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
43    Nà Sắng    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
44    Nà Ơi    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
45    Hạ    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
46    Piềng Làng    Sơn Hà    Piềng Làng    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VIII        Tam Lư        mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
47    Piềng Khóe    Tam Lư    Sại    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
48    Sại    Tam Lư    Sại    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
49    Hậu    Tam Lư    Hậu    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
50    Muống    Tam Lư    Muống    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
51    Tình    Tam Lư    Tình    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
52    Hát    Tam Lư    Hát    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
IX        Tam Thanh        Mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
53    Pa    Tam Thanh    Pa    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
54    Cha Lung    Tam Thanh    Cha Lung    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
55    Phe    Tam Thanh    Phe    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
56    Kham    Tam Thanh    Kham    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
57    Bôn    Tam Thanh    Bôn    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
58    Ngàm    Tam Thanh    Ngàm    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
59    Piềng Pa    Tam Thanh        mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
60    Nà Ấu    Tam Thanh    Nà Ấu    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
61    Mò    Tam Thanh    Mò    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
X        Sơn Điện        mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
62    Tân Sơn    Sơn Điện        mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
63    Nhài    Sơn Điện    Dài Nưa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
64    Na Nghịu    Sơn Điện    Dài Tớ    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
65    Na Lộc    Sơn Điện    Kòn Lộc    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
66    Xa Mang    Sơn Điện    Xa Mang    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
67    Ngàm    Sơn Điện    Ca Nhăng    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
68    Ban    Sơn Điện    Nà Hó    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
69    Bun    Sơn Điện    Bun    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
70    Na Hồ    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
71    Na Phường    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
72    Sủa    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
XI        Mường Mìn        mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
73    Bơn    Mường Mìn    Bơn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
74    Luốc Làu    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
75    Yên    Mường Mìn    Yên    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
76    Mìn    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
77    Chiềng    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
XII        Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
78    Xuân Thành    Sơn Thủy    Xia Nứa    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
79    Thủy Thành    Sơn Thủy    Pom Vực (Ka Lóc)    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
80    Chung Sơn    Sơn Thủy    Xia Cang (Xia Tớ)    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
81    Thủy Chung    Sơn Thủy    Na Cò    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
82    Thủy Sơn    Sơn Thủy    Na Tuồng    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
83    Muống    Sơn Thủy    Muống    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
84    Hiết    Sơn Thủy    Hiết    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
85    Xia Nọi    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
86    Mùa Xuân    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
87    Khà    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
88    Cóc    Sơn Thủy    Cóc    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
89    Chanh    Sơn Thủy    Chanh    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
XIII        Na Mèo                
90    Na Mèo    Na Mèo    Na Mèo    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
91    Ché Làu    Na Mèo        mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
92    Bản Km 83    Na Mèo        mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
93    Cha Khót    Na Mèo    Cha Khót    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
94    Na Pọng    Na Mèo    Na Pọng    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
95    Sộp Huối    Na Mèo    Sộp Huối    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
96    Hiềng    Na Mèo    Hiềng    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
97    Sa Ná    Na Mèo    Sa Ná    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
98    Son    Na Mèo    Son    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
99    Bo    Na Mèo    Bo    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
2.5. DÂN CƯ 
2.5.1. Sự hình thành cộng đồng dân cư
Huyện Quan Sơn thời xa xưa là vùng rừng núi đại ngàn, dân cư thưa thớt. Đấy cũng là cảnh quan chung của vùng núi cao phía tây Thanh Hóa. Ghi chép nhận xét về cảnh quan khu vực miền núi cao phía tây Thanh Hóa như R.Rober đã viết: “... Vùng này là một khối hỗn tạp đồi và núi không sao gỡ ra được, chen lấn nhau, chồng chéo lên nhau, xô đẩy nhau. Khi người ta trèo lên một đỉnh núi ngắm nhìn toàn cảnh trước mắt, người ta ngỡ rằng mình đang đứng trước một mặt biển trong cơn giận dữ và bất thần không động đậy, có những ngọn sóng bao phủ đầy cây cỏ dồi dào của miền nhiệt đới. Ở đó, có những cây cổ thụ đâm lên trời cao, có loài vượn bạc má thường hay dậy sớm nhảy nhót, kêu thét hoặc cuồng loạn đáp lại với mọi thứ tiếng vang vọng đến, có những đám dây leo chằng chéo ở đỉnh những cây to, rũ xuống thành hình vòng tròn hoa trang trí để rồi lại leo lên nữa... Những nơi khác là rừng rậm không ai có thể lọt vào nổi, gồm có cây và cỏ gianh chằng chịt, là nơi trú ẩn của loài cọp và lợn lòi. Thỉnh thoảng ta lại thấy cái màu trắng nhạt của một vách núi thẳng đứng nhô ra khỏi biển cây cỏ xanh tươi, có rất nhiều khe chạy dọc ngang khu núi chồng chéo, chảy theo những dòng nước nhỏ, khi thì chúng bẽn lẽn thì thào dưới chòm lá, khi thì chúng róc rách như xay thóc ở nơi có đá ghềnh, khi thì chúng gầm lên ở ngọn thác xé nước trên lòng suối đầy đá tảng. Đôi khi khe núi mở rộng ra, bọc lấy đất bằng rộng khoảng chừng một vài cây số vuông, chính ở đó là đồng ruộng và bên cạnh là làng và xóm”( ).
Qua những dấu vết cổ xưa, ta có thể thấy, con người đã có mặt ở vùng đất thuộc địa bàn huyện Quan Sơn từ rất sớm( ). Đặc biệt “sự có mặt trong lòng đất xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn một chiếc trống đồng loại III, vốn xưa nay được quan niệm như một dạng trống của người Miến Điện, thì nay quan niệm đó cũng cần được xem lại. Đây là trường hợp trống loại III được tìm thấy cùng với một số đồ đồng trong lòng đất như: nồi đồng, xanh đồng, chõ đồng,.. là những đồ đồng gia dụng quen thuộc của người Mường, người Thái xứ Thanh. Qua phát hiện này đã giúp cho các nhà khoa học đưa ra giả thiết về chủ nhân của trống loại III, có cả một tộc người nào đó ở vùng Quan Sơn, căn cứ vào những đồ đồng chôn cùng, có thể định niên đại cho trống này vào khoảng vài trăm năm cách đây”( ).
Cư dân trên địa bàn huyện Quan Sơn định cư trong những bản làng, dựng trên những sườn đồi, những gò cao ven sông suối. Quá trình định cư lập bản làng gắn liền với quá trình khai sơn phá thạch, chống lại thú dữ còn lưu lại dấu ấn trong những tên đồng, tên bãi, tên bản làng, ruộng nương.
Nền kinh tế dựa vào nông nghiệp, khai thác lâm thổ sản, kết hợp các nghề thủ công, cư dân các bản làng hình thành một thiết chế bản - mường. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các tỉnh đều bỏ cấp tổng, các bản làng xã nhỏ hợp nhất thành xã lớn và bỏ tên phủ, gọi chung là huyện. Tuy nhiên, trải qua những biến thiên lịch sử, đến ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn mới chính thức được thành lập.
2.5.2. Quy mô, mật độ và cơ cấu dân số
Là vùng đất được khai phá từ sớm, nhưng đến năm 1996, huyện Quan Sơn mới chính thức là một đơn vị hành chính, Quan Sơn có quá trình phát triển dân cư qua nhiều biến động. Tài liệu ghi chép về số dân của huyện Quan Sơn qua các thời kỳ lịch sử không có nhiều, tuy vậy, căn cứ vào những nghiên cứu về quá trình hình thành cộng đồng dân cư ở Thanh Hóa và khu vực miền núi Thanh Hóa nói chung, vùng đất thuộc huyện Quan Sơn nói riêng cho thấy, con người định cư ở đây từ thời kỳ tiền sử.
Những thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ cùng với tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng đến tình hình dân số của huyện.
Thời điểm thành lập huyện (1996), Quan Sơn có 9 xã. Từ năm 2008, số đơn vị hành chính của Quan Sơn tăng lên thành 13 xã và ổn định cho đến nay.
Quan Sơn là huyện có diện tích lớn nhưng dân số có quy mô vào loại thấp ở tỉnh Thanh Hóa. Tính đến ngày 31/12/2015. Dân số của huyện là 37.139 người, trong đó phân theo giới tính là 18.884 nam và 18.255 nữ; phân theo thành thị, nông thôn là: thành thị 2.830 người, nông thôn: 34.309 người.
Quy mô dân số của các xã trong huyện có tăng qua các năm, thứ bậc cũng có thay đổi. Theo kết quả của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, dân số của huyện năm 2009 đạt 35.379 người, đến năm 2015 đạt 37.139 người, mật độ dân số năm 2015 là 40 người/km2. Hiện nay, theo kết quả của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, xã Sơn Điện là đơn vị có quy mô dân số lớn nhất là 4.117 người, tiếp theo là các xã Sơn Thủy 3.352 người, xã Tam Thanh 3.534 người, xã Trung Hạ 3.502 người, xã Na Mèo 3.458 người, Trung Xuân là xã có quy mô dân số thấp nhất với 1.738 người.
Bảng 6: Diện tích dân số, mật độ dân số năm 2015
TT    Xã, thị trấn    Số bản, Khu tính đến 31/12/2015    Diện tích    Dân số trung bình    Mật độ dân số
            (km2)    (người)    (người/ km2)
    Toàn huyện    99    926.625    37.139    40
1    Trung Xuân    7    49.084    1.738    35
2    Trung Hạ    7    34.730    3.502    101
3    Trung Tiến    8    40.054    2.968    74
4    Trung Thượng    6    56.179    2.267    40
5    TT Quan Sơn    6    8.443    2.830    335
6    Sơn Lư    6    45.572    2.410    53
7    Sơn Hà    6    88.964    1.831    21
8    Tam Lư    6    61.757    2.808    45
9    Tam Thanh    9    99.244    3.534    36
10    Sơn Điện    11    94.374    4.117    44
11    Mường Mìn    5    89.205    2.324    26
12    Sơn Thủy    12    131.578    3.352    25
13    Na Mèo    10    127.442    3.458    27
Bảng 7: Dân số trung bình phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Người
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Toàn huyện    35.615    35.779    36.093    36.237    36.597    37.139
1    Trung Xuân    1.677    1.685    1.691    1.694    1.707    1.738
2    Trung Hạ    3.460    3.467    3.470    3.471    3.488    3.502
3    Trung Tiến    2.945    2.945    2.956    2.951    2.954    2.968
4    Trung Thượng    2.258    2.264    2.261    2.259    2.264    2.267
5    TT Quan Sơn    2.362    2.423    2.498    2.504    2.584    2.830
6    Sơn Lư    2.340    2.352    2.374    2.383    2.398    2.410
7    Sơn Hà    1.786    1,787    1,791    1,788    1,812    1,831
8    Tam Lư    2.654    2.648    2.662    2.669    2.730    2.808
9    Tam Thanh    3.432    3.443    3.455    3.462    3.504    3.534
10    Sơn Điện    3.975    4.002    4.041    4.086    4.117    4.117
11    Mường Mìn    2.208    2.218    2.264    2.320    2.326    2.324
12    Sơn Thủy    3.169    3.190    3.251    3.285    3.318    3.352
13    Na Mèo    3.349    3.355    3.379    3.365    3.395    3.458
Bảng 8: Dân số trung bình 2009 và 2015 phân theo xã, thị trấn và giới tính
Đơn vị tính: Người
TT    Xã, thị trấn    Tổng số năm 2009    Chia ra    Tổng số năm 2015    Chia ra
            Nam    Nữ        Nam    Nữ
    Toàn huyện    35.379    17.821    17.558    37.139    18.884    18.255
1    Trung Xuân    1.657    816    841    1.738    868    870
2    Trung Hạ    3.554    1.744    1.810    3.502    1.752    1.750
3    Trung Tiến    2.934    1.458    1.476    2.968    1.494    1.474
4    Trung Thượng    2.188    1.129    1.059    2.267    1.146    1.121
5    TT Quan Sơn    2.331    1.192    1.139    2.830    1.434    1.396
6    Sơn Lư    2.341    1.199    1.142    2.410    1.268    1.142
7    Sơn Hà    1.771    896    875    1.831    916    915
8    Tam Lư    2.654    1.294    1.360    2.808    1.398    1.410
9    Tam Thanh    3.375    1.667    1.708    3.534    1.793    1.741
10    Sơn Điện    3.937    1.992    1.945    4.117    2.164    1.953
11    Mường Mìn    2.208    1.115    1.093    2.324    1.171    1.153
12    Sơn Thủy    3.143    1.583    1.560    3.352    1.683    1.669
13    Na Mèo    3.286    1.736    1.550    3.458    1.797    1.661

 
Bảng 9: Dân số trung bình phân theo giới tính, thành thị, nông thôn
Đơn vị tính: Người
    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Tổng số    35.615    35.779    36.094    36.237    36.597    37.139
Phân theo giới tính                        
Nam    17.914    17.990    18.129    18.176    18.553    18.884
Nữ    17.701    17.789    17.965    18.061    18.044    18.255
Phân theo thành thị nông thôn    35.615    35.779    36.093    36.237    36.597    37.139
Thành thị    2.362    2.423    2.498    2.504    2.584    2.830
Nông thôn    33.253    33.356    33.595    33.733    34.013    34.309

 
Quy mô dân số của huyện gần như rất ít biến động qua các năm, nhất là trong 5 năm gần đây, có xu hướng ổn định, tăng chậm, tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm mạnh, hiện nay chỉ còn 1,1%. Mặc dù tỷ lệ gia tăng tự nhiên không quá thấp nhưng quy mô dân số của huyện không tăng. 
Trong tổng dân số, có tới 92,6% dân số tập trung ở nông thôn với quy mô 34.309 người, dân số đô thị của huyện chỉ có 2.830 người tập trung chủ yếu ở thị trấn Quan Sơn - nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn, tỷ lệ đô thị hóa của huyện vào loại thấp nhất toàn tỉnh (7,4% so với 14,7%) năm 2014. Đặc điểm này hiện tại phù hợp với cơ cấu kinh tế của huyện với ngành chủ đạo là nông - lâm nghiệp.
Quan Sơn là huyện miền núi có mật độ dân số thấp nhất tỉnh Thanh Hóa với 40 người/km2 năm 2015, mật độ của huyện chỉ bằng 1/8 mật độ trung bình của tỉnh. Đây là cũng đặc thù chung của các huyện miền núi, nơi có đất rộng nhưng dân cư thưa thớt. Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung đông ở các xã trung tâm (thị trấn Quan Sơn, xã Sơn Lư) và Đông Bắc (xã Trung Hạ, xã Trung Tiến), thưa thớt ở các xã phía tây 20 - 25 người/km2 (xã Mường Mìn, xã Na Mèo, xã Sơn Thủy). Tuy nhiên, sự chênh lệch phân bố dân cư trên địa bàn toàn huyện không lớn.
Nguyên nhân huyện có mật độ dân cư thưa thớt chủ yếu do điều kiện địa hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, nhiều nơi không có giao thông đi đến. Dân cư thưa thớt, thiếu lao động là một trong những trở ngại lớn trong khai thác tài nguyên của huyện, trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới.
Số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện là 18,9 nghìn người, chiếm 81% dân số trong độ tuổi, tập trung gần như tuyệt đối trong lĩnh vực nông lâm thủy sản với 15,1 nghìn người, chiếm 80%, lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng không đáng kể với gần 700 người, chiếm 4% lực lượng lao động, lĩnh vực dịch vụ có số lượng lao động lớn hơn và có xu hướng tăng nhanh với quy mô hơn 3.000 người, chiếm 16%. Nhìn chung, cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế thể hiện tính chất của nền kinh tế huyện Quan Sơn vẫn thuần nông, thuần lâm.
Huyện Quan Sơn có cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào, sức khỏe tốt, dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn 63% với quy mô 23,3 nghìn người. Đây là nguồn cung cấp nhân lực quan trọng cho các ngành kinh tế của huyện, đặc biệt đối với ngành lâm nghiệp. Người lao động của huyện Quan Sơn có truyền thống chăm chỉ, cần cù chịu khó, có kinh nghiệm trong khai thác và trồng rừng, trồng lúa nương, chế biến lâm sản, làm nghề thủ công mỹ nghệ,... Tuy nhiên, trình độ học vấn của dân cư và lao động của huyện còn thấp. Tỷ lệ người lao động nông thôn có khả năng lao động chưa qua đào tạo, không có chứng chỉ chuyên môn của huyện cao hơn mức trung bình toàn tỉnh, đến năm 2011 là 92,8% (trong khi cả tỉnh là 88,3%), tỷ lệ người lao động có trình độ đại học cao đẳng trở lên đạt 7,7%. Đây là một khó khăn lớn đối với huyện trong quá trình hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. 
Là huyện có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Thái chiếm tỷ lệ lớn nhất 81,0%, người Kinh 9,1%, người Mường 7,4%, người Mông 2,3%, dân tộc khác 0,2%; tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc về trình độ dân trí và trình độ lao động sản xuất.
Các dân tộc ở Quan Sơn có truyền thống đoàn kết, yêu nước, có nhiều nét văn hóa đặc sắc và kinh nghiệm canh tác trên đất dốc. Tuy nhiên, có sự chênh lệch về trình độ khoa học kỹ thuật giữa các dân tộc trong huyện, đặc biệt là tính năng động, nhạy bén và thích nghi cao trong cơ chế thị trường, khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như tính năng động trong hoạt động sản xuất. Từ góc nhìn dân tộc học, thông qua nghiên cứu khảo sát, còn có thể nhận thấy một số nhân tố tộc người có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trên địa bàn Quan Sơn. Đó là tập quán sản xuất tự cấp tự túc, tâm lý của người quen sống vào rừng núi, từng có một quá trình biến thiên trong lịch sử gắn bó với kinh tế khai thác, săn bắt, hái lượm. Người Thái, người Mường và phần lớn các dân tộc thiểu số từ bao đời đã sống dựa vào rừng. Rừng như là một sự hào phóng của thiên nhiên, cung cấp cho con người gần như đầy đủ của một cuộc sống tự cấp, tự túc. Vì vậy, Quan Sơn cần có giải pháp đột phá để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài làm động lực cho sự chuyển biến mạnh mẽ kinh tế - xã hội của huyện.
 


Các bài viết gần đây

Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 9
 Hôm nay: 130
 Tổng số truy cập: 508395
  • Bản quyền © Huyện Quan Sơn
  • Địa chỉ: Thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Email: bbtquanson@gmail.com - ĐT:0942.530.693
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa
  • Ghi rõ nguồn tin: "huyenquanson.vn" khi phát lại thông tin từ Cổng TTĐT