Trang chủ   /   Dư Địa Chí Huyện Quan Sơn   /   Chương 3 LỊCH SỬ
Chương 3 LỊCH SỬ
3.1. VÙNG ĐẤT QUAN SƠN TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN THẾ KỶ X

Theo cứ liệu lịch sử cùng với việc phát hiện di chỉ núi Đọ( ), núi Nuông, núi Quan Yên (huyện Yên Định) có niên đại cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm qua dấu vết cư trú của người tiền sử đã chứng minh Việt Nam là một trong những quê hương đầu tiên của loài người. Thời kỳ này, cũng như huyện Quan Hóa, huyện Quan Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc thù do ở vùng núi cao, mùa hè mát, mùa đông ấm áp không bị giá buốt, được phân kỳ địa chất thuộc thế Pleistocen, còn gọi là thế Canh Tân. Từ khi người tiền sử bắt đầu sinh sống ở đây thì địa hình miền Tây Thanh Hóa đã gần giống với địa hình ngày nay, chỉ có bờ biển thì có lúc vào, lúc ra tùy theo các đợt biển tiến hay biển lùi. 
Đến cuối thời đại đồ đá cũ, trên một địa bàn rộng lớn ở Bắc Việt Nam nhất là vùng Tây Bắc từ Lai Châu, Hòa Bình đến Thanh Hóa, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích của các bộ lạc nguyên thủy cư trú trong các hang động, mái đá gần sông suối cách ngày nay chừng 30.000 đến 11.000 năm. Về mặt phân kỳ khảo cổ, đây thuộc hậu kỳ đồ đá cũ, nơi tìm thấy dấu tích của các bộ lạc đầu tiên là xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Do đó giai đoạn này còn được gọi là văn hóa Sơn Vi. 
Trên đất Thanh Hóa, cho đến nay địa bàn phân bố của văn hóa Sơn Vi đã được tìm thấy ở nhiều di chỉ thuộc miền Tây, Tây Bắc thuộc các huyện Cẩm Thủy, Bá Thước, Thạch Thành và cả ở một số huyện đồng bằng như Yên Định, Hà Trung... Trong không gian lịch sử, văn hóa gần với Quan Sơn, dấu vết văn hóa Sơn Vi rõ nét nhất là Mái Đá Điều (xã Hạ Trung, huyện Bá Thước) và hang Con Moong (xã Thành Yên, huyện Thạch Thành) cũng đã được phát hiện và khai quật. Đặc biệt, hang Con Moong, Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 2367/QĐ - TTg ngày 31/12/2015 xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt, tiến tới xây dựng hồ sơ di sản văn hóa thế giới. 
Di chỉ hang Con Moong được phát hiện từ năm 1975 và đã qua 5 lần khai quật. Đáng kể nhất là đợt khai quật năm 2014 do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Viện Hàm lâm Khoa học Liên bang Nga thực hiện. Trong đó lớp sâu nhất thuộc văn hóa Sơn Vi ở độ sâu từ 6,8 - 9,5m có niên đại cách ngày nay khoảng 40 đến 60 ngàn năm. Tuy nhiên, vào giai đoạn này, người tiền sử ở hang Con Moong sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, săn bắt và hái lượm là phương thức kiếm sống duy nhất. Căn cứ vào khối lượng các loài nhuyễn thể, cho thấy người nguyên thủy ở thời kỳ này ngoài nguồn thức ăn do săn bắt, hái lượm đưa lại, việc khai thác đánh bắt các loài thủy sản là nguồn sống quan trọng của họ. Người Con Moong khi ấy đã sử dụng khá nhiều hòn cuội bằng đá quắc zít đập thành những công cụ hình múi cam phục vụ cho đời sống thường ngày. 
Sau văn hóa Sơn Vi trên đất Thanh Hóa, người nguyên thủy bước vào thời kỳ đồ đá mới với các giai đoạn văn hóa Hòa Bình, Đa Bút. Từ văn hóa Sơn Vi đến văn hóa Hòa Bình( ) diễn ra trên đất Thanh Hóa là một quá trình phát triển liên tục tại chỗ. Đến nay ở Thanh Hóa đã tìm thấy 31 di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình trong đó có 18 di chỉ do nhà khảo cổ học người Pháp M.Colani phát hiện từ những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX và chủ yếu tập trung ở khu vực miền Tây của tỉnh, đó là các huyện Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc. Nếu như chủ nhân của văn hóa Sơn Vi cư trú trong các hang động, mái đá, núi đá vôi, các đồi gò hoặc ven theo các thềm sông cổ thì người thuộc văn hóa Hòa Bình cư trú trong các hang động hoặc mái đá. Theo kết quả khai quật năm 2014 tại hang Con Moong, chúng ta biết người thời kỳ này sống cách ngày nay từ 13.000 đến 17.000 năm. 
Qua những cứ liệu thu được từ các đợt khai quật khảo cổ của các khoa học, chúng ta biết phương thức kinh tế chủ đạo của con người thời kỳ này chủ yếu vẫn là săn bắt và hái lượm. Song, do cư trú trong hang động, mái đá gần kề sông suối, con người thời kỳ này cũng đã khai thác thủy sản như thời kỳ trước đó nhưng mở rộng hơn rất nhiều. Mặt khác, do áp lực dân số ngày càng gia tăng, người ta đã đi khá xa nơi cư trú để kiếm ăn, đồng thời làm nảy sinh nền nông nghiệp sơ khai qua dự trữ cây quả do hái lượm thu được. Đó cũng là nguyên nhân để nghề đan, nghề gốm ra đời mà các nhà khảo cổ đã thu được trong các tầng văn hóa. Từ những phát triển di chỉ cư trú của người thuộc văn hóa Hòa Bình ở các huyện liền kề với Quan Sơn cũng như miền Tây Thanh Hóa, chúng ta hoàn toàn tin rằng sẽ tìm thấy đặc trưng văn hóa này ở vùng đất Quan Sơn trong tương lai không xa. 
Tiếp theo thời đại đồ đá, nhân loại bước sang thời đại đồ đồng. Tuy chỉ tồn tại vài ngàn năm so với thời gian hàng triệu năm của thời đại đồ đá, nhưng con người đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực của đời sống. 
Trên đất Thanh Hóa, khu vực cơ bản của bộ Cửu Chân trong vương quốc Văn Lang của các Vua Hùng đã tiến vào thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt cách ngày nay chừng 4.000 năm lịch sử với sắc thái văn hóa địa phương riêng biệt. Thành tựu nghiên cứu của giới khoa học hàng trăm năm qua cho thấy, diễn trình lịch sử thời kỳ này trải qua 4 giai đoạn phát triển liên tục qua các chặng đường tương ứng với các nền văn hóa: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng. Quá trình sinh sống của con người thời đó đã để lại những di tích khảo cổ trên cả ba vùng địa lý của Thanh Hóa: vùng núi, đồng bằng và ven biển. Các nhà khảo cổ đã phân kỳ cho thời đại Hùng Vương ở Thanh Hóa theo các giai đoạn: Cồn Chân Tiên - Đông Khối - Quỳ Chử - Đông Sơn. Trong mỗi giai đoạn tuy mức độ biểu hiện đậm nhạt khác nhau nhưng miền núi Thanh Hóa luôn có mặt các nhóm cư dân với những hoạt động không kém phần sôi động. 
Buổi đầu thời đại đồ đồng, cùng với giai đoạn Cồn Chân Tiên ở đồng bằng, văn hóa Hoa Lộc ở ven biển, miền Tây Thanh Hóa đã là địa bàn tụ cư của người Việt cổ. Trong các hang Thẩm Hai, Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa) giáp với Nghệ An, các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ cư trú của con người thời kỳ này qua các di vật họ để lại. Quá trình sinh sống của họ đã để lại một tầng văn hóa dày từ 20 - 30cm chứa đựng công cụ bằng đá và những mảnh gốm vỡ. Kỹ thuật chế tác đồ đá của nhóm cư dân này đã đạt tới trình độ khá cao. Đó là những chiếc rìu, đục bằng đá được mài nhẵn, mặt cắt ngang có hình chữ nhật. Tất cả đều được chế tác từ loại đá kết cấu hạt mịn như những công cụ tìm thấy ở tầng văn hóa các di chỉ cùng thời ở đồng bằng Thanh Hóa. Trong các di vật mà người thời này để lại, các nhà khoa học đặc biệt chú ý tới đồ gốm. Đó là những đồ đựng có miệng loe dày, vai xuôi. Có loại có chân đế, có loại đáy bằng. Loại gốm đáy bằng rất ít gặp trong các di tích cùng thời ở nước ta. Người thời đó đã biết làm đẹp cho đồ đựng của mình bằng cách tạo nên những hình trang trí khắc vạch theo những đồ án không thống nhất. Đó là hoa văn các đường song song chạy thành băng hoặc hoa văn hình chữ S khá sinh động, chứng tỏ tư duy nghệ thuật của họ đã khá cao. Trong các hang động nói trên, người ta còn tìm thấy khá nhiều vỏ ốc suối, đó là dấu vết của hoạt động hái lượm. Tuy nhiên, nông nghiệp trồng lúa đã trở thành một ngành kinh tế chủ đạo. Trong các thung lũng bằng phẳng, màu mỡ quanh nơi cư trú, cư dân thời kỳ này đã sử dụng những chiếc rìu đá, những chiếc gậy nhọn phát cây và trổ lỗ tra hạt. Môi trường sống và điều kiện địa lý tương ứng khiến chúng ta nghĩ rằng, người Việt cổ thời đó rất có thể đã có mặt, tuy nhiên hãy còn thưa thớt. 
Đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay khoảng trên dưới 3.000 năm, một Nhà nước của người Việt cổ mới thực sự ra đời. Các Vua Hùng đã chia nước thành 15 bộ, Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân, bao gồm cả Quan Sơn khi ấy. Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam là một nền văn hóa khảo cổ được phân bố trên một địa bàn rộng lớn gần khắp miền Bắc Việt Nam. Vì vậy ở nước ta, không có nền văn hóa khảo cổ thuộc thời đại đá mới và thời đại kim khí nào có thể so sánh được với tính chất quy mô độc đáo của nền văn hóa Đông Sơn. Trên khắp Thanh Hóa đã tìm thấy hàng trăm di tích, 136 trống đồng loại I thuộc văn hóa Đông Sơn và hàng trăm hiện vật phát triển lẻ tẻ trên phạm vi cả tỉnh. Văn hóa Đông Sơn được lấy tên một địa điểm lần đầu tiên phát hiện ra nó thuộc làng Đông Sơn, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa vào năm 1924 do các nhà khảo cổ người Pháp xác định. Sự phân bố đậm đặc của các di tích Đông Sơn ở vùng đồng bằng, trung du đã phần nào phản ánh tính làm chủ của người Việt cổ ở Thanh Hóa với những làng định cư lâu đời hàng ngàn năm như Đông Sơn, Quỳ Chử...
Miền núi Thanh Hóa tại các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Thường Xuân, Cẩm Thủy... đã phát hiện được di chỉ cư trú, những nhóm đồ đồng và trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn. Chứng tỏ vào thời kỳ Hùng Vương người Việt cổ đã có mặt ở các vùng đất này và kinh tế sản xuất đã chiếm giữ vai trò chủ đạo. 
Một trong những hiện vật tiêu biểu đã tìm thấy trong lòng đất Quan Sơn đó là trống đồng được phát hiện ở Trung Hạ. Đây là trống đồng loại I(1), đến nay ở miền núi Thanh Hóa chỉ mới tìm thấy ở Quan Sơn, Quan Hóa, Cẩm Thủy... với số lượng không nhiều. 
Trống đồng được phát hiện ở Trung Hạ vào năm 1986. Đường kính mặt trống: 47,5cm, đường kính chân trống: 45cm, chiều cao 32,2cm, cân nặng 11kg, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Thanh Hóa. Chính giữa mặt trống là ngôi sao 12 cánh mập được xen kẽ bằng hoa văn hình học. Phía ngoài các cánh sao là vòng tròn có 12 chim hạc bay theo chiều ngược kim đồng hồ. Phía ngoài cùng là 4 khối tượng cóc, bố cục cân đối cũng theo hướng ngược kim đồng hồ. Tang và thân trống là những dải hoa văn hình người hóa trang hình chim cách điệu, xen lẫn những họa tiết hình răng cưa, vạch ngắn song song, hình lông công. Trống đồng được phát hiện tại Trung Hạ được xác định niên đại thuộc giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn vào khoảng thế kỷ I - II Scn. 
Việc phát hiện trống đồng tại Trung Hạ đã góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu về văn hóa Đông Sơn trên đất Thanh Hóa cũng như quá trình sinh tụ của người Việt cổ trên vùng đất này. Đó còn là bằng chứng sinh động chứng minh Quan Sơn là một huyện có lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, đóng góp tích cực cho lịch sử dân tộc trong các giai đoạn tiếp theo. 
Từ cuối thời kỳ văn hóa Đông Sơn đến thế kỷ thứ X, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quan Sơn đã trải qua quá trình gian khổ đấu tranh chống lại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc. Từ những điểm tụ cư có từ các giai đoạn trước, phạm vi cư trú được mở rộng cùng với văn hóa, có những bước phát triển mới trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. 
Điều hết sức độc đáo trong đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của người Quan Sơn thời kỳ này là đã phát hiện được 3 chiếc trống đồng mà theo phân loại của F.Heger thuộc trống loại II. Loại trống này đã có mặt ở một số địa bàn khác nhau của tỉnh Thanh Hóa nhưng tập trung chủ yếu là ở miền núi tại các huyện Ngọc Lặc, Lang Chánh, Quan Hóa, Quan Sơn... 
Tại Quan Sơn đã tìm thấy trống đồng loại II ở các xã: Mường Mìn, Sơn Thủy, Tam Lư, Trung Xuân. Nhìn chung, trống loại II có mặt trong cộng đồng dân cư người Mường, đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trống vẫn được đồng bào sử dụng như một nhạc cụ trong lễ tết, hội hè. Trống đồng còn được nhắc đến trong các sử thi, mo Mường. Một số họa tiết hoa văn trống đồng loại II còn gặp lại trong trang trí trang phục của phụ nữ Mường. Do tính phổ biến của loại hiện vật độc đáo này trong đời sống người Mường nên nhiều nhà khoa học gọi là trống Mường. 
Năm 1999, người ta đã phát hiện được trống đồng tại bản Bơn, xã Mường Mìn. Một chiếc trống còn tương đối nguyên vẹn. Trống có đường kính mặt 43cm. Chính giữa có hình ngôi sao không rõ tia giống như hình hoa sen nhiều cánh. Thân trống được trang trí hoa văn hình cánh sen xen lẫn hoa cúc cách điệu. Mặt trống có 3 khối tượng cóc quay cùng chiều kim đồng hồ được phân bố đều nhau. Đây là chiếc trống có trang trí độc đáo bởi các trống đồng cùng loại đã tìm thấy thường có 4 khối tượng cóc quay ngược kim đồng hồ. Có thể đây là cách quan niệm về vũ trụ của đồng bào dân tộc vùng cao Thanh Hóa. Hiện tượng độc đáo, khác biệt này đang được các nhà khoa học nghiên cứu. 
Trống đồng được phát hiện trong lòng đất được phát hiện vào năm 2008 tại xã Sơn Thủy. Trống có đường kính mặt 50,1cm, chiều cao 29,5cm, đã bị vỡ một mảnh phần chân do khai quật. Mặt trống hình mặt trời 8 tia mảnh. Xung quanh mặt trống là những băng hoa văn hình trám lồng, những dải mây cuộn sinh động. Mặt trống có 3 khối tượng cóc chạy ngược kim đồng hồ. Tang và lưng trống cũng được trang trí bằng những vòng hoa văn trám lồng, mây cuộn. Trống có 4 đôi quai gắn giữa phần tang và thân trống. 
Năm 2007 tại bản Piềng Khóe, xã Tam Lư đã phát hiện chiếc trống đồng, có đường kính mặt 40,5m, chiều cao 24,4cm. Mặt trống có hình mặt trời 8 tia mảnh và những hoa văn lá sồi kép; trám lồng, hoa đồng tiền xen lẫn cánh sen. Trống có 3 khối tượng cóc quay ngược chiều kim đồng hồ. Tang và thân trống cũng được trang trí bằng những họa tiết hoa văn trám lồng, hoa đồng tiền và cũng được gắn 4 đôi quai giữa tang và thân trống. 
Từ những trống đồng phát hiện ở Quan Sơn, cho thấy trống đồng loại II là kết quả phát triển tiếp nối sau trống đồng Đông Sơn mà chủ nhân của nó là những người Việt cổ sống ở miền núi trong quá trình phân hóa Việt - Mường diễn ra suốt ngàn năm Bắc thuộc của dân tộc ta. 
Điều đặc biệt thú vị là năm 2010, tại hang Hòm, bản Muống thuộc xã Trung Xuân, người dân đã phát hiện được một chiếc trống đồng có hình dáng lạ cùng một số dụng cụ bằng đồng như: nồi đồng, niếng đồng. Trống đồng này có đường kính mặt 47,5cm, cao 38cm, tang và thân bị thủng một phần. Trống có dáng trên to, thuôn dài và hơi loe về phía chân trống, nhìn khá thanh thoát. Chính giữa mặt trống có hình mặt trời 8 tia mảnh. Các vòng hoa văn là những dải băng hình học, hình bông lúa xen kẽ người hóa trang lông chim cách điệu, hình chim xen kẽ bông hoa 5 cánh tròn. Mặt trống có 4 khối tượng cóc chạy ngược chiều kim đồng hồ, khoảng cách đều nhau. Tang và thân trống cũng được trang trí bằng những vòng hoa văn hình học. 
Theo các nhà khoa học, đây là chiếc trống loại III theo phân loại của F.Héger duy nhất tìm thấy ở Thanh Hóa. Khi nghiên cứu những chiếc trống đồng cùng loại ở Việt Nam và Đông Nam Á, có người cho rằng trống có liên quan đến các tộc người thuộc ngữ hệ Môn Khơ Me là chính và một ý kiến khác cho rằng đây là loại trống liên quan đến các tộc người nói tiếng Tày Thái là chính. Trống có niên đại khoảng thế kỷ VI. Theo F.Héger trống đồng loại III là trống Shan do người Karen ở vùng Shan (Đông bắc Miến Điện) chế tác nên còn gọi là trống Shan. 
Theo nhà nghiên cứu Trịnh Sinh, sự có mặt trong lòng đất xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn một chiếc trống đồng loại III, vốn xưa nay được quan niệm như một dạng trống của người Miến Điện, thì nay quan niệm đó cũng cần xem lại. Qua phát hiện này đã giúp cho các nhà khoa học đưa ra giả thiết về chủ nhân của trống đồng loại III, có cả một tộc người nào đó ở vùng Quan Sơn(1).
Như vậy, từ việc phát hiện các trống đồng cổ trên đất Quan Sơn và qua các di vật của người nguyên thủy như: rìu đá, mai đá (Sơn Điện), mũi giáo hóa thạch, xương động vật (thuộc thời kỳ đá mới) cùng với những công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày làm bằng đồng (thuộc thời đại đồng thau) ta có thể nhận định: cách ngày nay hàng vạn năm các cư dân Việt cổ đã sinh sống dọc triền sông Mã, sông Luồng, sông Lò.
3.2. VÙNG ĐẤT QUAN SƠN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
Xứ Thanh trước khi vương triều Lý được xác lập là một trong những vùng đất có vị thế địa - chính trị quan trọng trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Vùng đất đôi bờ sông Mã là nơi có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục. Những nền văn hóa cổ hình thành, phát triển và tỏa sáng trên vùng đất này đã góp phần vào quá trình tạo dựng văn hóa, văn minh dân tộc. 
Thế kỷ X - XIV, lịch sử Thanh Hóa nói chung cũng như lịch sử vùng đất Quan Sơn nói riêng có những biến động quan trọng theo dòng chảy của lịch sử dân tộc. Quan Sơn được ví như là vùng đất “phên dậu” của tỉnh Thanh Hóa bởi vị trí chiến lược quy định. Vì vậy, thời kỳ lịch sử này, người Quan Sơn luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường, dũng cảm, sát cánh cùng các triều đại phong kiến chống lại giặc ngoại xâm và các thổ ty, lang đạo tham lam, độc ác, bảo vệ vững chắc bờ cõi biên giới của quê hương.
Thế kỷ X, vùng đất Cửu Chân - xứ Thanh có vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán và Tống, giành độc lập dân tộc, đưa đến sự ra đời các vương triều Ngô - Đinh - Tiền Lê và nhà Lý. 
Thời kỳ này, hào trưởng vùng Dương Xá (vùng ngã ba sông Mã - sông Chu) - Dương Đình Nghệ phát triển thế lực. Tại làng Giàng (xã Thiệu Dương, huyện Đông Sơn nay thuộc Tp. Thanh Hóa), ông đã xây dựng thành trung tâm kháng chiến của cả nước. Con gái họ Dương hai đời là Hoàng hậu triều Ngô triều Đinh và Tiền Lê, ông đã chiêu mộ được những vị tướng tài là Ngô Quyền (sau này là con rể ông) và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Hào trưởng họ Dương đã thu nạp hào kiệt bốn phương, xây dựng lực lượng, từ Châu Ái tiến ra Giao Châu tấn công thành Đại La, đánh đuổi quân xâm lược Nam Hán.
Năm 931, cuộc kháng chiến của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ đã thắng lợi hoàn toàn, bọn đô hộ Nam Hán bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Nền độc lập dân tộc từ nhà họ Khúc chuyển sang Dương Đình Nghệ. Ông tự xưng là Tiết độ sứ, cử Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu, Ngô Quyền làm thứ sử Châu Ái.
Tháng 4 năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một viên tướng dưới quyền là hào trưởng Phong Châu hãm hại. Ngô Quyền con rể Dương Đình Nghệ đã đem quân từ Châu Ái ra Giao Châu giết chết Kiều Công Tiễn và sau đó đánh tan quân Nam Hán xâm lăng ở trận Bạch Đằng lịch sử (938).
Sau chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng (năm 938), đánh bại quân xâm lược Nam Hán, giành độc lập cho đất nước, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa. Đánh giá về chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu viết: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới hợp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoàng Thao, mở nước xưng Vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa, có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”( ).
Lịch sử Thanh Hóa cũng khẳng định: “Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, cuộc đấu tranh suốt 33 năm (905 - 938) với hai cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán (năm 931 và năm 938), đã hoàn thành trọn vẹn và triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong chiến công vĩ đại đó, nhân dân Châu Ái đã đóng góp một phần không nhỏ. Cùng với quân dân cả nước, quân dân Châu Ái đã tập hợp xung quanh Ngô Quyền làm nên trận thủy chiến đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta mà dư âm còn vang vọng đến ngàn thu”( ). 
Đất và người Châu Ái đã góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng, cắm cột mốc lớn trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử dân tộc hồi thế kỷ X: “chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn nghìn năm của triều đại phong kiến Trung Quốc, mở ra một kỷ nguyên mới, độc lập lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước”( ). 
Cuối thế kỷ X, sau khi vương triều Ngô sụp đổ, xứ Thanh là địa bàn của sứ quân Ngô Xương Xí - một trong 12 sứ quân lúc bấy giờ.
Ngô Xương Xí đã lui về vùng đồi núi Bình Kiều (thuộc huyện Triệu Sơn ngày nay) xây dựng lực lượng với hy vọng lập lại cơ đồ mà người cha (Ngô Quyền) đã tạo dựng. Ông đã chọn vùng đất Bình Kiều để xây dựng căn cứ( ). Thành Bình Kiều được đắp bằng đất, hình vuông, mỗi chiều 180m, quanh thành có hào sâu bao bọc. Mặt thành rộng 2m, cao 2m, chân rộng từ 3 đến 4m. Thành có 4 cửa và 4 góc thành đều có cồn đất cao, giữa thành có một ụ đất làm cột cờ, diện tích khoảng 2m2. Tại Bình Kiều, Ngô Xương Xí được các hào trưởng và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ trong việc xây dựng thành lũy( ).
Đây là thời kỳ đất nước rơi vào tình trạng loạn “thập nhị sứ quân” của các thế lực cát cứ với các toan tính riêng. Trong thời kì loạn 12 sứ quân, Châu Ái có 3 dòng họ có thế lực mạnh về kinh tế, chính trị, chiếm giữ 3 vùng đất chiến lược là:
Họ Dương (Dương Đình Nghệ): phát triển thế lực, chiếm giữ vùng đất phía nam Ngã Ba Bông (nơi sông Chu gặp sông Mã) mà trung tâm là vùng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, ngày nay thuộc Tp. Thanh Hóa).
Họ Lê (Lê Lương): vùng giáp Bối Lý, hữu ngạn sông Chu (vùng đất phía tây huyện Thiệu Hóa).
Họ Ngô (Ngô Xương Xí): như đã trình bày lực lượng của Ngô Xương Xí là một trong những sứ quân có thế lực mạnh, địa bàn hoạt động rộng và được sự ủng hộ của nhiều hào trưởng trong vùng.
Cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI cũng là thời kỳ sứ quân “vùng đất cờ lau” Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, thiết lập triều Đinh, lập nên nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Xứ Thanh là nơi cận kề với kinh đô Hoa Lư. Nguồn nhân tài, vật lực từ châu thổ sông Mã đã tác động, ảnh hưởng mạnh đến nhà Đinh, điển hình là một số nhân vật như Lê Hoàn (Thập đạo tướng quân), Ngô Chân Lưu (Khuông Việt đại sư), Lê Lương (hào trưởng xứ Thanh) và đặc biệt là Thái hậu Dương Vân Nga. Nhận thức đúng vị thế của Châu Ái, Đinh Bộ Lĩnh đã chủ động vào xứ Thanh, tìm gặp các thủ lĩnh quân sự và chấp nhận làm con rể họ Dương( ). Sự ủng hộ từ các thế lực ở Châu Ái đã tạo điều kiện cho họ Đinh thiết lập vương triều trên đất Hoa Lư.
Vương triều Đinh sụp đổ, năm 980 Lê Hoàn vốn là Thập đạo tướng quân dưới triều Đinh đã thiết lập vương triều Tiền Lê.
Lê Đại Hành là vị vua tài giỏi nhưng những người kế vị không đủ tài đức nên không giữ nổi vương triều. Sự sụp đổ của nhà Tiền Lê có nhiều nguyên nhân nhưng “loạn cung đình” được xem là điều kiện cốt tử dẫn đến sự ra đời vương triều Lý.
Lý Công Uẩn người châu Cổ Pháp - Bắc Ninh, là vị hoàng đế khai sáng vương triều Lý và quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La để “mưu việc lớn”. Thanh Hóa tuy xa kinh đô nhưng triều Lý rất quan tâm đến vùng đất Châu Ái.
Từ sau chiến thắng Bạch Đằng (năm 938) đến những thập niên đầu của “kỷ nhà Lý”, tình hình kinh tế - xã hội vùng đất huyện Quan Sơn nói riêng, Châu Ái nói chung là thời kỳ có nhiều biến động.
Từ thời Đinh, “man” Cử Long nổi loạn, mặc dù Lê Hoàn đã thân chinh đem quân đánh dẹp. Sử cũ cho biết: năm Tân Sửu (1001), Lê Hoàn đích thân đi dẹp giặc Cử Long. Tướng giặc trông thấy Lê Hoàn giương cung bắn, lần thứ nhất thì tên rơi, lần thứ hai thì cung gãy nên giặc sợ mà rút. Lê Hoàn đưa thuyền đuổi theo, giặc mai phục hai bên sông bắn tên, con Đinh Tiên Hoàng tử trận. Lê Hoàn kêu trời, thúc quân đột chiến, giặc thua.
Tài liệu để lại cho biết: thời Lý, nơi này có một số vụ bạo loạn với những mức độ khác nhau. Không ít lần hoàng tử, thậm chí là vua phải thân chinh đánh dẹp mới yên ổn. Các địa phương xảy ra bạo loạn như: Cử Long, giáp Đản Nãi, Ngũ Huyện Giang... đã được tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Cử Long( ) thuộc tổng Cự Lữ. Sông Mã chảy từ huyện Bá Thước xuống Cẩm Thủy; đoạn chảy qua Cửa Hà, qua tổng Cự Lữ rất hiểm trở: một bên vách núi dựng đứng, một bên là bờ sông cao được gọi là “ngách cùng”. Đây là địa bàn của đồng bào dân tộc thiểu số (ít hiểu biết, dễ bị kích động...). Một số thủ lĩnh người địa phương ỷ vào địa thế hiểm trở, lợi dụng thổ dân, đã nổi dậy chống lại các vương triều. Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì dân Cử Long chắc là dân Mường thuộc các huyện miền Bắc và Tây Bắc Thanh Hóa.
Thời Lý, “man” Cử Long nhiều lần nổi loạn chống lại triều đình khiến vua hoặc hoàng tử nhà Lý phải thân chinh đến nơi rừng thiêng nước độc. Sự kiện này được sử cũ chép như sau: năm Tân Hợi, Thuận Thiên năm thứ 2 (năm 1011), tháng 2, vua thấy giặc Cử Long ở Ái Châu hung hăng dữ tợn, trải hai triều Đinh, Lê (Tiền Lê) không thắng nổi, đến nay càng dữ mới đem quân đi đánh, đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ đem về, giặc ấy bèn tan( ).
Năm Kỷ Tỵ (năm 1029), dân giáp Đản Nãi( ) nổi loạn. Tháng tư, vua thân chinh dẹp yên. Năm Ất Hợi (năm 1035), Ái Châu có loạn, tháng 10 Thái Tông thân chinh xử tội mục trưởng Ái Châu... Năm 1043, tháng Giêng, châu Ái có loạn, vua sai Thái tử Khai Hoàng Vương làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Ái( ). Năm Canh Dần (năm 1050), dân giáp Long Trì thuộc Giang Ngũ Huyện (vùng đất hợp lưu sông Mã, sông Chu và sông Cầu Chày) làm loạn( ).
Chính sử không cho biết nhiều về cơ cấu hệ thống quản lý ở trấn Thanh Hóa thời Lý, nhưng qua các nguồn sử liệu có thể nhận thấy: ở châu Ái, hào trưởng, châu mục có vai trò rất quan trọng. Đứng đầu châu Ái là châu mục; trong các vùng, các làng xã, hào trưởng vẫn có vai trò nhất định( ).
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước từ thế kỷ X - XV, nhân dân Thanh Hóa nói chung trong đó có nhân dân vùng đất Quan Sơn nói riêng đã có những đóng góp đáng kể về nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên và đánh giặc Cử Long ở miền núi xứ Thanh.
Đến đầu thế kỷ XV, sự kiện lịch sử tác động lớn tới lịch sử nước nhà nói chung, lịch sử Thanh Hóa và khu vực miền Tây tỉnh Thanh Hóa nói riêng giai đoạn này chính là khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh.
Lam Sơn - nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa có tên nôm là làng Cham, nằm bên tả ngạn sông Chu (hiện nay thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa). Về địa thế, đó là nơi giao tiếp giữa đồng bằng và miền núi, thuận lợi khi lực lượng còn non yếu, có thể thủ hiểm chống vây quét. Nhưng một khi lực lượng đã lớn mạnh, có thể từ đó tiến xuống làm chủ những vùng đất rộng, người đông. Về cư dân, ở đây đã tập hợp và đoàn kết nhiều tộc người. Nhiều tướng lĩnh Lam Sơn có nguồn gốc từ những tộc người thiểu số khác nhau như Mường, Thái hoặc Tày. Linh hồn của cuộc khởi nghĩa là Lê Lợi. Năm 1416, Lê Lợi và 18 người bạn thân thiết đã tổ chức Hội thề Lũng Nhai, nêu cao quyết tâm đoàn kết diệt giặc, đặt cơ sở cho sự hình thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo khởi nghĩa. Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước. Tham gia đánh giặc Minh với Lê Lợi, ở vùng mường Mìn, Quan Hóa có ông Lò Khằm Yên (Tạo Lá Dốn) dẫn quân từ Lào sang. Trận đầu tiên ông giải phóng đồn Pom Giới, một đồn lớn của quân Minh ở bản Luốc Làu, bản Chiềng, mường Mìn.
Sau mười năm “nếm mật nằm gai”, khởi nghĩa Lam Sơn đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 29 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, đặt Quốc hiệu là Đại Việt.
Trong 6 năm đầu hoạt động ở miền Tây Thanh Hóa, cũng như các huyện Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, vai trò của Quan Sơn trong khởi nghĩa Lam Sơn là không thể phủ nhận. Tác giả Hà Văn Thương sau nhiều năm điền dã, khảo cứu thực địa và sử liệu đã cung cấp những tư liệu vô cùng quý báu về đất và người Quan Sơn trong cuộc khởi nghĩa của Bình Định Vương Lê Lợi:
Đối với khu vực miền núi Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn không chỉ hoạt động ở khu vực Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh mà cả huyện Quan Hóa (cũ), nhất là khi nghĩa quân gặp nhiều khó khăn. Trước sự bao vây tấn công của quân Minh và sự hy sinh cao cả vì nghĩa lớn của Lê Lai để cứu chủ, Lê Lợi lui quân dọc theo sông Luồng về vùng Sơn Điện, Sơn Thủy (Quan Sơn ngày nay). Để cho Lê Lợi rút về nơi an toàn, các tướng quân Lê Sát, Lê Hào và Chu Kha Lài( ) đã tổ chức mai phục quân Minh ở nhiều nơi, trận đánh tiêu biểu là tại hang Đi (tức hang Phi ngày nay). Trận đánh diễn ra ác liệt, lúc đầu nghĩa quân Lam Sơn thắng, đánh lui quân Minh. Nhưng sau khi nghĩa quân rút về vùng Sơn Thủy để bảo vệ chủ tướng thì quân Minh kéo đến tàn sát nhân dân trong vùng.
Sau khi đến Sơn Thủy, Lê Lợi đã cho quân xây dựng khu vực này thành khu vực phòng thủ vững chắc. Lấy núi Pha Hén và núi Pha Dùa làm cổng chính:
Phá Hén cặp Phá Dùa cái cầu khúa lạn,
Tàng páy kháu xặp lọng lái linh lái tàng,
Tàng khoáng kháu xám ba luông quáng
(Nghĩa là: Núi Hén và núi Dùa bắc cầu qua lại, lối đi vào lắm ngả, nhiều khe, đường vào bên trong rộng hơn ba sải). Hay “Lái sợ mộc dứn óm banh hụa, sợ múa dứn óm banh đáo, cắm táo pưới óm liêng quạng quạng” (Nghĩa là: Nhiều thợ mộc (lính cầm gậy) canh gác vòng ngoài, thợ múa (lính giỏi võ) đứng gác vòng trong, cầm gươm giáo đi vòng quanh vung múa). (“Mộc” trong trường hợp này là người canh gác mà tay cầm gậy, nỏ; Múa là người canh gác tay cầm gươm, giáo).”Mốt mự khá xịp chạng ệt ngai, khá sao khoai ệt pứa, cân páy ma dong lan bí bứa...” (nghĩa là: Một ngày thịt mười voi làm bữa sáng, hai mươi trâu làm bữa trưa, người đi lại như đàn bươm bướm trắng... tức là quân rất đông). Cũng có khi ở khu vực Pha Dùa diễn ra cảnh thanh bình: ”Phú án sứ liếp le đống quáng, phú tán chụ nơ thắm he phá; Chu Kha Lài ngắm đú viếc ngan chớ quáng” (Người đọc truyện dưới tán cây rừng, trai gái tỏ tình nơi chân núi, Chu Kha Lài suy ngẫm biết bao chuyện lớn, lòng bao dung xem dân chúng diễn ra đời thường)( ). 
Trong gia phả họ Hà có ghi: Hà Thị Cai liều mình cứu chủ. Khi quân Minh rượt đuổi, Lê Lợi có nguy cơ bị bắt, Hà Thị Cai đã bày mưu cho Lê Lợi lên sàn nhà nằm giả vờ bị sốt rét, quân lính thì chạy qua suối đi vào phía trong, một số mai phục quanh nhà, còn bản thân Hà Thị Cai thì giả vờ đang giặt váy áo. Khi quân Minh đến hỏi: Có thấy ai chạy qua đây không? Bà Cai thản nhiên trả lời: Có, chúng chạy qua suối kia. Vừa nói, bà vừa chỉ vào suối trước nhà. “Trong nhà có ai không?”. Bà Cai trả lời ngay: “Có thằng con tôi đang bị sốt rét nặng”. Quân Minh kiểm tra thấy người nằm trong chăn run bần bật, nên chúng bỏ đi. Trên cơ sở liên kết các phần trong một số bài mo, bài khặp, Hà Văn Thương đưa ra ý kiến: suối kia có thể là suối Xia. Tại bản Chanh, xã Sơn Thủy, có một hang động tên là Thắm Bo Cúng (hang Mỏ Tôm) có chiều rộng tại cửa hang hơn một mét, càng vào sâu càng rộng, có nơi đến 40m, còn chiều sâu gần 1.000m. Trong dân gian có câu: “Chu Kha Lài (Lò Khằm Ban) phấu púa tý nơ đống quáng, tang páy khấu sặp lạn háng thắm láng lúng” (nghĩa là: Tướng chân lông canh gác bảo vệ vua ở nơi rừng già, đường đi vào hang động đôi khi lạc lối), (Chu Kha Lài là một trong những vị tướng cùng Lê Lợi chống quân Minh). Tại bản Muống, xã Sơn Thủy, nhân dân còn đào được cả trống đồng, xanh bốn quai mà trong truyền thuyết nói rằng nghĩa quân dùng xanh để nấu nước, luộc thịt, nấu cơm cho quân ăn.
Sau khi nghiên cứu kỹ khu vực xã Sơn Thủy, Lê Lợi đã cho một bộ phận xuống canh gác nhất cử nhất động của quân giặc tại khu vực Pha Lò (Sơn Lư) dọc theo sông Lò còn bộ phận chỉ huy thì trú tại hang Su Lú - động Nang Non. “Háng Su Lú tón tang sợc Hán, Háng dú pháng phái nặm Mo án táng páy, khứn háng đáy cái đáy muối chưa ệt me... (Động Su Lú đón đường giặc Hán (giặc nhà Minh); hang lớn ở bên kia sông Lò, lên hang phải bắc thang lấy dây rừng làm cái).
Trong bài ca Mừng Xuân của dân tộc Thái mường Ca Da khi nói về Lam Kinh có đoạn: Nung hót Sân Lam Kinh tăng hánh Bái Thượng/ Mớ cón nặn cặp mớ dam hứng/ Mé mương nị tướng nhớ hôm quấn/ Miếng đín nị tướng Lê hôm cú/ Tánh sợc Minh xịp pí chắng lá/ Khá sợc Hán xịp mua chắng xá/ Quấn bính púa Lê lái pí, lái bướn dác cha lứa khó/ Cân hán chánh chớ hụ báu lái/ Khấu min hớ quấn kín lái chơ báu khắn/ Sợc tón óm banh hụa, tón túa lái phướng/ Phương khấu lái tón tang lái chặn/ Khúng ná háng ấu bạy tón khá quấn hâu tán ơi!/ Nhơ ớn phạ bán hớ long sướng/ Quấn bính hâu hặc sướng cắn chú mương chớ pọm./ Pí cặp nọng long huốm chớ điếu/ Nọng chai yếu Lê Lai tháy cháu/ Ệt dá bá cháu bá tạo tướng nhớ hôm bính/ Tánh sợc Minh lái văn Lê Lai thức ná/ Chạng cặp mạ lái mú liên tái/ Sợc Minh ngắm Lê Lai mén cân pha nha cháu/ Khấu nắm bá Lê Lợi thức ná lê tái/ Kháu chắng ma bái quấn, bái bính hố hiu túa túng...”( ).
Nghĩa là: Nơi đây, tướng lớn gọi bạn/ Tướng tài dựng binh/ Đánh giặc Minh mười năm mới thắng/ Đánh giặc Hán mười mùa mới xong/ Nhiều năm đánh giặc long đong/ Gom người, gom giáo không hoài lòng dân/ Giặc bao vây nhiều tầng, nhiều lớp/ Chúng đón đường nhiều hướng, nhiều phương/ Ơn Trời ban giúp lòng thương/ Trên dưới một lòng chung đường đấu tranh/ Em trai yêu Lê Lai ra sức tung hoành/ Phá vây giặc Hán tan tành nhiều phương/ Lê Lai trúng mũi tên thường/ Giặc Minh tưởng đó Lê Lợi chính thân/ Chúng reo hò vang động trời đất/ Tưởng Lam Sơn sập đất từ đây/ Vua Lê chết yểu nơi này/ Quân Nam tan tác từ rày khó thu (thu quân)...( )
Sự hy sinh của Lê Lai đã tạo ra sự chủ quan, thỏa mãn trong quân Minh, bởi chúng đã nghĩ là Lê Lợi không còn sống. Chính yếu tố này làm cho Lê Lợi có thời gian để lui quân lên vùng núi non, hiểm trở ở vùng mường Mìn, mường Xia và có kế hoạch chiêu mộ quân. Một trong những tướng lĩnh thông thạo địa hình, phong tục tập quán, có ảnh hưởng lớn trong vùng là các tướng: Lê Sát, Lê Hào và nhất là Chu Kha Lài. Họ ra sức tuyển binh, luyện tập và khi nghĩa quân đủ lớn thì cuộc hành quân vào Nghệ An mới bắt đầu. Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân che chở. Rồi nghĩa quân lớn dần, đủ sức phản công. Khi đó quân Minh mới biết là mình bị lừa, nhưng đã muộn( ). Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, giành lại độc lập dân tộc, thu phục được nhân tâm, được đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh ủng hộ.
Ẩn sau lớp huyền thoại xung quanh vùng đất Quan Sơn và khởi nghĩa Lam Sơn, có thể nhận thấy những dấu ấn lịch sử phản ánh về vùng đất này đã có những đóng góp không nhỏ đối với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Anh hùng dân tộc Lê Lợi và Quan Sơn là một trong những địa bàn hoạt động quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn.
Về tướng quân Khằm Ban, (Chu Kha Lài) ông là nhân vật lịch sử. Dù chưa tìm thêm được những nguồn tư liệu mới về ông nhưng có thể khẳng định: Khằm Ban là một vị tướng giỏi của mường Ca Da (vùng đất thuộc huyện Quan Hóa cũ), giữ vai trò quan trọng và có đóng góp đáng kể trong khởi nghĩa Lam Sơn( ). Hiện nay, tại vùng đất mường Ca Da vẫn còn đền thờ tướng quân Khằm Ban. Lễ hội tại đền thờ vị tướng của khởi nghĩa Lam Sơn là một trong những lễ hội lớn của huyện Quan Hóa và các khu vực lân cận.
Đến thế kỷ XVI (những năm 1570 - 1575) trong cuộc chiến giữa hai thế lực Trịnh - Mạc, ven đôi bờ sông Mã vùng tả ngạn sông Mã từ châu Quan Da và châu Tàm (nay là các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Cẩm Thủy) và vùng hữu ngạn sông Mã từ đầu nguồn các huyện Lôi Dương, Nông Cống (nay là các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống) đều trở thành chiến trường ác liệt và mất gần hết về tay quân Bắc triều (quân Mạc lúc bấy giờ). Nhân dân Thanh Hóa nói chung, nhân dân vùng đất Quan Hóa (Quan Sơn hiện nay) sống trong tình cảnh khó khăn phải xiêu tán, chạy loạn, ruộng đất bỏ hoang, nhiều người chết đói.( )
Vào thế kỷ XVIII, bọn Phỉ từ nước Lào tràn sang miền Tây Thanh Hóa cướp phá, xâm lấn châu Quan Da và châu Tàm. Trước hành động dã man tàn bạo của quân thù, người ở Bàn Đào mường Khô Hai Đào đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thổ phỉ giành lại đất đai. Sau đó ông và các con trai cùng nghĩa quân tổ chức phòng thủ vùng biên giới. Ông đã được chúa Trịnh ban tước Hoa Quận công và phong chức Tư Mã trấn ải biên cương( ). Ông đóng đại bản doanh ở mường Xia (xã Sơn Thủy) và mất tại đó. Hiện nay ở bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy có đền thờ Tư Mã Hai Đào.
Trong những năm 30, 40 của thế kỷ XVIII, khi chế độ phong kiến nhà Hậu Lê mục ruỗng và sự phân chia quyền lực cát cứ sâu sắc trong nội bộ triều đình giữa Vua Lê - chúa Trịnh; đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, các cuộc khởi nghĩa nông dân đồng loạt nổi lên. Trong bối cảnh lịch sử rối ren ấy, Lê Duy Mật, Lê Duy Quy con vua Dụ Tông Duy Đường (1706 - 1729) và Lê Duy Chúc con vua Hy Tông Duy Hợp (1676 - 1705) cùng một số triều thần Phạm Công Thế, Vũ Thược, Lại Thế Tế mưu đồ khởi binh cướp kinh thành, lật đổ họ Trịnh khôi phục triều Lê nhưng kế hoạch bị bại lộ, phái Duy Mật và đồng bọn tìm cách trốn thoát và tìm lên miền thượng du và vùng Tây Nam ẩn náu. Tại đây dựa vào lòng oán hận của nhân dân, đặc biệt là những người nông dân nghèo khổ là người Kinh, người Mường, người Thái, Lê Duy Mật đã đưa cuộc chính biến thành một cuộc khởi nghĩa nông dân thực sự.
Sau nhiều lần tấn công quân triều đình, từ địa bàn miền núi phía tây, Duy Mật đã mở rộng địa bàn hoạt động ra Hưng Hóa, Sơn Tây nhưng cuối cùng nghĩa quân của Duy Mật bị quân triều đình truy đuổi phải rút quân về động Cổ Nam.( )
Căn cứ vào các nguồn sử liệu cho biết vùng đất Quan Hóa (cũ), Quan Sơn hiện nay có vị trí chiến lược quan trọng, được thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa chọn làm nơi ẩn náu, tập hợp nghĩa quân.
3.3. QUAN SƠN TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1930
Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, thiết lập nên vương triều Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, tồn tại trong 143 năm và sụp đổ hoàn toàn với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị (năm 1945).
Thời kì nhà Nguyễn trị vì có nhiều biến động. Căn cứ vào diễn trình lịch sử, các nhà sử học đã chia thời kì này thành hai giai đoạn với cột mốc là năm 1858. Từ năm 1858 trở về trước là giai đoạn các vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) toàn quyền điều hành và xây dựng quốc gia theo kiểu Nho giáo. Từ năm 1858 trở về sau (1945), nhà Nguyễn từng bước rơi vào khủng khoảng, mặt khác, phải đối phó với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Sự kiện đáng lưu ý trong giai đoạn này là người đứng đầu triều đình Huế đã lần lượt kí với thực dân phương Tây các bản Hiệp ước Hác-măng (1883), Pa-tơ-nốt (1884), chính thức biến Việt Nam thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Tương ứng với mỗi giai đoạn, tỉnh Thanh Hóa nói chung, huyện Quan Sơn nói riêng đều có sự biến động sâu sắc, toàn diện về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa...
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã có một số điều chỉnh về mặt hành chính. Qua đó, Phú Xuân (Huế) được chọn là kinh đô, vùng đất tương đương với Bắc Bộ ngày nay được gọi là Tổng trấn Bắc Thành. Bộ máy quan lại triều đình được cơ cấu thành 6 bộ: Lại - Hộ - Lễ - Binh - Hình - Công với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Năm 1804, vua Gia Long ra chỉ dụ dời trấn thành Thanh Hóa từ làng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa nay là thành phố Thanh Hóa) về làng Thọ Hạc (huyện Đông Sơn nay thuộc thành phố Thanh Hóa), gọi là Hạc Thành. Thời kỳ này Thanh Hóa gồm có 4 phủ: Hà Trung, Thanh Đô, Tĩnh Gia và Thiệu Thiên, 16 huyện: Tống Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Bình, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Lôi Dương và Thụy Nguyên và 3 châu: Quan Da, Lang Chánh và Tàm. Đứng đầu các phủ, huyện lần lượt là tri phủ và đồng tri phủ, tri huyện và huyện thừa. Vùng đất Quan Sơn lúc này thuộc châu Quan Da, phủ Thanh Đô và châu Lang Chánh, phủ Thọ Xuân.
Việc châu Quan Da được đổi thành Quan Hóa gắn liền với cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng. Theo đó, người đứng đầu nhà Nguyễn bỏ đơn vị tổng trấn, đồng thời thành lập đơn vị tỉnh thay cho dinh, trấn cũ. Theo Trương Hữu Quýnh, tác giả Đại cương Lịch sử Việt Nam thì: nhà Nguyễn đã chia đất nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên (trực thuộc Trung ương). Đứng đầu tỉnh là tổng đốc (mỗi người phụ trách từ 2 đến 3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (cấp dưới tổng đốc, phụ trách 1 tỉnh). Giúp việc có bố chánh sứ ty lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; án sát sứ ty lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn... Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng( ).
Đối với khu vực miền núi, vua Minh Mạng: “thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các thổ ty (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu, huyện. Sau đó (năm 1835), Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan”(2).
Đối với Quan Sơn, trong cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, năm 1829, nhà vua đã hợp nhất châu Quan Da với châu Tàm thành châu Quan Hóa. Người đứng đầu bộ máy hành chính cấp “châu” được gọi là tri châu. Lúc này, Quan Sơn thuộc châu Quan Hóa với những đặc trưng về bộ máy cai trị của các châu huyện miền núi cả nước. Năm 1835 (Minh Mệnh thứ 6), triều đình Huế bỏ chế độ thổ quan, thay bằng chế độ lưu quan. Các châu: Quan Hóa, Lang Chánh đặt chế độ châu lưu quan. Các huyện: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng An đặt chế độ lưu quan.
Đơn vị hành chính dưới cấp “châu” là các bản (đối với người Thái), mường (đối với người Mường). Đứng đầu các bản, mường lần lượt là Phìa, Tạo. Theo Địa chí Thanh Hóa, “trước năm 1945 ở miền núi Thanh Hóa có khoảng 37 bản, mường của người Thái, người Mường có khoảng 38 mường lớn(3) và nhiều chòm bản các tộc người thiểu số khác như: Khơ mú, Dao, Mông.
Nhìn chung, nhà Nguyễn với những sách lược trị quốc an dân lạc hậu, lỗi thời đã khiến tiềm lực đất nước suy yếu rất nhiều. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã cay đắng thốt lên: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ”. Thuế khóa, lao dịch nặng nề khiến nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi.
Tại miền núi phía tây Thanh Hóa, một số thổ ty, lang đạo ở Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất thuộc huyện Quan Sơn hiện nay), Lang Chánh, Cẩm Thủy đã nổi dậy, lãnh đạo nhân dân chống bọn tham quan. Trong đó, đáng chú ý là cuộc nổi dậy của nhân dân lao động châu Quan Hóa. “Quân khởi nghĩa đã giết chết tri châu Quan Hóa, mở rộng cuộc khởi nghĩa ra khắp miền Tây Thanh Hóa”( ). Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa sớm bị triều đình Huế đàn áp.
Nhìn chung, những thập niên đầu của “kỷ nhà Nguyễn”, vùng đất châu Quan Hóa chứng kiến khá nhiều biến động: Năm Minh Mạng thứ 17, tức năm 1836, Quách Tất Công, Quách Tất Đạt nổi lên liên kết với thủ lĩnh người Mường là Phạm Thúc Liêm ở Cẩm Thủy, Lang Chánh tôn Lê Duy Hiển làm minh chủ. Cuối năm này, nghĩa quân đã đánh Hồ Quân (châu lỵ Quan Hóa) giết tri châu Hồ Tố Thiện. Cũng tại châu Quan Hóa, một nhóm khác là Quách Phúc Thanh, Đinh Kim Bảng, Phạm Công Nho, Hồ Công Kim, Phạm Bá Nho đã khởi nghĩa vây Hồi Xuân, bắt giết tri châu Tô Danh Cẩn. Cuộc khởi nghĩa lan rộng đến các vùng Lôi Dương, Thụy Nguyên, Nông Cống. Để đối phó, triều đình đã cử Trương Đăng Quý phối hợp với tổng đốc Thanh Hóa, Sơn Tây đem quân đi đánh dẹp rất vất vả. Phải hai năm sau (năm 1838), khi Lê Duy Hiển bị bắt về kinh, cuộc “nổi loạn” tạm lắng( ).
Trong khi kinh tế - xã hội Việt Nam đang ngày một khủng hoảng và suy vi trầm trọng, nền “văn hóa bút nghiên phương Đông” lại phải đối mặt với “văn hóa đại bác phương Tây” và “trong cuộc đụng độ lịch sử này... dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh nô lệ đầy tủi nhục đến gần một thế kỷ”( ).
Cuộc khủng hoảng sâu, rộng về nhiều mặt của nhà Nguyễn đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm. Trong bối cảnh rối ren đó, xã hội Việt Nam đã xuất hiện hai “dòng cứu nước”: dòng kháng chiến và dòng canh tân.
Người đứng đầu chủ trương kháng chiến là Tôn Thất Thuyết. Mặc dù sự chuẩn bị chưa thật sự đầy đủ nhưng ông quyết định chủ động tấn công thực dân Pháp để giành thế chủ động. Tuy nhiên, trước sự phản công mạnh mẽ của đối phương, Tôn Thất Thuyết buộc phải đưa vua Hàm Nghi rời cung điện. Trên đường xuất bôn, Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hai lần hạ chiếu Cần vương vào ngày 13/7/1885, tại Tân Sở - Quảng Trị và ngày 20 tháng 9 cùng năm (tại sơn phòng Ấu Sơn - Hương Khê - Hà Tĩnh. Chiếu Cần vương tập trung vào hai nội dung: tố cáo dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và kêu gọi văn thân, sỹ phu cả nước nổi dậy đánh đuổi thực dân, bảo vệ quê hương, đất nước.
Hưởng ứng chiếu Cần vương, phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp đã bùng lên mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Thanh Hóa là một trong những địa phương có phong trào phát triển mạnh mẽ nhất, đã hình thành các đội nghĩa quân của Tống Duy Tân và Cao Điển, Đinh Công Tráng và Phạm Bành. Trong phong trào Cần Vương chống Pháp, Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm của phong trào với cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Cuộc khởi nghĩa với căn cứ Ba Đình đã trở thành mẫu mực trong việc xây dựng chiến tuyến phòng ngự khiến người Pháp hết sức e ngại: “Trong chiến dịch 1886 - 1887, cuộc công hãm Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhất”( ). 
Nhân vật lịch sử được xem là người đặt nền móng cho phong trào Cần vương ở Thanh Hóa là Trần Xuân Soạn. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa còn không ít các nghĩa sỹ yêu nước hoạt động tại các khu vực khác như: Nguyễn Phương (Nông Cống), Tống Duy Tân (Vĩnh Lộc), Nguyễn Đôn Tiết (Hoằng Hóa), Hoàng Bật Đạt (Hậu Lộc). Phong trào còn có sự tham gia của các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số như Cầm Bá Thước (người Thái), Hà Văn Mao (người Mường), hoạt động tại khu vực miền núi Thanh Hóa.
Trong phong trào Cần vương ở Thanh Hóa, không thể không ghi nhận sự đóng góp của đồng bào các dân tộc khu vực miền núi phía tây tỉnh Thanh Hóa (bao gồm cả vùng đất Quan Sơn nói riêng và châu Quan Hóa nói chung). Đóng góp của người dân nơi đây thể hiện trên nhiều phương diện mà cụ thể là trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh.
Căn cứ Hùng Lĩnh được xây dựng năm 1886 - khá muộn so với các cuộc khởi nghĩa khác( ) - trên vùng đất thuộc huyện Vĩnh Lộc, sau khi hai căn cứ: Ba Đình và Mã Cao thất thủ. Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa là Tống Duy Tân cùng Cao Điển và Cầm Bá Thước.
Năm 1886, Đinh Công Tráng giao cho Tống Duy Tân và Cao Điển tìm cứ điểm xây dựng căn cứ nhằm hỗ trợ cho căn cứ Ba Đình. Tống Duy Tân đã lựa chọn cứ điểm Phi Lai( ) ở huyện Hà Trung, ngoài ra, ông còn lập một cứ điểm khác tại quê nhà là Hùng Lĩnh( ) - vùng đất thuộc huyện Vĩnh Lộc, nơi thượng nguồn sông Mã.
Năm 1887, phong trào Cần vương ở Thanh Hóa bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội, chiến khu Ba Đình, Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ, các thủ lĩnh của phong trào hoặc anh dũng hy sinh (các trường hợp Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng), hoặc tự sát để bảo toàn khí tiết (Hà Văn Mao, Phạm Bành...). Riêng Trần Xuân Soạn tìm đường sang Long Châu (Quảng Tây - Trung Quốc)( ). Tình thế hiểm nghèo lúc bấy giờ đã khiến Tống Duy Tân đi một nước cờ táo bạo: dựa vào địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hóa và các nghĩa sĩ yêu nước người dân tộc thiểu số để tiếp tục duy trì cuộc khởi nghĩa. Tống Duy Tân đã đem quân ngược dòng Mã Giang, xây dựng một trung tâm kháng chiến mới: căn cứ Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa).
Dưới sự chỉ huy của Tống Duy Tân cùng hai cộng sự Cầm Bá Thước và Cao Điển, từ căn cứ Hùng Lĩnh, nghĩa quân đã phát triển lực lượng và tạo ảnh hưởng lớn lao đến các địa phương lân cận. Tại châu Quan Hóa (cũ) - bao gồm cả vùng đất Quan Sơn ngày nay, một thủ lĩnh người Mường là Hà Văn Nho cũng đã nổi dậy chống Pháp. Thủ lĩnh Hà Văn Nho đã có sự liên hệ với những thủ lĩnh của khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Giữa hai bên đã có sự hợp đồng tác chiến nhất định.
Được sự ủng hộ và có sự liên kết với các cuộc khởi nghĩa trong tỉnh (Tôn Thất Hàn - Nông Cống, Hà Văn Nho - châu Quan Hóa) và ngoài tỉnh (Đốc Ngữ - vùng hạ lưu sông Đà, Phan Đình Phùng - vùng Nghệ An, Hà Tĩnh), khởi nghĩa Hùng Lĩnh đã gây cho Pháp những thiệt hại đáng kể về quân sự mà điển hình nghĩa quân đã đập tan âm mưu thăm dò của trưởng đồn ở Nông Cống là Thiếu úy Morfond cùng 4 lính Pháp và 20 lính khố xanh, ngày mùng 8 tháng 10 năm 1889, Morfond và 4 lính Pháp, 4 lính khố xanh tử trận.
Sau thắng lợi này, nghĩa quân Hùng Lĩnh còn nhiều lần đụng độ với quân Pháp. Trận đánh nào nghĩa quân Hùng Lĩnh cũng anh dũng kiên cường chiến đấu nhưng do lực lượng quá chênh lệch (thủ lĩnh Tống Duy Tân phải nhiều lần rút lui để bảo toàn lực lượng), khởi nghĩa Hùng Lĩnh suy yếu dần. Tống Duy Tân bị địch bắt ngày 4 tháng 10 năm 1892, khởi nghĩa Hùng Lĩnh xem như chính thức chấm dứt( ).
Sử sách không chép nhiều về Hà Văn Nho, chỉ biết rằng ông còn được gọi là Cai Nho người tổng Thiết Ống, là người trực tiếp xây dựng cơ sở kháng chiến tại mường Kỷ. Tuy nhiên, từ căn cứ Mường Kỷ, Hà Văn Nho đã phát triển cơ sở ra các địa phương lân cận trong đó vùng đất Quan Hóa (cũ) được Hà Văn Nho lựa chọn làm địa bàn chiến lược.
Hoạt động yêu nước của Hà Văn Nho trên vùng đất châu Quan Hóa (gồm ba huyện: Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát hiện tại) không được đề cập nhiều trong chính sử song căn cứ vào diễn biến khởi nghĩa Hùng Lĩnh, có thể khẳng định: Hà Văn Nho đã tập hợp được một lực lượng đáng kể, chủ yếu là quần chúng và nhân dân lao động Quan Hóa đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, góp một phần không nhỏ vào phong trào Cần vương ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.
Sau khi khởi nghĩa Hùng Lĩnh bị dập tắt, phong trào Cần vương ở Việt Nam tiếp tục được duy trì đến năm 1896 và chấm dứt bằng thất bại của khởi nghĩa Hương Khê.
Mặc dù không đi đến thắng lợi cuối cùng nhưng phong trào Cần vương vẫn là một điểm sáng đáng được ca ngợi trong lịch sử chiến đấu vì độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc của sĩ phu và nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào ghi nhận những tấm gương quả cảm, chiến đấu quên mình, bất chấp những cuộc đàn áp tàn khốc, đẫm máu của kẻ thù. Trong đó, không thể không ghi nhận và đánh giá cao sự phát triển của phong trào ở Thanh Hóa.
Phong trào Cần vương ở Thanh Hóa phát triển trên cả diện rộng lẫn chiều sâu với quy mô ngày càng toàn diện, lớn mạnh. Phong trào thu hút đông đảo nhân dân lao động và sĩ phu yêu nước trong tỉnh, cả ở đồng bằng, miền biển cũng như miền núi. 
Nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn tự hào vì cha anh đã tích cực hưởng ứng phong trào Cần vương, tự nguyện tham gia kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Hà Văn Nho, Hà Văn Mao - những người con ưu tú của vùng rừng núi Thanh Hóa. Nối tiếp truyền thống yêu nước của các thế hệ đi trước những người con ưu tú của vùng đất Quan Sơn lại tiếp tục rèn trí, luyện tài, tập hợp lực lượng quần chúng để chuẩn bị bước vào thời kỳ mới đấu tranh chống lại bọn thực dân phong kiến.
Những năm đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào Cần vương bị thất bại ở Thanh Hóa, đã xuất hiện những cuộc vận động yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản. Những nhà thơ yêu nước tiến bộ trong tỉnh như: Nguyễn Xứng, Nguyễn Soạn, Nguyễn Lợi Thiệp... đã vận động nhân dân ủng hộ các phong trào yêu nước như: phong trào chống thuế Trung kỳ (1908); phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục... Tuy nhiên, chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn các phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra bước ngoặt quyết định đối với quá trình phát triển của cách mạng dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước ở nước ta đầu thế kỷ XX.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn, là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử nước ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và có đủ sức lãnh đạo cách mạng”( ).
Với đồng bào các dân tộc Quan Sơn nói chung, dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa và cả nước nói chung, Đảng khẳng định: lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn... Phải nỗ lực tổ chức quần chúng lao động các dân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liên minh... Cần tổ chức và chỉ đạo công nông và các tầng lớp lao động khác trong các dân tộc thiểu số bênh vực quyền lợi hàng ngày của họ. Kịch liệt chống các sách lược áp bức và bóc lột của đế quốc, vua quan, các bọn lãnh tụ và tù trưởng, các quan lang, lý hào trong các dân tộc thiểu số, liên lạc vận động giải phóng trong các dân tộc thiểu số với những nhiệm vụ cách mạng phản đế và điền địa Đông Dương”( ). 
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tác động mạnh mẽ tới phong trào yêu nước ở các địa phương trong cả nước, trong đó có Thanh Hóa. Dưới lý tưởng của Đảng, ngày 25 tháng 6 năm 1930, tại làng Hàm Hạ (xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn), chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Thanh Hóa được thành lập. Tiếp đến là Chi bộ Thiệu Hóa (ngày 10 tháng 7 năm 1930), chi bộ Thọ Xuân (ngày 22 tháng 7 năm 1930)( )...
Ngày 29 tháng 7 năm 1930, tại xã Yên Trường (huyện Thọ Xuân) diễn ra Hội nghị thành lập tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa. Tại Hội nghị, các đại biểu đã thống nhất được nhiều chủ trương quan trọng như: xây dựng các tổ chức Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Thanh niên cộng sản đoàn, Phụ nữ giải phóng xuất bản báo “Tiến lên” làm cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập có ý nghĩa rất lớn trong diễn trình lịch sử tỉnh Thanh Hóa, từ đây, nhân dân Thanh Hóa đã có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa để giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau khi hoàn thành công cuộc bình định trên đất Thanh Hóa và dập tắt phong trào Cần vương, thực dân Pháp chính thức đặt chân lên đất Quan Hóa (trong đó có cả vùng đất Quan Sơn hiện nay). Kẻ thù thực dân đã thông qua chính quyền phong kiến phản động, bù nhìn của Việt Nam để điều hành và kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhằm thực hiện âm mưu bóc lột, vơ vét tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân nơi đây.
Để chống lại bọn thực dân và thổ ty, lang đạo độc ác, tham lam, một số cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ đã lẻ tẻ nổ ra. Người dân Quan Sơn đã yêu cầu tầng lớp thống trị bãi bỏ các hình thức đi phiên hầu, phục dịch, đấu tranh đòi tư liệu sản xuất... Tuy các cuộc đấu tranh này chưa trở thành phong trào nhưng những chuyển động này đã khẳng định “bước chuyển” mạnh mẽ trong tư tưởng của đồng bào các dân tộc Quan Sơn.
3.4. QUAN SƠN TỪ NĂM 1930 ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Giai đoạn này, huyện Quan Sơn chưa tách thành đơn vị hành chính (cấp huyện) độc lập, do vậy lịch sử huyện Quan Sơn gắn liền với những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hóa huyện Quan Hóa( ).
Tổ chức xã hội ở Quan Hóa lúc này lần lượt là mường, pọng, bản (mường Mò, mường Sại, mường Ca Da, mường Lát). Đứng đầu mường, pọng, bản là quan lang (còn gọi là Tạo mường, Tạo pọng, Tạo bản), rồi đến Tạo cai, sau đó đến Mụ mường, Mụ cai, Hó Luống, Hó Cáng, Chá Hươn, Chá Ngan( )... Tạo mường là người chủ độc nhất và tuyệt đối trong mường. Những chức vụ quan trọng nhất đều trong tay họ lang nắm giữ. Trước kia các thổ ty phần lớn đều thuộc một số dòng họ cai quản.
Về đơn vị hành chính, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quan Hóa có 8 tổng, 21 mường, gồm: mường Ca Da, mường Ánh, mường Le, mường Páng (tổng Phú Lệ); mường Lát, mường Lý, mường Ái, mường Chiềng Công (tổng Lực Canh); mường Tuồng, mường Chự (tổng Cổ Nam); mường Pùng, mường Xim, mường Chanh (tổng Quang Chiểu); mường Sại, mường Mò, mường Hạ (tổng Tam Lư); mường Xia, mường Cha (tổng Hữu Thủy); mường Mìn (tổng Hữu Sơn); mường Khằng, mường Khiết (tổng Đặc Kiệt)( ).
Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính huyện Quan Sơn hiện nay có 4 tổng, 7 mường gồm: Tổng Cổ Nam (mường Chự) nay gồm các xã Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Trung Tiến( ); tổng Nam Lư (gồm mường Hạ, mường Sại, mường Mò) nay gồm các xã: Sơn Lư; thị trấn Quan Sơn, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh; tổng Hữu Sơn (có Mường Mìn) nay là các xã: Mường Mìn; Sơn Điện; tổng Hữu Thủy (gồm Mường Xia, mường Cha) nay là các xã Sơn Thủy, Na Mèo( ).
Bộ máy phong kiến độc quyền ở Quan Hóa lúc này gồm: tri châu, chánh tổng, lý trưởng, hương hạ, hương kiểm, hương dịch, tạo pọng, quan bản, xã góp. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), vua xuống dụ, đặt các thổ ty dưới quyền kiểm soát của các chánh tổng, thực chất là sự hợp pháp hóa vai trò của thổ ty tập trung quyền lực vào chính trung ương. Trong khi đó, từ tổng đến các làng, bản, chúng còn thiết lập một hệ thống kiểm soát nghiệt ngã. Đứng đầu hệ thống này là viên đại lý người Pháp thường gọi là Quan Đại dưới đó là các đội lính và đội ngũ cha cố trong nhà thờ. Tòa Đại lý Quan Hóa đóng tại Hồi Xuân trực tiếp cai quản bộ máy phong kiến quan lang và thông qua bọn này để thực hiện các chính sách bóc lột, đàn áp dân lành. Được thực dân Pháp dung túng chính quyền phong kiến và bọn thổ ty lang đạo mặc sức lộng quyền, Chúng tự mệnh danh là “Con trời” thuộc “lớp thượng đẳng” có quyền cai trị “lớp hạ đẳng”( ).
Thực dân Pháp còn tích cực truyền giáo. Thiên chúa giáo đã xuất hiện trên vùng đất này, nhiều nhà thờ được mọc lên. Cùng với đội ngũ thầy mo, thầy cúng, phù thủy đông đảo, đời sống tinh thần của nhân dân Quan Sơn nói riêng, Quan Hóa nói chung luôn bị che phủ bởi những thế lực siêu nhiên. Từ năm 1876, sau cuộc tấn công Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dựng một số nhà thờ tại Quan Hóa như: nhà thờ Chiềng Din (thuộc xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn hiện nay); Hua Tâu (xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa), Xia Cang (xã Sơn Thủy).
Song song với các hoạt động này, thực dân Pháp còn cấu kết với thổ ty, lang đạo và bộ máy phong kiến quan liêu, bóc lột nhân dân lao động đến cùng cực.
Dưới ách áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, đời sống của nhân dân các dân tộc Quan Hóa vô cùng đói khổ. Đó là chưa kể đến đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc nơi đây còn rất thấp kém, gần như hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, đa số đồng bào dân tộc đều quen và giữ tập quán du canh, du cư; công cụ lao động không được cải tiến. Nhiều nơi nhân dân không biết cày bừa và sử dụng trâu, bò làm sức kéo, không biết dùng phân bón và làm thủy lợi. Tất cả đều làm bằng cơ bắp của con người, mùa màng được hay mất hoàn toàn lệ thuộc và thiên nhiên. Bị đói khổ, bệnh tật, người dân Quan Hóa (bao gồm cả Quan Sơn hiện tại) còn bị những luật lệ cổ hủ hàng bao đời nay trói buộc, như: cờ bạc, ma chay, đình đám, cung phụng, hầu hạ và làm tớ cho lang đạo, càng đẩy người dân địa phương vào cảnh tối tăm tủi nhục( ).
Từ sau cao trào dân chủ 1936 - 1939, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân các dân tộc, báo hiệu một thời kỳ mới trong lịch sử các dân tộc thiểu số. 
Từ cuối năm 1940 đến đầu năm 1941, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình cách mạng thế giới và trong nước, những người Cộng sản Thanh Hóa chủ trương thành lập chiến khu cách mạng từ Tây - Bắc đến Đông - Nam chủ yếu là vùng rừng núi và bán sơn địa Thanh Hóa. Đây là thời cơ tốt để nhân dân các dân tộc miền núi đóng góp sức lực của mình cho cách mạng( ). Đến cuối năm 1941, tại 6 châu miền núi (Như Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước và Quan Hóa) đã bắt đầu hình thành những đốm lửa cách mạng. 
Những tư tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đã truyền bá rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân lao động ở miền xuôi cũng như miền ngược, thức tỉnh tinh thần dân tộc và ý thức giai cấp của quảng đại quần chúng đang sống nghẹt thở dưới ách thống trị của đế quốc phong kiến. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa nói chung Quan Sơn nói riêng đã vùng dậy mạnh mẽ nhanh chóng hòa vào không khí cách mạng đang hừng hực dâng cao trong cả nước.
Trong không khí sôi nổi, hào hùng của Mùa thu tháng Tám, tại tỉnh Thanh Hóa, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Thanh Hóa đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được phát đi trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng Tám năm 1945. Chỉ vài ngày sau (21 tháng Tám năm 1945), nhân dân thành phố Thanh Hóa, các huyện miền xuôi và hai huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy đã thành lập được chính quyền dân chủ nhân dân. Ngày 23 - 8 - 1945, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa - Lê Tất Đắc đã đọc bản Tuyên bố, công bố chương trình hành động của Việt Minh. 
Với các châu, huyện miền núi Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa chủ trương: “Không thể tiến hành giành chính quyền như các huyện miền xuôi. Cần có sách lược khôn khéo mềm dẻo, đánh lui từng bước, giành thắng lợi từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Đi đôi với quá trình tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng để quần chúng tự đứng lên làm chủ vận mệnh của mình”( ). 
Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa đã triệu tập đội ngũ tri châu miền núi, tuyên bố xóa bỏ hệ thống chính quyền cũ. Ủy ban đã giải thích cho các tri châu về đường lối của Đảng, của Hồ Chủ tịch về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và việc thành lập chính quyền cách mạng mới. Ủy ban khẳng định sẵn sàng sử dụng những lang đạo, thổ ty có tinh thần yêu nước. Sau khi hiểu rõ về đường lối, chủ trương của Đảng, ý thức rõ về phong trào cách mạng đang lên, tri châu các châu Thường Xuân, Ngọc Lặc... đã tự nguyện từ bỏ chính quyền cũ. 
Diễn biến cách mạng ở khu vực miền núi Thanh Hóa lúc này vẫn rất phức tạp. Do bản chất ngoan cố, hiếu thắng, tri châu Bá Thước là Hà Công Thắng đã đưa tay sai xuống huyện Cẩm Thủy, kết bè đảng với tri huyện Cẩm Thủy (Sầm Văn Kim) chống lại cách mạng. Sau khi Sầm Văn Kim bỏ trốn, Hà Công Thắng đã chiếm huyện đường, xưng là “Huyện trưởng”.
Tuy nhiên, phong trào cách mạng ở Thanh Hóa lúc này phát triển rất mạnh. Lực lượng cách mạng các huyện Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc sau khi hạ đồn Phong Ý đã tấn công vào huyện lỵ Cẩm Thủy. Tháo chạy khỏi Cẩm Thủy, Hà Công Thắng cùng tay chân đã kéo về Điền Lư (Bá Thước), tiếp tục dụ dỗ thổ ty, lang đạo chiếm châu lỵ Tân Hóa. Nhằm khống chế vùng rừng núi phía Tây, Hà Công Thắng đã tấn công châu Quan Hóa, bắt trói Phạm Bá Ngọc - Tri châu Quan Hóa. Những hoạt động quấy phá của Hà Công Thắng đã gây cho cách mạng không ít tổn thất, việc thành lập chính quyền ở châu Tân Hóa gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, Đảng bộ Thanh Hóa đề ra chủ trương: “Trước mắt, cán bộ phải ra sức tuyên truyền giác ngộ cho đồng bào thiểu số nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với chế độ mới, để họ tự đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Đồng thời phải phân hóa, lôi kéo những thổ ty, lang đạo nhỏ, ít phản động đứng về phía nhân dân, đấu tranh vạch mặt bọn tri châu, thổ ty, lang đạo ngoan cố, phản động; buộc chúng phải giao lại chính quyền cho lực lượng cách mạng”( ). 
Sự chỉ đạo khôn khéo song không khoan nhượng của Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa đã đưa đến thắng lợi cuối cùng. Tháng 10 năm 1945, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời châu Tân Hóa chính thức thành lập.
Cuối tháng 9 năm 1945, Đoàn Cán bộ của tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Tuần Dũng phụ trách đã có mặt ở Quan Hóa. Cũng trong thời gian này, Tỉnh ủy cử một đơn vị Vệ quốc đoàn lên Quan Hóa phối hợp với nhân dân trấn áp những hoạt động phá hoại của bọn phản động, bảo vệ chính quyền, duy trì an ninh trật tự.
Các đồng chí Tuần Dũng, Lê Đình Sự đã tổ chức Hội nghị hiệp thương ở Hồi Xuân (phố huyện Quan Hóa hiện nay). Tham dự Hội nghị có đại biểu các xã và các mường trong huyện. Tại Hội nghị này, đồng chí Tuần Dũng đã vạch trần thủ đoạn lừa bịp của Hà Công Thắng, đồng thời phổ biến chủ trương cách mạng của Đảng đến nhân dân Quan Hóa. Các đại biểu đã rất phấn khởi và tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, vào Chính phủ. Mọi người đồng tâm tuyên bố xóa bỏ bộ máy chính quyền của Hà Công Thắng và thành lập Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa gồm các ông: Phạm Bá Ngọt (Chủ tịch), Lê Đình Sự (Phó Chủ tịch) cùng một số ủy viên. Đồng chí Tuần Dũng được Hội nghị cử làm Cố vấn. Đây là sự kiện có ý nghĩa rất trọng đại: lần đầu tiên chính quyền cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng được thành lập ở Quan Hóa( ).
Ngày 3/10/1945, Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa đã ra mắt nhân dân. Ủy ban đã cử cán bộ về các xã, mường thành lập chính quyền nhân dân. Ban Việt Minh, Ban Bình dân học vụ, Ban Công an, Ban Quân sự, Ban Tăng gia sản xuất... lần lượt được thành lập. Từ đó Ủy ban xúc tiến việc thành lập các đoàn thể chính trị như: Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc...
Đến tháng 11 năm 1945, nhìn chung, công việc xây dựng chính quyền cách mạng, lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng ở Quan Hóa về cơ bản đã hoàn thành. 
3.5. QUAN SƠN TRONG THỜI KỲ 1945 - 1995
3.5.1. Quan Sơn trong thời kỳ xây dựng hậu phương và trực tiếp chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Thời kỳ này, ở Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất huyện Quan Sơn ngày nay), âm mưu chống lại Đảng, chống lại cách mạng của bọn lang đạo ngày càng trắng trợn và điên cuồng. Mặc dù bên ngoài chúng vẫn lấy tư cách là người đại diện cho nhân dân liên hệ với cán bộ của Đảng, tiếp nhận chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, nhưng thực chất bên trong, bọn lang đạo tìm đủ mọi cách để chống lại. Cụ thể là khi Đảng ta có chủ trương phát động “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng”, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, khắc phục khó khăn trước mắt, bọn phản động đã trắng trợn xuyên tạc chủ trương đúng đắn của Đảng, xúi bẩy quần chúng, khống chế người đi quyên góp, khi thấy không thể lung lạc được sự nhiệt tình và sự kiên định của đông đảo nhân dân, chúng lại tìm cách biển thủ số vàng và đồng mà nhân dân đã quyên góp. Thái độ thù địch điên cuồng của chúng còn thể hiện trắng trợn trong dịp Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (ngày mùng 6 tháng 1 năm 1946). Trước và trong ngày bầu cử, bọn phản động lồng lộn phá rối. Chúng tung tin đồn nhảm reo rắc tâm lý nghi kỵ, nói xấu Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ở nhiều nơi, chúng dọa nạt cử tri, làm rối loạn trật tự trị an xung quanh bàn bỏ phiếu, khống chế những phần tử tích cực. Rốt cục, những âm mưu phá hoại cuộc Tổng tuyển cử của chúng đã bị thất bại, hơn 80% cử tri trong toàn huyện đã tham gia bỏ phiếu( ).
Phong trào cách mạng ở Quan Hóa thời kì này gặp muôn vàn khó khăn: Chính quyền non trẻ có lúc bị tê liệt hoàn toàn. Bọn thổ ty, lang đạo đã lợi dụng danh nghĩa chính quyền cách mạng quấy phá ở từng cơ sở xã, mường. Các tổ chức quần chúng thành lập chưa được củng cố đã bị địch thao túng. Lực lượng vũ trang địa phương vừa mới ra đời đã bị chúng lợi dụng, làm suy yếu và biến thành một đội quân phục dịch hầu hạ chúng... Một số không ít những người bị sa ngã trước lời dụ dỗ đường mật và sự đe dọa trắng trợn của kẻ thù.
Trong hoàn cảnh hết sức nghiêm trọng và phức tạp ấy, cán bộ, chiến sỹ và những quần chúng đã giác ngộ cách mạng vẫn không hề nao núng và chùn bước, họ đã vượt qua gian khổ, thách thức khắc nghiệt, kiên trì bám dân, giải thích, vận động quần chúng giữ vững đội ngũ trong các tổ chức, thực hiện đầy đủ chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ. Nhân dân các dân tộc Quan Sơn đã hưởng ứng nhiệt tình cuộc vận động của Đảng và Bác Hồ. Ngay sau khi được nghe cán bộ giải thích mục đích, ý nghĩa cuộc vận động “Tuần lễ vàng”, đông đảo nhân dân đã mang đến trao tận tay cán bộ và chiến sỹ ta những vật dụng có giá trị như nồi, xanh, vàng, bạc... 
Các phong trào, hành động diệt giặc đói, giặc dốt cũng được triển khai trên diện rộng và đạt được những thành tích nhất định.
Sau này cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã quyết định thành lập Ủy ban Thượng du và cử cán bộ các huyện miền xuôi lên chỉ đạo xây dựng chính quyền ở 6 châu miền núi. Ngày 4 tháng 4 năm 1947, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41SL, thành lập Ủy ban Hành chính đặc biệt Thượng du tỉnh Thanh Hóa để giúp Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa giải quyết các công việc ở 6 châu thượng du, động viên dân chúng tăng gia sản xuất và phát triển bình dân học vụ, tổ chức nhân dân kháng chiến.
Tháng 6 năm 1947, bọn địch đưa 100 tên, trong đó có 15 tên Pháp từ nước Lào sang tăng cường cho đồn Hồi Xuân, mở rộng phạm vi chiếm đóng. Nắm được âm mưu của địch, Ban Quân sự huyện Quan Hóa trực tiếp chỉ huy đơn vị dân quân du kích xã Hồi Xuân phục kích địch ở Na Ca Sắm và Kéo Háng Hen (xã Nam Xuân huyện Quan Hóa)( ) với quyết tâm phá tan cuộc hành quân chi viện của chúng. Với chiến thuật phục kích bất ngờ, dân quân xã Hồi Xuân đã tiêu diệt 2 lính Pháp, 31 lính ngụy và làm bị thương một số tên khác, cánh quân địch tiếp viện cho đồn Hồi Xuân bị bẻ gãy hoàn toàn. Thắng lợi này rất có ý nghĩa đối với đồng bào các dân tộc Quan Hóa, Quan Sơn góp phần động viên, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến, đồng thời càng tăng cường thêm niềm tin vào khả năng diệt địch, thắng địch bằng vũ khí thô sơ.
Tháng 7 - 1947, nắm được thông tin địch tổ chức một cuộc càn quét trên tuyến đường từ đồn mường Xia (xã Sơn Thủy)( ) đến đồn Pọng Nưa (xã Hiền Kiệt, Quan Hóa), lực lượng du kích xã Thiên Phủ (Quan Hóa) đã chủ động chặn đánh địch, diệt 6 lính Pháp.
Nhận thấy rõ vị trí chiến lược quan trọng của các huyện thượng du Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ I (tháng 2 năm 1948) đã ra Nghị quyết về công tác Thượng du và nêu quyết tâm “Thượng du thắng là Thanh Hóa thắng”( ).
Đầu tháng 7 năm 1947, đồng chí Đặng Việt Châu, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa đã có mặt tại Quan Hóa để kiểm tra tình hình và chỉ đạo chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang của tỉnh đã phối hợp với dân quân các xã Hồi Xuân, Nam Xuân, Phú Nghiêm, Nam Động, sử dụng cách đánh nghi binh, bao vây, tiêu diệt đồn Hồi Xuân. Ngày 11/8/1947, địch đã phải rút chạy khỏi Hồi Xuân. Sau sự kiện lịch sử oanh liệt này, Ủy ban kháng chiến tỉnh đã quyết định thành lập Ban dân quân Thượng du do Ủy ban Kháng chiến - Hành chính trực tiếp lãnh đạo. Phong trào xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có bước chuyển biến mới: huyện Quan Hóa đã có 1 trung đội chủ lực tập trung, ngoài ra còn có Đại đội Cầm Bá Thước; mỗi xã trong huyện có 1 đơn vị du kích tập trung và mỗi bản đều có thôn đội( ).
Huyện Quan Sơn (hiện tại) trở thành địa điểm chiến lược thời điểm này: sau khi tháo chạy, địch co cụm về phía Tây, lập thêm đồn trại Vạn Mai (Hòa Bình), mường Xim, Pom Cút, mường Lát, mường Xia và Na Mèo, nuôi dưỡng ý đồ tấn công vào vùng tự do Thanh Hóa, chia cắt quan hệ kháng chiến giữa Việt Nam với nước Lào.
Để thực hiện mưu đồ ấy, địch nhanh chóng xây dựng đội ngũ tay sai đắc lực làm chỗ dựa để nắm dân, kiểm soát đất đai, rừng núi, biến các xã, bản phía tây huyện Quan Hóa (bao gồm hầu hết địa phận huyện Quan Sơn ngày nay) thành “thánh địa” bất khả xâm phạm. Phạm Bá Thơ - tên tay sai được thực dân Pháp nuôi dưỡng, dạy dỗ, chỉ bảo, đã hăng hái lập bè đảng, cấu kết với Lò Khâm Thi và một số tên phản động ở Sầm Nưa (Lào) chuẩn bị cho việc thành lập xứ Thái tự trị. Ở những nơi chiếm đóng, địch bắt nhân dân ta xây dựng đồn bốt, trại lính, hầm hào kiên cố. Trong mỗi vị trí chiếm đóng, chúng thường xuyên duy trì lực lượng từ 60 đến 100 tên. Đi đôi với việc xây dựng đồn lũy, chúng ráo riết dồn dân lập ấp, thực hiện chính sách bình định tàn khốc. Ở đồn Pọng Nưa (xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa ngày nay), chúng bắt gần 100 gia đình dời làng, bản, đến tập trung quanh đồn. Ở mường Xia, chúng cưỡng ép dân thành lập 3 khu: khu Tân Lập có hơn 30 hộ, khu Pom Vực có hơn 30 hộ và khu làng Muống có 10 hộ. Ở những nơi này, bọn Pháp đã chỉ đạo tay sai ở địa phương lập hộ tịch, hộ khẩu và kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của nhân dân; đồng thời từng bước khôi phục bộ máy thống trị cũ từ xã đến làng, bản; đưa những tên tay sai đắc lực nhất lên nắm quyền hành. Khi bộ máy chính quyền phản động được dựng lên, cả “thầy” lẫn “tớ” đều ra sức bóc lột nhân dân. Nhiều làng bản trở nên xơ xác, tiêu điều. Chúng kìm kẹp nhân dân, người dân nào bị tình nghi lập tức bị chúng bắt lên đồn tra tấn hết sức dã man. Không chỉ có vậy, chúng còn dụ dỗ những người nhẹ dạ cả tin, khuyên họ từ bỏ hàng ngũ cách mạng ( ).
Ở những vùng giáp ranh, địch thường xuyên mở những cuộc càn quét quấy rối, thẳng tay chém giết đồng bào vô tội, trong đó có cả người già, đàn bà và trẻ em. Chúng ngang nhiên đốt nhà, cướp của, hãm hiếp phụ nữ. Ngoài ra, địch còn tìm mọi cách mua chuộc cán bộ của ta, nói xấu Đảng, Nhà nước, ca ngợi Pháp, ca ngợi Bảo Đại. Nham hiểm hơn, ở các nơi giáp ranh này, địch dùng bọn thổ phỉ trá hàng, để đưa tay chân vào các tổ chức Đảng, chính quyền nhằm phá hoại tận gốc lực lượng kháng chiến. Trên các tuyến đường thủy, địch tổ chức từng toán phục kích, đánh úp thuyền, mảng, phá hoại kho tàng của kháng chiến.
Được sự hậu thuẫn của thực dân, Phạm Bá Thơ và Lò Khâm Thi đã lập ra cái gọi là “Liên bang Thái tự trị” nhằm kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chia rẽ lực lượng kháng chiến. Đáng tiếc là không ít quần chúng thiếu hiểu biết đã tin vào luận điệu xảo quyệt của địch, vì vậy, không lâu sau, “Liên bang Thái tự trị” đã biến thành “Liên bang Thái Bắc - Trung Việt” hoạt động trên phạm vi rất rộng lớn, từ Tây - Bắc Nghệ An đến Thanh Hóa, lên Sơn La, Hòa Bình và suốt dọc biên giới Việt - Lào( ).
Nhằm chủ động đối phó với âm mưu của địch, đầu năm 1948, Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định thành lập Ban miền Tây, cử 200 cán bộ dày dặn kinh nghiệm thay mặt Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Thanh Hóa trực tiếp lãnh đạo công cuộc kháng chiến ở miền Tây tỉnh Thanh Hóa. Trung đoàn 77 quyết định điều 3 đại đội: Đại đội 138, Đại đội 72 và Đại đội 78 tăng cường lên Quan Hóa, Bá Thước(2).
Ngay sau khi được thành lập, Ban miền Tây đã cử đoàn cán bộ gồm 8 đồng chí (Nguyễn Hoàn, Trần Đảng, Trương Đạc, Phạm Minh Do(3), Bùi Văn Cây, Trương Ngọc Quế, Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Xuân Kỳ) lên Quan Hóa hoạt động. Tình hình huyện Quan Hóa lúc này đang có nhiều phức tạp. Một số người có tư tưởng dao động đã cấu kết và chấp nhận làm tay sai, chỉ điểm cho địch. Để ứng phó với tình hình, ngày 5/3/1948, Đoàn cán bộ đã thành lập Chi bộ 53 Quan Hóa, do đồng chí Nguyễn Hoàn làm Bí thư, đồng chí Trần Đảng làm Phó Bí thư. 
Ngay sau khi thành lập, Chi bộ 53 đã có kế hoạch “bám dân, “bám bản”, kiên trì giải thích cho nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, vạch trần những luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn bịp bợm, mỵ dân của bọn phản cách mạng, tố cáo và phán xét bọn phản bội. Nhiệm vụ không kém phần quan trọng đối với cán bộ, đảng viên Chi bộ 53 là vạch rõ thực chất của tổ chức “Liên bang Thái” cùng các tổ chức cấp dưới: “Ủy ban bình định”, “Chiến khu con đỉa”, “Quân đội Thái tự do”. Không chỉ có vậy, Chi bộ 53 đã dựa vào những phần tử tích cực, tổ chức cho quần chúng tham gia các phong trào thi đua kháng chiến, khôi phục và củng cố các đơn vị dân quân du kích và các đoàn thể cứu quốc( ). Kết quả là Chi bộ 53 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra: tư tưởng quần chúng nhân dân từng bước được ổn định; những cơ sở trước đây bị bọn phản động thao túng, lợi dụng nay được củng cố lại; một số phần tử phản động giấu mặt bị loại khỏi bộ máy lãnh đạo của huyện.
Quan Hóa lúc này tạm thời hình thành hai vùng: Vùng tạm chiếm bao gồm các xã ven biên giới Việt - Lào (gồm nhiều xã của huyện Quan Sơn hiện tại), do địch khống chế; Vùng tự do có Đoàn cán bộ công tác Miền Tây của tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo hoạt động. Đoàn võ trang tuyên truyền công tác Miền Tây Liên khu III, sau khi làm việc với Ban miền Tây Thanh Hóa, đã để lại một lực lượng nhỏ ở vùng tự do phối hợp với cán bộ Ban miền Tây, còn lại phần lớn đưa về vùng địch tạm chiếm, hoạt động ngay trong lòng địch. Tại vùng địch tạm chiếm, đa số người dân chưa hiểu rõ bản chất của địch, chưa nhận thức đúng về cách mạng. Bởi vậy, nhiệm vụ của các chiến sĩ võ trang là rất nặng nề. Tuy nhiên, họ không nề hà gian khổ, hiểm nguy, lặn lội đến từng gia đình, thân mật trò chuyện với người già, gần gũi với trẻ nhỏ, giúp dân sinh hoạt. Ý chí cách mạng chói ngời của các chiến sĩ vũ trang đã thuyết phục được đa số nhân dân, từ chỗ không muốn tiếp xúc với cán bộ, chiến sỹ ta, nhiều đồng chí đã tạo được niềm tin, được nhân dân quý mến như người thân trong gia đình. Đây là thắng lợi rất quan trọng của cách mạng; từ chỗ thờ ơ, lạnh nhạt với kháng chiến, nhân dân đã chủ động tìm đến cán bộ, chiến sỹ, che chở, đùm bọc và tạo mọi điều kiện cho đơn vị hoạt động. Nhờ đó công tác củng cố cơ sở, xây dựng và phát triển lực lượng đã thu được kết quả nhất định.
Sự hiện diện của Đoàn Vũ trang tuyên truyền Liên khu III và Ban miền Tây đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua ái quốc phát triển mạnh trên địa bàn huyện Quan Hóa. Khí thế cách mạng của đồng bào các dân tộc Quan Hóa sôi nổi hẳn lên. Ngay khi Trung ương Đảng có chủ trương mở cuộc vận động mua “công trái kháng chiến”, nhân dân Quan Hóa đã hưởng ứng tích cực. Hàng trăm gia đình cán bộ, chiến sỹ dân quân du kích đã gương mẫu đi đầu. Kết quả là chỉ sau một thời gian ngắn, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã mua được 50.000 đồng và 20 tạ gạo( ).
Tháng 10 năm 1948, Ban miền Tây Thanh Hóa tổ chức Hội nghị tại Bá Thước để kiểm điểm kết quả công tác, đúc rút kinh nghiệm. Hội nghị này có sự tham dự của đại biểu đơn vị võ trang tuyên truyền công tác Miền Tây Liên khu III. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết thành lập Hội kháng chiến gọi tắt là “H.K.C” để tập hợp giáo dục và rèn luyện những người kiên trung, ưu tú tạo điều kiện cho công tác kết nạp đảng viên trong huyện.
Được sự hướng dẫn, tổ chức của Ban miền Tây và đơn vị võ trang tuyên truyền Liên Khu III, lực lượng dân quân du kích địa phương đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Ở huyện Quan Hóa đã có một trung đội gồm 97 người, được trang bị 1 khẩu súng trường, 50 quả lựu đạn, 11 quả mìn và 20 súng hỏa mai, vừa làm nhiệm vụ luyện tập quân sự, vừa tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực. Từng xã đều có đơn vị du kích tập trung 40 - 50 người. Có thể nói rằng, sau một thời gian tích cực hoạt động, Đoàn Cán bộ Ban miền Tây và Đoàn Võ trang tuyên truyền Liên khu III đã xây dựng được một lực lượng võ trang địa phương đông đảo, hình thành hệ thống chặt chẽ từ huyện đến cơ sở. Đến tháng 6 năm 1949, toàn huyện Quan Hóa có 1.509 chiến sỹ dân quân du kích, được trang bị 156 súng hỏa mai, súng kíp, 509 quả mìn và lựu đạn, 30 quả bom. Song song với việc tập luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng vũ trang Quan Hóa còn tham gia sản xuất trên diện tích 3 mẫu ruộng, gieo được 200 thúng lúa rẫy.
Thực hiện chủ trương của Đảng, các đảng viên trong Chi bộ 53 đã tổ chức tuyên truyền giác ngộ những quần chúng tích cực để kết nạp vào Đảng. Đến cuối năm 1949, toàn huyện có 2 chi bộ (Phú Lệ và Thiên Phủ), 7 tổ đảng với 42 đảng viên.
Để thống nhất chỉ đạo phong trào cách mạng Quan Hóa, ngày 28 - 3 - 1950, Tỉnh ủy Thanh Hóa ủy nhiệm cho Ban miền Tây ra quyết định thành lập Đảng bộ huyện Quan Hóa. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lâm thời gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Đảng làm Bí thư kiêm chính trị viên Huyện đội. Tỉnh ủy đã giao cho Ban Chấp hành lâm thời chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất.
Sau khi ra đời, Đảng bộ lâm thời huyện Quan Hóa đã bắt tay ngay vào hoạt động, thúc đẩy phong trào cách mạng của địa phương tiến lên một bước mới. Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ lâm thời Quan Hóa, bộ đội chủ lực đã phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích xã Sơn Thủy, Sơn Điện, Tam Chung, Quang Chiểu tấn công địch ở một số địa điểm như: mường Xia, mường Lát gây cho địch nhiều tổn thất, đẩy chúng vào thế đối phó bị động.
Tháng 4 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quan Hóa lần thứ nhất khai mạc trọng thể tại chòm Muống (xã Trung Xuân, thuộc huyện Quan Sơn hiện nay). Về dự Đại hội có 30 đại biểu là những chiến sĩ cách mạng và đại diện nhân dân các dân tộc Quan Hóa. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 7 đồng chí, đồng chí Trần Đảng được bầu làm Bí thư Huyện ủy( ).
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy, đồng bào các dân tộc Quan Hóa, Quan Sơn đã tích cực hưởng ứng 3 cuộc vận động lớn do Đảng, Bác Hồ phát động:
Cuộc vận động bán lúa khao quân của Hồ Chí Minh (tháng 8 năm 1949), toàn huyện đã bán được 150 tạ thóc.
Cuộc vận động ủng hộ bộ đội địa phương và góp quỹ đảm phụ quốc phòng - huyện thu được 155 tạ thóc. Nhiều nơi, nhân dân còn ủng hộ cả gia cầm, gia súc; quyên góp cho Quỹ đảm phụ quốc phòng 144.110 đồng.
Cuộc vận động mua Công trái Quốc gia (tháng 12 năm 1950), toàn huyện mua được 1.556 phiếu loại A với số tiền là 1.489.000 đồng( ).
Từ sau chiến thắng Biên giới thu đông năm 1950 đến đầu năm 1951, những cuộc đấu tranh chính trị, tố giác và phát giác bọn Việt gian phản động đã diễn ra quyết liệt ở các xã Trung Thành, Phú Lệ (thuộc huyện Quan Hóa), Trung Hạ (thuộc huyện Quan Sơn hiện nay), Hồi Xuân (thuộc huyện Quan Hóa). Quần chúng đã phát hiện ra nhiều tổ chức và hang ổ của bọn phản động; những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất cũng bị quần chúng phát giác và bị loại trừ khỏi Đảng. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với cách mạng được củng cố, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của nhân dân được tăng cường. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng tạo nên sức mạnh, góp phần đập tan những cuộc càn quét của địch( ). 
Song song với những trận đánh địch càn quét, quân dân Quan Hóa còn liên tiếp mở nhiều cuộc tiến công táo bạo vào tận sào huyệt của bọn phản động. Trong cuộc vận động tiễu phỉ đợt một, huyện Quan Hóa được tỉnh xác định là địa bàn trọng điểm gồm các xã: Tam Lư, Sơn Thủy (thuộc huyện Quan Sơn ngày nay), Hiền Kiệt (huyện Quan Hóa ngày nay). Chỉ trong vòng hơn ba tháng, phần lớn bọn phản động, phỉ, ngụy đã bị phát giác và vây bắt. Tháng 10 năm 1952, dân quân du kích xã Hồi Xuân bao vây và bắt gọn bọn phỉ ở chòm Mướp. Cuối năm 1952, nhiệm vụ tiễu phỉ ở Miền Tây Thanh Hóa nói chung và Quan Hóa nói riêng nhìn chung đã thắng lợi. Địa bàn miền núi được xây dựng vững chắc, chuẩn bị mọi điều kiện phục vụ các chiến dịch. Tình hình trị an vùng biên giới từng bước ổn định, nhân dân các dân tộc trong huyện phấn khởi, yên tâm sản xuất và phục vụ kháng chiến( ).
Trong chiến dịch Thượng Lào năm 1953, các huyện Bá Thước, Quan Hóa, Lang Chánh là những vị trí chiến lược trên đường mòn chi viện cho chiến trường nước bạn Lào. Với tinh thần “giúp nhân dân nước bạn Lào là tự giúp mình”, tỉnh Thanh Hóa đã huy động 99.897 dân công dài hạn, 41.703 dân công ngắn hạn, 2.000 xe đạp thồ, 180 con ngựa thồ, 8 ô tô, 1.300 thuyền phục vụ chiến dịch; cung cấp cho nhân dân Lào 8.000 tấn gạo, 6.000 tấn muối, 1.000 con dao, 3.100 chiếc rìu, 5.000 chiếc thuổng; cùng nhân dân tỉnh Nghệ An giúp nước bạn 1.000 tấn lương thực, 15.000 xếp giấy. Trong chiến dịch này, Thanh Hóa đã vận chuyển vượt kế hoạch 1.200 tấn hàng hóa, đảm bảo 70% nhu cầu của chiến dịch( ).
Kết thúc chiến dịch, nhân dân Thanh Hóa đã được Bác Hồ trao tặng cờ “Phục vụ tiền tuyến khá nhất”, trong thành tích chung ấy có đóng góp không nhỏ của đồng bào các dân tộc huyện Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất Quan Sơn hiện nay).
Những ngày cuối tháng 4 năm 1954, chiến trường Điện Biên Phủ diễn ra rất ác liệt; kẻ thù trong cơn giãy chết càng điên cuồng hơn. Vì vậy, trong khi chúng ta đang tập trung sức lực phục vụ tiền tuyến, Tỉnh ủy Thanh Hóa vẫn chú trọng đến mặt trận trấn áp bọn phản cách mạng đang chờ thời cơ nổi loạn phá hoại. Tỉnh ủy chủ trương phát động đợt tiễu phỉ trừ gian đợt 2. Các đồng chí Lê Công Oánh và các chiến sỹ của Ty Công an lại tiếp tục lên đường. Tỉnh cũng huy động thêm hai Đại đội bộ đội địa phương 188 và 136 lên Quan Hóa bảo vệ biên giới và phối hợp với chiến sỹ an ninh trấn áp bọn phản cách mạng. Đoàn cán bộ tiễu phỉ trừ gian của huyện Quan Hóa do đồng chí Nguyễn Xuân Lâm, Huyện ủy viên, chính trị viên huyện đội phụ trách( ).
Ngày 7/5/1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, đã cổ vũ phong trào quần chúng tiễu phỉ trừ gian tiến lên mạnh mẽ. Tháng 8 năm 1954, là đỉnh cao của những đợt truy quét đó và được đánh dấu bằng các đợt tiễu phỉ trừ gian sau: 
 - Ngày 4/8/1954, đánh vào vị trí bản Kiên, Hua Nua, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và truy kích địch lên mường Chắt, thu nhiều vũ khí và quân dụng.
- Ngày 6/8/1954, tấn công bản Ánh, nơi ẩn náu của gần 100 tên phỉ, bắt sống 9 tên, thu 14 súng, tiêu diệt 1 tên.
- Ngày 9/8/1954, đánh 2 trận vào gần bản Khắt, diệt và làm bị thương 50 tên, buộc 60 tên ra hàng.
- Ngày 12/8/1954, bắt 27 tên, thu 21 súng trường, 3 súng trung liên, 2 tên ra hàng mang theo 1 trung liên, 1 tiểu liên, 1 súng trường.
- Ngày 18/8/1954, đánh vào Sốp Phưa, trước sự tấn công của ta, địch đã chủ động rút vào rừng nhưng quân ta tiếp tục bao vây, 20 tên địch đã ra hàng, mang theo 60 súng trường, 2 trung liên. Tiếp đó, quân ta còn đánh vào mường Pao, bắt và quy hàng 300 tên, mang theo 300 súng các loại. Ở Sầm Tớ, quân ta gọi hàng 200 tên. Tên chỉ huy căn cứ mường Pao là Thoong Văn bị bắt sống( ). 
Mặc dù phải thường xuyên đương đầu với bọn phản cách mạng, nhân dân các dân tộc Quan Hóa với truyền thống lao động cần cù và tinh thần yêu nước tha thiết, đã phấn đấu đến mức cao nhất để đóng góp cho các chiến trường như: Tây Bắc, Thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ và làm tròn nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào.
3.5.2. Quan Sơn trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Cũng như các giai đoạn 1930 - 1945; 1945 - 1954, trong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, huyện Quan Sơn chưa tách thành đơn vị hành chính (cấp huyện) độc lập, do vậy lịch sử huyện Quan Sơn gắn liền với những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của huyện Quan Hóa.
Giai đoạn 1954 - 1960
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Căm-pu-chia; đồng thời mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam.
Vào thời điểm này, huyện Quan Hóa có 12 xã, gồm 184 chòm lớn, 524 chòm nhỏ. Dân số 33.562 người, trong đó người Kinh: 740 người; Mường: 181 người; Thái: 24.827 người. Mọi( ) 5.807 người; Mông: 1.235 người; Dao: 304 người; Khơ Mú: 160 người; Hoa kiều: 250 người; Lào kiều: 95 người. Ruộng đất có 1.698 mẫu 6 sào, bình quân mỗi khẩu 7 thước, rẫy có 3.239 mẫu. 
Về chính trị, cuối năm 1955 ở các xã: Tam Lư, Quang Chiểu, Tam Chung đã có 34 gia đình gồm 155 khẩu dịch cư sang các xã giáp biên giới Lào. Tay chân do địch cài cắm lại dụ dỗ một số phần tử xấu đánh phá mương, phai (ở Hồi Xuân, Phú Lệ, Phú Nghiêm), chém giết trâu, bò, thả trâu bò ăn mạ của đồng bào; đốt phá nhà cửa của nhân dân (riêng xã Tam Chung có 6 vụ); chúng còn dùng nước sôi ngâm giống để chống phá cải tiến kỹ thuật sản xuất của ta...
Về kinh tế, do tác động của chiến tranh nên ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, đồng thời với kỹ thuật canh tác vô cùng lạc hậu cho nên năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi đều rất thấp kém. Tình hình nạn đói cuối năm 1954 đầu năm 1955 chưa giải quyết được. Giữa năm 1956, khi đội “vận động đoàn kết sản xuất” vừa rút đi thì bọn phản động lập tức trở lại hoạt động. Chúng ra sức chống phá làm ảnh hưởng tới thành quả cách mạng nhân dân mới giành được. Bên cạnh đó, vụ đông năm 1955 lại rét đậm, số đồng bào vùng cao biên giới không chỉ bị đói còn thiệt mạng vì rét. Bên cạnh đó, đội ngũ thầy mo, thầy cúng ra sức lừa bịp nhân dân bằng các hủ tục cúng bái, “trừ ma” lạc hậu.
Về văn hóa xã hội: lúc này ở Quan Hóa có 3 ngôn ngữ: chữ Quốc ngữ (chưa nhiều người biết); chữ Thái (chủ yếu là người Thái); chữ Hán của người Mán, người Dao khiến việc trao đổi, giao tiếp rất khó khăn. Toàn huyện có 9/12 xã có trường học. Đồng bào vùng cao như dân tộc Khơ Mú có 10 người biết đọc bập bẹ, người Mông vào thời điểm này mới bắt đầu tổ chức lớp. Cả huyện chỉ có 288 học sinh từ lớp 1 trở lên( ). 
Trước tình hình đó, trung tuần tháng 7 năm 1955, Ủy ban Hành chính tỉnh mở Đại hội để triển khai phong trào thi đua sản xuất chống đói ở 7 huyện Thượng du. Đại hội đã xây dựng đề án và thảo luận kế hoạch đẩy mạnh sản xuất miền núi. Đại hội đề ra phương châm cơ bản:
 - Kết hợp giải quyết đời sống cho nhân dân trước mắt, hiện nay với việc kiến thiết lâu dài.
 - Tận dụng mọi khả năng về trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng để cải thiện đời sống cho đồng bào.
 - Xây dựng quan điểm “ăn của rừng phải nuôi rừng”. Chủ trương sản xuất cụ thể với từng vùng. Đại hội chỉ rõ:
Thứ nhất, ở vùng thấp (các dân tộc: Thái, Mường, hoạt động kinh tế chính là lúa ruộng, làm rẫy trồng hoa màu và chăn nuôi trâu, bò, gà vịt; lâm thổ sản có gỗ, tre, luồng, nứa; nghề phụ phổ biến là nghề dệt) phải tập trung tăng vụ nhằm phát triển lúa Nam Ninh. Ngoài ra, trên các ruộng cao phải trồng ngô, khoai, kê, sắn. Đồng thời đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò. Đàn gia súc phải có người chăn dắt, có chuồng, mùa rét chuồng phải khô, cho ăn đầy đủ, đảm bảo lượng gia súc nuôi sống phải đạt tỉ lệ 75%.
Thứ hai, ở vùng cao (các dân tộc: Khơ Mú, Dao, hoạt động kinh tế chính hàng năm là ngô và lúa rẫy, thủ công nghiệp kém phát triển) phải phát triển các hoa màu có sẵn như: ngô, sắn, trồng gối lúa để chống đói. Ngoài ra cần chú ý mua lâm sản; chú trọng nguồn lúa cứu đói vào tháng ba, tháng tư và tháng bảy, tháng tám. Vận động người dân không nên phát rẫy tập trung liền khu quá nhiều vì sẽ gây ra tình trạng đất trống đồi trọc, hạn hán và lũ quét. Khai thác kết hợp với bảo vệ lâm sản rừng như: rừng sa nhân, rừng có củ nâu, rừng có nhiều gỗ tốt. Tuy nhiên, canh tác trên rẫy là sự canh tác thô sơ, lạc hậu, đời sống vẫn bấp bênh cần chuyển hướng đồng bào về làm ruộng hay định canh nhưng không cưỡng bức.
Thứ ba, với vùng đồng bào sống về rẫy du canh (chủ yếu là khu vực cư trú của đồng bào Mông, thu hoạch chính là ngô, trồng lúa rẫy, chăn nuôi lợn, gà nhiều; nghề phụ có nghề dệt, nghề rèn và trồng thuốc phiện) cần tập trung giải quyết lương thực, nguồn nước sinh hoạt và trang phục. Đồng thời trồng thêm nhiều hoa màu và phát triển trồng lúa mì, mạch, củ lỗ... giải quyết việc tiêu phụ sản phẩm, đồng thời khuyến khích phát triển chăn nuôi.
Thứ tư, cần phục hồi nghề dệt vải lanh để tự túc trang phục.
Thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế do Trung ương đề ra, từ sau Đại hội, tại 7 huyện Thượng du, một mặt, Đảng bộ động viên đồng bào các dân tộc tích cực khai hoang phục hồi phát triển sản xuất, mặt khác động viên các tầng lớp nhân dân tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Với những nỗ lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc, về cơ bản, đến cuối năm 1955, Quan Hóa đã khắc phục được nạn đói, được giữ Cờ luân lưu do có thành tích “vượt khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, trấn áp địch”, các xã: Hiền Kiệt, Sơn Thủy( ) được tặng Bằng khen.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 và 7 (khóa II) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã phát động đồng bào các dân tộc trong tỉnh thi đua sản xuất, tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện các mục tiêu cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Tỉnh ủy Thanh Hóa trong chương trình sản xuất đã chọn 12 xã làm điểm chỉ đạo, trong đó riêng Quan Hóa có 8 xã là: Tam Chung, Quang Chiểu, Hiền Kiệt, Trung Thành, Thiên Phủ, Sơn Thủy, Tam Lư, Trung Hạ (một số xã nay thuộc huyện Quan Sơn). Mỗi xã trọng điểm được ưu tiên 7 cán bộ tăng cường của tỉnh. Huyện ủy đã tổ chức cho nhân dân học tập nội dung cơ bản của cuộc vận động, thành lập ở mỗi xã một đội “đoàn kết sản xuất”. Đến tháng 5 năm 1956, Đoàn cán bộ của Tỉnh sau khi ổn định tình hình đã rút khỏi địa phương, phong trào khai hoang, phục hóa được Đảng bộ huyện và các chi bộ xã chủ động đẩy mạnh trên toàn địa bàn( ).
Sau 3 năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (từ năm 1955 đến năm 1957), sản xuất nông nghiệp của huyện Quan Hóa được phục hồi . Trong khi chưa có điều kiện phát triển công nghiệp, Huyện ủy đã chủ trương khuyến khích phục hồi và phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp. Ban miền Tây, Huyện ủy đã tìm những người có tay nghề giỏi ở các chòm, bản động viên tiếp tục sản xuất những nông cụ cầm tay, do đó các lò rèn ở vùng cao biên giới được mở lại. Một số nghề truyền thống như dệt vải lanh, đồ mộc, làm giấy... từng bước hoạt động trở lại.
Cùng với việc tăng gia sản xuất, Huyện ủy Quan Hóa còn phát động nhân dân làm đường giao thông. Tỉnh ủy chỉ đạo thi công tuyến đường 217A (Thanh Hóa - Na Mèo) - đây là một trong những tuyến giao thông quan trọng nhất của huyện Quan Sơn ngày nay. Cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã tham gia rất tích cực, góp phần nhanh chóng thông xe tuyến đường dài 92 km nối liền Việt Nam với nước bạn Lào. Ngoài ra các xã đã chú ý sửa chữa, mở rộng các đường liên thôn, liên bản, liên xã.
Các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế cũng được quan tâm và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Thực hiện chủ chương của Tỉnh ủy và Ban Cán sự miền Tây, tháng 1 năm 1958, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ II chính thức khai mạc tại Pom Co Hương, bản Khằm, xã Hồi Xuân (cũ)( ). Tham dự đại hội có 95 đảng viên từ 6 chi bộ xã và 2 chi bộ cơ quan.
Năm 1958, sản xuất nông nghiệp bị thiên tai đe dọa, hạn hán kéo dài, đói kém ở vùng biên giới rất trầm trọng nhưng nhân dân Quan Hóa đã nỗ lực phấn đấu, hạn chế được một phần thiệt hại do thiên tai gây ra. Cùng với phong trào đổi công, hoạt động của ngành Thương nghiệp cũng có chuyển biến theo hướng đẩy mạnh bán lẻ, hạn chế bán buôn, đảm bảo một số lượng lớn hàng hóa cần dùng cho nhân dân. Các tổ bán hàng ở Tam Lư được thành lập, các tổ ở Tam Chung, Nam Động, Sơn Thủy được cung cấp thêm hàng hóa... Nhờ đó, thị trường đã được bình ổn.
Về văn hóa - xã hội, phong trào bình dân học vụ được đẩy mạnh hơn, phong trào vệ sinh phòng bệnh cũng có những bước tiến mới, người dân đã tự giác đi tiêm phòng. 
Tháng 4 năm 1959, Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã ra Nghị quyết về hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc. Đối với các địa phương miền núi, ngày 28/8/1959, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 156 - CT/TW về việc tiến hành “Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ”. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, ngày 21 tháng 9 năm 1959, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã triệu tập Hội nghị cán bộ chủ chốt của 7 huyện miền núi để quán triệt tư tưởng. Các cấp ủy đảng đã nhận thức đúng đắn đây là cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện nhằm xóa bỏ triệt để quan hệ xã hội cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới, đưa nhân dân các dân tộc từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tỉnh ủy đã chọn 4 xã trong đó có xã Sơn Thủy (Quan Hóa)( )để làm thí điểm, đồng thời điều động cho các huyện miền núi 200 cán bộ, kết hợp với Ban Cán sự Miền Tây và các cấp ủy địa phương tiến hành thực hiện.
Trên cơ sở nắm vững những khó khăn, thuận lợi và đặc điểm dân tộc ở Quan Hóa, Tỉnh ủy đã xác định tư tưởng chỉ đạo trong cuộc vận động: Nâng cao giác ngộ giai cấp, giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, làm cho mọi người phân biệt rõ hai chế độ, phân rõ ranh giới giữa địa chủ và nông dân, giữa lao động và bóc lột, nâng cao cảnh giác, phân biệt bạn - thù, đề cao khí thế của bần, cố nông và trung nông lớp dưới. Quán triệt tư tưởng đó, Huyện ủy Quan Hóa đã nêu cao tinh thần cách mạng, sáng tạo vạch ra phương pháp phù hợp với điều kiện của huyện.
Sau khi rút kinh nghiệm ở xã điểm Sơn Thủy, ngày 27/3/1960, Huyện ủy Quan Hóa đã tiến hành thực hiện cải cách dân chủ trên toàn huyện. Cuộc vận động đã làm tốt công tác tuyên truyền, nhờ đó quần chúng đã phân được ranh giới giữa người bóc lột với người bị bóc lột, giữa kinh tế tập thể với kinh tế cá thể. Với đặc điểm của một huyện miền núi (không phân định thành phần giai cấp rõ rệt như miền xuôi), nhưng Đảng bộ, chính quyền đã tiến hành giáo dục, cải tạo, xử lý tài sản của 31 địa chủ (5 địa chủ cường hào, 17 địa chủ phản động, 19 địa chủ kháng chiến). Số tài sản thực thu được đã chia cho 105 hộ bần nông và trung nông lớp dưới( ).
Về hợp tác hóa phát triển sản xuất, qua học tập, đồng bào các dân tộc đã thấy những ưu điểm và con đường tất yếu của nông dân lúc này là làm ăn tập thể, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kết quả toàn huyện Quan Hóa đã thành lập được 75 hợp tác xã cấp thấp với 1.746 hộ, gồm 11.859 nhân khẩu, 736 mẫu ruộng, 3.907 con trâu: xã Phú Nghiêm đạt cao nhất huyện (85%), sau đó đến Thiên Phủ (71%)...( ).
Các chủ trương: xây dựng tổ đổi công, thành lập Hợp tác xã tín dụng, Hợp tác xã mua bán đều thu được thắng lợi rất khả quan. Nhìn chung, đến tháng 3 năm 1961, huyện Quan Hóa đã hoàn thành các cuộc vận động. Không những thế, trong 3 năm: 1958 - 1960, huyện đã vận động hàng chục gia đình vùng cao biên giới định canh, định cư. Năm 1959, Ty Y tế đã thành lập trạm xá ở Mường Lát, Sơn Thủy... Cũng thời gian này, hàng trăm người dân đã được xóa mù chữ, tới năm 1960, hầu như tất cả các xã trong huyện đã có trường cấp I.
Từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 6 năm 1960, Đảng bộ huyện Quan Hóa đã tiến hành Đại hội lần thứ III tại Piềng Thớ, bản Khằm, xã Hồi Xuân. Đại hội có 76 đại biểu tham dự, Ban Chấp hành mới gồm 11 đồng chí chính thức và 2 đồng chí dự khuyết. Đồng chí Trịnh Tôn được bầu làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Vi Văn Êu được giao nhiệm vụ Phó Bí thư phụ trách chính quyền( ).
Giai đoạn 1961 - 1975
Từ năm 1961 đến năm 1965, trước khi bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, diễn ra từ ngày 5 - 10/9/1960 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, văn hóa (1961 - 1965).
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, từ ngày 25/2 đến 5/3/1961, Đảng bộ Thanh Hóa đã tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V. Tháng 5 năm 1961, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phát động phong trào thi đua trong toàn tỉnh. Với khu vực miền núi, Tỉnh ủy quyết định giải thể “Ban cán sự Miền Tây” và “Ủy ban hành chính đặc biệt Thượng du”, thành lập “Ban chỉ đạo công tác Miền Tây”. Cũng trong thời gian nay, Tỉnh quyết định thành lập “Công ty Tổ hợp miền núi” ở Na Mèo, Tam Chung, Hồi Xuân( ).
Ở Quan Sơn nói riêng và Quan Hóa nói chung, giai đoạn này có nhiều sự kiện quan trọng:
Đảng bộ huyện Quan Hóa tiến hành Đại hội lần thứ IV (từ 22 đến 23 tháng 02 năm 1962). Đại hội thẳng thắn kiểm điểm những hạn chế trên các lĩnh vực trong nhiệm kỳ III, Đại hội đã đề ra các nhiệm vụ trong nhiệm kỳ là: phát triển các HTX nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và chăm lo cải thiện đời sống nhân dân.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV gồm 1 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lương Văn Họi được bầu làm Bí thư, đồng chí Vi Văn Êu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Về địa lý hành chính, giai đoạn này, huyện Quan Hóa có một số điều chỉnh. Ngày 11/2/1963, thực hiện Quyết định số 30 - CP của Hội đồng Chính Phủ, 3 xã: Tam Chung, Sơn Thủy, Trung Thành được chia thành 7 xã mới( ). Đến cuối năm 1965, huyện Quan Hóa có 16 xã với 41.635 nhân khẩu.
Trong hoàn cảnh một huyện miền núi: nhận thức của người dân chưa cao, ruộng đất canh tác phân tán, sản xuất nông nghiệp trong 2 năm 1962 - 1963 liên tục bị thiên tai, sâu bệnh nhưng đồng bào các dân tộc Quan Hóa vẫn vững niềm tin vào mô hình kinh tế tập thể. Nhờ đó, diện tích trồng trọt bình quân hàng năm vẫn tăng 6,3%, sản lượng lương thực giữ mức ổn định của năm 1961.
Từ năm 1961, địch đã cho máy bay xâm nhập vùng trời Quan Hóa. Đến tháng 5 năm 1962 một chiếc máy bay Mỹ - Ngụy thả biệt kích xuống Pù Cọ (xã Trung Hạ thuộc huyện Quan Sơn ngày nay). Bước sang năm 1964, đặc biệt là những tháng cuối năm, hầu như ngày nào máy bay và tàu chiến của địch đều xâm phạm vùng biển, vùng trời Thanh Hóa. 
Ngày 14/3/1964, Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập hệ thống tổ chức chỉ đạo phòng không nhân dân các cấp và thành lập Phân đội pháo binh dân quân và súng máy cao xạ ở các huyện Quan Hóa, Ngọc Lặc... Tiếp đó, tháng 5 năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết về công tác quân sự địa phương, nêu rõ nhiệm vụ cụ thể: tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tổ chức phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh công tác bảo vệ trị an, phòng chống gián điệp, biệt kích... Trên cơ sở đó, công tác chuẩn bị chiến đấu được Huyện ủy chỉ đạo thực hiện hết sức khẩn trương. Qua đó, phương án tác chiến ở các xã được thiết lập, nhiều cán bộ được cử đi dự các lớp huấn luyện quân sự; công tác phòng tránh chiến tranh được Huyện ủy chú trọng, dọc theo các tuyến đường 15A và 217, các cơ quan, kho tàng, trường học, bệnh viện, bệnh xá... đều được tổ chức sơ tán. Đối với lực lượng dân quân tự vệ, Huyện đã chỉ đạo phát triển thêm 454 dân quân tự vệ (năm 1965), trong đó có 148 nữ dân quân( ). 
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ V được tiến hành từ ngày 2/10/1964 tại xã Hồi Xuân. Đồng chí Trịnh Thuân, Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban miền Tây thay mặt Tỉnh ủy về dự và chỉ đạo Đại hội. Đại hội đã đánh giá những kết quả bước đầu và thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại yếu kém trong nhiệm kỳ IV; đồng thời đề ra các mục tiêu chủ yếu cần phấn đấu trong nhiệm kỳ mới và phát động phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội. Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa mới gồm 19 ủy viên, Ban Thường vụ Huyện ủy 5 đồng chí, đồng chí Lương Văn Họi được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Ban được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền( ); đồng chí Hà Văn Cao, Phó Bí thư trực Đảng.
Từ năm 1965 đến năm 1968, đây là giai đoạn cùng với đồng bào các dân tộc Quan Hóa, nhân dân Quan Sơn vừa sản xuất, vừa chiến đấu góp phần đánh thắng “chiến tranh Cục bộ” của đế quốc Mỹ.
Trên mặt trận quân sự, từ ngày 21/4/1965 đến thời điểm Mỹ tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, máy bay Mỹ đã bắn phá trên đất Quan Hóa 681 trận, tất cả 23 xã trong huyện đều có vết bom đạn của đế quốc Mỹ, chúng thả 2.755 quả bom các loại từ 100kg trở lên, 1.070 rốc két, 18 quả tên lửa và hàng ngàn loạt đạn 20 ly... Hành động hiếu chiến của Mỹ đã làm cho 32 người chết, 92 người bị thương, 183 nhà ở bị tàn phá, 19 xe ô tô và đầu máy làm đường bị phá hủy, 26 con trâu, bò bị chết; 18 mẫu ruộng lúa, 2 cầu xi măng, 8 cầu gỗ, 8 trạm xá bị phá hoại... 
Không những thế, địch đã dùng máy bay trinh sát, chụp ảnh các mục tiêu trong huyện, điểm tập trung chú ý nhất là trục đường 217 và 15A, dọc biên giới rẻo cao và nước bạn Lào. Hàng chục toán biệt kích được sự hậu thuẫn của Mỹ đã tiến hành hoạt động phá hoại ở giáp biên giới các xã: Trung Hạ (thuộc huyện Quan Sơn ngày nay), Phú Lệ, Tam Chung, Quang Chiểu... Đế quốc Mỹ đã cho máy bay thả xuống các chòm, bản trong huyện hàng vạn tờ truyền đơn và các loại bạc giả... Lợi dụng tội ác của giặc Mỹ các phần tử xấu đã tiến hành các hành động trộm cắp, tham ô, buôn lậu, giết người, cờ bạc.
Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phối hợp với bộ đội, công an vũ trang đánh địch gần 200 trận lớn nhỏ, nhiều trận chiến ác liệt đã diễn ra ở Na Sài, Pha Lò, Sơn Điện, Phú Lệ, Tam Chung... Đặc biệt ngày 10/02/1966, quân dân các xã Trung Hạ( ) và Tam Lư trực chiến tại cầu Pha Lò đã bắn cháy 1 máy bay F105 của Mỹ nhưng không rơi tại chỗ mà bay về phía nước Lào. Ngày 14/5/1967, dân quân xã Phú Lệ “nối dài nòng súng” trên đỉnh núi, bắn rơi thêm 1 máy bay F105, bắt sống giặc lái nhảy dù. 
Qua 4 năm liên tục vừa sản xuất vừa chiến đấu, quân và dân Quan Hóa đã góp phần bắn rơi 2 máy bay giặc Mỹ, bắn bị thương 30 chiếc. Tại Đại hội Công - Nông - Binh toàn tỉnh, Quan Hóa được báo cáo điển hình, xã Phú Lệ được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, xã Quang Chiểu trở thành lá cờ đầu bảo vệ trị an; Đơn vị 188 được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba... Phong trào thanh niên tình nguyện nhập ngũ được hưởng ứng trên diện rộng. Các xã trong huyện đều hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân hàng năm. Nhiều thanh niên viết đơn bằng máu xin được tòng quân chiến đấu. Các chi hội Phụ lão, Phụ nữ huyện luôn làm tốt công tác vận động người thân lên đường ra tiền tuyến và tham gia chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ( ).
Đóng góp của quân dân Quan Hóa nói chung, Quan Sơn nói riêng đã góp phần làm thất bại Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, ngày 1/11/1968, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc.
Trên mặt trận sản xuất, ngay từ cuối năm 1965, thực hiện chủ trương chuyển hướng của tỉnh, Huyện ủy và Ủy ban Hành chính huyện đã chỉ đạo các cơ sở kinh tế chuyển hướng sản xuất từ thời bình chuyển sang thời chiến để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh. Trong những năm tiến hành vừa sản xuất vừa chiến đấu, Huyện ủy vẫn liên tục lãnh đạo và phát động các phong trào thi đua như đuổi kịp và vượt Hợp tác xã Đông Phương Hồng (huyện Thọ Xuân). Đặc biệt, khi Tỉnh ủy phát động phong trào thi đua “ba giỏi”( ), cán bộ, công nhân, viên chức, xã viên ở Quan Hóa đã sôi nổi thi đua, hình thành các phong trào “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”, “tiếng hát át tiếng bom”...
Ngày 3 tháng 9 năm 1967, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ VI được tổ chức tại bản Khó, xã Hồi Xuân. Đại hội đã ra nghị quyết cho 2 năm: 1968 - 1969 là: “Phấn đấu trở thành một huyện giàu có về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng”, đề ra các mục tiêu “5 tấn thóc, 10 tấn sắn/ha/năm; 3 lợn thịt/hộ; 100 tấn cánh kiến/năm...
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa VI gồm 21 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lương Văn Họi được bầu lại làm Bí thư; đồng chí Hà Văn Cao và Ngân Thị Nhơn được bầu làm Phó Bí thư.
Vượt lên muôn vàn khó khăn, Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền và các tổ chức đoàn thể cũng như nhân dân trong toàn huyện thực hiện tốt nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VI.
Cuối năm 1968 gần 80% diện tích lúa được cấy thẳng hàng, nhiều phụ nữ các xã: Phú Lệ, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Điện... đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Công nhân và công đoàn huyện đã nêu cao khẩu hiệu “tay búa tay súng”, đẩy mạnh sản xuất và các hoạt động khác. Hàng trăm đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng các công trình thủy lợi và mở đường giao thông. Trên mặt trận văn hóa - xã hội, sự nghiệp giáo dục, đến năm 1968, cả 23 xã trên địa bàn huyện đều có trường cấp I, trong đó có 9 xã có trường cấp II. Ngoài ra huyện còn được ưu tiên mở hai trường Bổ túc văn hóa cho cán bộ, một trường sư phạm 4 + 3. Đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng huyện vẫn chú ý mở lớp học Chính trị cũng như nghiệp vụ chuyên môn. Nhờ đó, năm học 1967 - 1968 có 8 trường đạt tiêu chuẩn trường chống Mỹ cứu nước. Các hoạt động y tế, văn hóa thông tin đều có những bước tiến vượt bậc.
Từ năm 1969 đến năm 1972, đây là thời kỳ nhân dân miền Bắc tiến hành kháng chiến chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Sự kiện lịch sử quan trọng đối với đồng bào các dân tộc Quan Hóa giai đoạn này là Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng bộ Quan Hóa, được tổ chức vào tháng 4 năm 1969, tại Bó Lót, bản Khằm, xã Hồi Xuân. Tham dự Đại hội có 120 đại biểu thay mặt cho hơn 1.400 đảng viên trong toàn huyện.
Đại hội khẳng định trong hơn một năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Quan Hóa đã đạt được những kết quả quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Về chiến đấu: “Trong tháng Giêng 1968, không quân ta đã bắn rơi 1 máy bay trinh sát, quân dân các xã Nam Động, Thiên Phủ đã phối hợp bắt sống 4 tên giặc lái, sau đó ta lại bố trí bắn bị thương 1 chiến trực thăng”( ). Đại hội xác định nhiệm vụ chính trị của huyện là: “Thực hiện tốt cuộc vận động định canh, định cư để đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống nhân dân các dân tộc, góp phần vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, đưa phong trào huyện tiến kịp với phong trào chung trong tỉnh, Phấn đấu thành huyện đạt 5 tấn thóc trên ha để góp phần mau được đón Bác Hồ về thăm tỉnh ta”. Đại hội đã chỉ ra những biện pháp cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đề ra. 
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VII gồm 21 đồng chí, đồng chí Lương Văn Họi được tái cử Bí thư; đồng chí Phạm Văn Khánh được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Lương Chí Ên được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Chấp hành Nghị quyết 38 - CP của Hội đồng Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy Ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành mạnh mẽ cuộc vận động định canh, định cư kết hợp với hợp tác hóa ở miền núi, từ tháng 12 năm 1968. Việc khảo sát điều tra được khẩn trương xúc tiến từ tháng 1 năm 1969 đến tháng 5 năm 1970, Tỉnh xác định toàn bộ 23 xã của Quan Hóa đều thuộc diện đưa vào cuộc vận động. Đợt một, từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 1 năm 1971, tiến hành ở Quang Chiểu, Tam Chung, Hiền Kiệt, Hiền Trung. Đợt hai, từ tháng 2 năm 1971 đến tháng 8 năm 1971, vận động ở các xã: Trung Sơn, Trung Thành, Phú Nghiêm, Phú Lệ, Phú Xuân. Đợt ba, từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 4 năm 1972 vận động ở Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy( ).
Cũng trong thời gian này, phong trào làm đường giao thông của huyện diễn ra rất sôi nổi. Đảng bộ huyện đã đề ra chủ trương, phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia công tác giao thông với tinh thần tự lực, tự cường là chính. Đường liên thôn, liên bản thì do hợp tác xã chủ động tiến hành. Đường liên xã do xã tiến hành. Hệ thống đường giao thông được mở rộng. Số km đường liên huyện, đường liên thôn trong cuộc vận động là 350km, trong đó có 200km đường ô tô.
Về giáo dục, hầu hết các trường trong huyện đều có kế hoạch để hưởng ứng cuộc vận động Định canh định cư một cách thích hợp và phù hợp với điều kiện, khả năng của mình. Số giáo viên các cấp học được đào tạo cơ bản ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu của các cấp học. Giáo viên là người dân tộc trong các năm học 1974 - 1975 tăng nhanh.
Qua cuộc vận động Định canh định cư, nề nếp chỉ đạo của Ban quản trị, vai trò làm chủ của xã viên, hợp tác xã được nâng cao một bước về cải tiến quản lý. Nhiều hợp tác xã từ chỗ hoạt động rời rạc đã thực hiện sự phân công lao động, bố trí cân đối ngành nghề, tổ chức được những đội chuyên nghiệp như: khai thác, chăn nuôi, kiến thiết, khai hoang, thủy lợi... Nhiều hợp tác xã đã chuyển biến mạnh mẽ về chất: từ 68 hợp tác xã bị đánh giá yếu kém, đến năm 1971 chỉ còn 49 hợp tác xã, số hợp tác xã được xếp loại khá, tăng từ 69 lên 88 hợp tác xã, tỷ lệ hợp tác xã yếu kém giảm từ 30,8% xuống còn 21,3%. Trong cuộc vận động, huyện đã thành lập được 4 hợp tác xã mới.
Tháng 3 năm 1971, tại xã Hồi Xuân, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII. Đại hội đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện: “xây dựng một huyện giàu có về nghề rừng, phát triển các loại cây công nghiệp, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính. Về lương thực phấn đấu tự túc trong huyện”. Đại hội đã đề ra ba nhiệm vụ chính trị cụ thể về kinh tế, chiến đấu và tổ chức đời sống. Phát động 2 phong trào thi đua (phong trào học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật và phong trào lao động sản xuất thật sôi nổi).
Từ ngày 21 đến ngày 29 tháng 5 năm 1972, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX đã diễn ra tại trụ sở Huyện ủy (thị trấn Quan Hóa hiện nay). Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện, khả năng của huyện, Đại hội xác định nhiệm vụ phấn đấu trong những năm tới, cụ thể là trong những năm 1972 - 1973: phải “Tập trung phát huy 3 thế mạnh: nghề rừng, cây công nghiệp và chăn nuôi mà trọng tâm là nghề rừng. Lương thực phấn đấu tới mức cao nhất theo điều kiện của mình một cách hợp lý để làm cơ sở phát huy 3 thế mạnh, đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính để từng bước tiến lên xây dựng một huyện “khá về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng”.
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa IX gồm 21 đồng chí. Ban Thường vụ gồm 7 đồng chí. Đồng chí Lương Chí Ên được bầu tái cử làm Bí thư, đồng chí Cao Ngọc Chinh, Ủy viên Thường vụ trực Đảng, đồng chí Hà Văn Cao, Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Đại hội đã ra lời kêu gọi và phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục thực hiện 4 phong trào: Phong trào tòng quân chống Mỹ, cứu nước; phong trào làm thủy lợi và khai hoang; phong trào chăn nuôi và làm phân bón; phong trào học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế.
Từ năm 1972 đến năm 1975, đây là giai đoạn Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa tiến hành khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, ra sức chi viện cho miền Nam, đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.
Mặc dù tuyên bố chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm và các hành động xâm lược nước ta. Đối với Miền Nam, chúng triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; đối với miền Bắc, chúng vẫn thường xuyên cho máy bay trinh sát, tung gián điệp biệt kích phá hoại... 
Cuối năm 1972, tình hình chiến trường miền Bắc Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng. Thất bại liên tiếp trên mặt trận quân sự đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế vô cùng khó khăn. “Để cứu vãn tình thế, Chính phủ Mỹ đã trắng trợn lật lọng, tìm cách xóa bỏ bản dự thảo Hiệp định Pa - ri đã thỏa thuận với ta, đòi ta phải sửa chữa 126 điểm mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. 
Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, Quan Hóa tuy không trong vùng trọng điểm đánh phá của địch nhưng là vùng trọng yếu về quân sự nên đế quốc Mỹ đã dùng trên 500 lần máy bay bắn phá vào 7 điểm với hàng trăm tấn bom đạn, trong đó có cả bom vi trùng khiến nhiều người dân trong huyện bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và chỉ đạo của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, các đơn vị dân quân tự vệ, bộ đội địa phương trong huyện đã có kế hoạch tác chiến hợp lí. Các dân tộc Quan Hóa nêu cao các khẩu hiệu “vừa sản xuất vừa chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng”... Huyện ủy chỉ đạo thực hiện nghiêm ngặt chế độ phòng không sơ tán, sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đã đào hàng chục chiến hào giao thông, hàng vạn hầm các loại...; đồng bào ven sông, suối luôn sẵn sàng bè mảng để phòng lụt... Toàn huyện có 14 đội trực chiến ở hầu hết các đường giao thông quan trọng như đường 15A, 217 và các xã giáp biên giới, 4 đài quan sát, 8 đội tuần tra... Các tổ “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng” đều được trang bị vũ khí cần thiết như súng trường, trung liên, đại liên( ). Sự chuẩn bị chủ động, chu đáo của quân dân Quan Hóa đã lập nên những thành tích vẻ vang: thêm một chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Quan Hóa. Chiến công của quân và dân Quan Hóa, Quan Sơn đã góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
3.5.3. Quan Sơn cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 1986)
Trong không khí quân dân cả nước đặc biệt là quân dân miền Nam tập trung sức lực mở Chiến dịch Hồ Chí Minh tiến công vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ X đã diễn ra vào ngày 11/4/1975. Đại hội đã đánh giá cao những kết quả mà quân dân trong huyện đạt được trong nhiệm kỳ, đồng thời biểu dương tinh thần hy sinh, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân các dân tộc trong huyện vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, chi viện sức người, sức của góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa X gồm 23 đồng chí, đồng chí Lương Chí Ên được tái cử làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Cao được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền, đồng chí Cao Ngọc Chinh được bầu làm ủy viên Thường vụ trực Đảng.
Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn. Trong chiến công chung đó, Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa, Quan Sơn tự hào vì đã có những đóng góp đáng kể về sức người, sức của cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước.
Do yêu cầu và hoàn cảnh mới nên ngày 10/3/1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI đã diễn ra.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 23 đồng chí, đồng chí Lương Chí Ên tiếp tục được bầu làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Cao được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền, đồng chí Bùi Minh Đông được bầu làm Ủy viên Thường vụ, trực Đảng.
Nhằm đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống, toàn huyện dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hiện tiết kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, tổ chức từng đợt thi đua với khẩu hiệu: “Dậy sóng từng đợt, dứt điểm từng khâu quyết thắng trận đầu”. Mở đầu là đợt thi đua tập trung lực lượng làm vụ thu và mùa năm 1976, sau đó là các đợt làm thủy lợi, khai hoang, phục hóa, trồng màu và học tập. Sôi nổi nhất là đợt thi đua đồng khởi ra quân khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích gieo trồng. Kết quả sau đợt khai hoang, phục hóa đã đạt 525ha, tăng gấp 5 lần so với năm 1976, các đơn vị tích cực làm đã hoàn thành chỉ tiêu khai hoang, phục hóa trước thời hạn là các xã Sơn Lư, Sơn Thủy, Hồi Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng... Năm 1977, tổng sản lượng lương thực năm 1977 đạt 15.097 tấn quy thóc, các hợp tác xã đều hoàn thành kế hoạch.
Từ năm 1975 đến năm 1985, thi hành Chỉ thị số 02, ngày 15/2/1977 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Ban Thường vụ Huyện ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành tập trung củng cố các hợp tác xã hiện có. Căn cứ vào đặc điểm địa hình, đất đai huyện nhà, Thường vụ Huyện ủy Quan Hóa đề ra chủ trương: tùy đặc điểm của từng vùng để xác định phương hướng cho từng hợp tác xã. Do ruộng đất phân tán theo từng thung lũng, không có xen canh, các chòm bản thường ở xa nhau, trình độ quản lý của Ban Chủ nhiệm lại có hạn, nên không tổ chức các hợp tác xã quy mô lớn được. Trường hợp có công việc cần nhiều lao động như làm thủy lợi, khai hoang lớn thì tổ chức phối hợp, trao đổi hợp tác lao động giữa các hợp tác xã liên quan. Nhờ sự chỉ đạo sát sao, kịp thời, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã giành được nhiều thắng lợi:
Trồng trọt, chăn nuôi: diện tích gieo trồng lúa đạt 2.936,36ha (99,5% kế hoạch, tăng 20% so với năm 1976); diện tích trồng sắn đạt 2.856,6ha (tương đương 158,5% so với kế hoạch, tăng gấp rưỡi so với năm 1976); các loại rau màu khác đều vượt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Các hợp tác xã đều hoàn thành nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước. Một số hợp tác xã còn giành một phần lương thực hỗ trợ cho các vùng mất mùa ở miền xuôi. Số lượng đàn gia súc, gia cầm và thủy sản đều vượt kế hoạch đề ra.
Về lâm nghiệp, thực hiện Quyết định 184/CP, toàn huyện đã hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho các hợp tác xã và lâm trường. Đã có 96 vườn cây giống được xây dựng. Huyện còn tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong nhân dân các dân tộc. Kết quả là năm 1977, riêng diện tích trồng luồng đã đạt 2.629,7ha (tương đương 175% so với kế hoạch và tăng hơn 9% so với năm 1976), việc tu bổ rừng luồng đã đạt 105% so với kế hoạch. Đồng thời huyện còn ươm được 1.200kg hạt giống cây chủ thả cánh kiến để mở rộng diện tích vào các năm sau. 
Sau hai kỳ Đại hội( ), năm 1981, huyện Quan Hóa bước vào thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 - 1985). 
Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã cùng cả tỉnh khắc phục hậu quả 2 cơn bão (bão số 6 năm 1980 và bão số 2 năm 1981). Nhân dân Quan Hóa phát huy truyền thống tương thân, tương ái, hỗ trợ hàng trăm tấn lương thực và hàng ngàn cây luồng cho các vùng bị thiệt hại nặng ở các huyện miền xuôi.
Trên mặt trận kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp, nhờ thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nên diện tích, năng suất và sản lượng lương thực đã đạt chỉ số cao nhất so với các năm về trước và đời sống nhân dân được cải thiện, thành tựu của ngành Vật tư nông nghiệp đạt 138% kế hoạch đề ra, ngành Thương nghiệp thực hiện doanh số bán ra đạt 104,8%, mua vào đạt 155,9% so với kế hoạch, tăng hơn so với năm 1980 là 277%. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành, các mặt hoạt động và đời sống nhân dân đều có bước chuyển biến tích cực( ).
Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XIV diễn ra từ ngày mùng 1 đến mùng 6 tháng 1 năm 1982 (đợt 1) và từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 1 năm 1983 (đợt 2). Tại Đại hội, các đại biểu quan tâm, bàn nhiều đến việc tiếp tục chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động và công tác xây dựng Đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh. 
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tổ chức triển khai việc thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong toàn huyện. Tiếp đó, ngày 23/10/1983, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ra Nghị quyết 04 - NQ/HU về việc sửa chữa những lệch lạc trong việc thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Nghị quyết đề ra những chủ trương, biện pháp cấp bách: phải tiếp tục quán triệt, nắm vững nội dung và nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; kiên quyết sửa chữa những lệch lạc sai sót trong công tác khoán và quản lý hợp tác xã; phát huy vai trò động lực của chế độ khoán mới. Trên cơ sở đó, chuẩn bị và đẩy mạnh sản xuất ngay trong vụ chiêm xuân năm 1984. Vận dụng cụ thể Thông tư hướng dẫn số 01, ngày 28/2/1983 của Bộ Nông nghiệp, tổ chức thực hiện chế độ khoán mới đối với các ngành nghề, nhất là nghề rừng. Nghị quyết 04 - NQ/HU cũng quy định rõ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các tổ chức Đảng, chính quyền, các ban, ngành, các cấp, các đoàn thể và các hợp tác xã trên địa bàn huyện.
Giai đoạn 1975 - 1985 là thời kỳ đồng bào các dân tộc Quan Hóa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách nhưng Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Quan Hóa, trong đó có nhân dân các dân tộc Quan Sơn đã không ngừng phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng để vượt qua mọi khó khăn, góp phần cùng nhân dân miền Bắc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3.5.4. Quan Sơn trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996)
Ngay từ đầu năm 1986, Đảng bộ Quan Hóa đã ban hành Nghị quyết về “Tổ chức thực hiện Nghị quyết 28 của Thường vụ Tỉnh ủy, thi hành Chỉ thị 79, 80 của Ban Bí thư Trung ương Đảng”. Trong đợt sinh hoạt chính trị này, huyện đã chọn các xã: Phú Lệ, Hồi Xuân và Nam Động làm điểm chỉ đạo. Quá trình tổ chức chỉ đạo đã tạo được sự đoàn kết, nhất trí. Thông qua đó, đại bộ phận đảng viên đã phát huy được tinh thần: nói thẳng, nói thật, nói hết, nói đúng, tập trung vào ba nội dung chủ yếu là: phẩm chất cách mạng, phong cách lãnh đạo, chính sách cán bộ.
Ngày 20/11/1986, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XV đã được tiến hành tại Hội trường lớn của huyện. 150 đại biểu đại diện cho trên 1.400 đảng viên từ các đảng bộ, chi bộ cơ sở tham dự Đại hội. 
Đại hội đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến vào bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa. Sau khi nghe Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIV, các đại biểu đã tỏ rõ sự nhất trí, đồng thời vạch ra những phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn của huyện trong những năm 1987 - 1990: Tập trung khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của huyện, xây dựng huyện có cơ cấu nông - lâm - công nghiệp hợp lý, có nhiều sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng xuất khẩu... Phải từ lương thực, nghề rừng, xuất khẩu, nhanh chóng phát triển sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên ( ).
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước, năm 1986, tại Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã quyết định tiến hành sự nghiệp đổi mới sâu sắc toàn diện.
Được sự định hướng của Trung ương Đảng, để thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, đặc biệt là chương trình lương thực, thực phẩm, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và Thường vụ Huyện ủy đã tổ chức xây dựng phương án đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, chăn nuôi. Huyện ủy chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện tốt Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Các hợp tác xã (Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Điện, Tén Tằn, Quang Chiểu, Phú Nghiêm) đã đưa vào sử dụng các giống ngô, lúa mới có năng suất cao, chiếm tới 75 - 80% diện tích. Ngoài lúa, các hợp tác xã còn trực tiếp lãnh đạo xã viên mở rộng diện tích trồng hoa màu: sắn, ngô, khoai, dong giềng, củ, quả các loại. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chú ý thay đổi theo hướng sản xuất hàng hóa. Đặc biệt, huyện đã quyết tâm đưa cây ngô vào trồng thử nghiệm ở các xã vùng cao và đã thu được kết quả rất tốt.
Về sản xuất nông nghiệp, do mạnh dạn sản xuất thâm canh cây lúa nước, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào sản xuất nên năm 1986, tổng sản lượng lương thực quy thóc của huyện đã đạt tới 22.090 tấn.
Chăn nuôi ngày càng phát triển, tổng đàn trâu năm 1986 có 7.431 con, năm 1987 (đến tháng 10) đã có 7.557 con (bằng 124% so với kế hoạch). Tỷ lệ đàn lợn vẫn được giữ vững và áp dụng kỹ thuật, giống vào chăn nuôi lợn lai kinh tế. Phong trào nuôi thả cá ở các vùng, các gia đình phát triển mạnh, kể cả vùng cao. Hàng năm, huyện nhập hàng trăm tấn cá cho các hợp tác xã.
Về lâm nghiệp, đồng bào các dân tộc Quan Hóa ngày càng nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Trong 2 năm, huyện đã giao 157.105ha rừng và đất rừng cho 1.631 hợp tác xã, ba lâm trường và 7.343 hộ gia đình xã viên. Cây luồng đã trở thành sản phẩm hàng hóa, tạo nguồn vốn, thúc đẩy việc xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật trong huyện.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản đã có những tín hiệu khả quan. Tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp 2 năm đạt 17.511.000 triệu đồng. Sản phẩm chủ yếu là công cụ cầm tay, vật liệu xây dựng. Một số ngành được mở ra như xay xát nông sản, mây tre đan, tăm mành, xuất khẩu...
Trong xây dựng cơ bản, được sự hỗ trợ của Nhà nước, huyện đã vận động nhân dân thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Năm 1987, huyện đã xây dựng được Trạm giống cây số 10, nhà chụp phim X quang của bệnh viện. Năm 1988, huyện thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư xây dựng cơ bản với những công trình chưa cấp thiết, tập trung cho những công trình trọng điểm, sớm phát huy tác dụng, phục vụ ba chương trình kinh tế.
Hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa: năm 1987, Thường vụ Huyện ủy ra Nghị quyết 05 về một số công tác cấp bách về giáo dục phổ thông và mẫu giáo, nhà trẻ. Các cấp ủy đảng, chính quyền và ngành Giáo dục đã quán triệt và tổ chức thực hiện. Trong hai năm, huyện đã xây dựng thêm được 20 phòng học. Ngoài ra, huyện còn mở được hai lớp dạy nghề mây tre đan và nghề mộc cho 60 học sinh học nghề. 
Ngành y tế đã tổ chức các đợt tiêm phòng cho nhân dân, kịp thời ngăn chặn bệnh lây lan ở một số vùng. 
Công tác văn hóa - thông tin, chiếu bóng, truyền thanh đã hướng vào việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ của địa phương, chú ý đến việc xây dựng nếp sống văn hóa mới.
Hoạt động an ninh - quốc phòng: Huyện ủy chỉ đạo phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc. Hàng năm, các xã đều hoàn thành nhiệm vụ gọi thanh niên nhập ngũ. Huyện đội duy trì chế độ chỉ huy, trực chiến ở các cơ quan và các trung đội mạnh để sẵn sàng xử lý các tình huống, thường xuyên chấn chỉnh lực lượng dân quân tự vệ và quân dự bị động viên. Huyện đội cùng với Công an huyện đã tiến hành thu hồi vũ khí, vật liệu nổ.
Giai đoạn này, các đơn vị hành chính của huyện có sự thay đổi lớn. Theo Quyết định số 04/HĐBT ngày 5/1/1987 của Hội đồng Bộ trưởng chia xã Hồi Xuân thành 2 đơn vị hành chính là xã Hồi Xuân và thị trấn Quan Hóa; ngày 29/2/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 19/HĐBT chia các xã: Phú Nghiêm thành 2 xã: Phú Nghiêm và Xuân Phú; Phú Xuân thành 2 xã là Phú Xuân và Thanh Xuân.
Chia xã Phú Lệ thành 3 xã là: xã Phú Lệ, xã Phú Sơn và Phú Thanh;
Chia xã Sơn Lư thành 2 xã là: Sơn Lư và Sơn Hà.
Chia xã Trung Thành thành 2 xã là: Trung Thành và Thành Sơn;
Chia xã Tam Lư thành 2 xã là: Tam Lư và Tam Thanh.
Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XVI được tổ chức ngày 6/1/1989 tại Hội trường UBND huyện. Đại hội đã đánh giá những kết quả mà nhân dân toàn huyện đạt được trong nhiệm kỳ XV trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng và xây dựng Đảng. Bên cạnh những ưu điểm đó vẫn còn tồn tại những khuyết điểm như: sản xuất nông lâm nghiệp còn chậm chuyển biến về năng suất, sản xuất còn trong tình trạng quảng canh, tự túc tự cấp, sản phẩm hàng hóa ít; việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp còn hạn chế. Trên cơ sở đó, Đại hội đã vạch ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội những năm 1989 - 1991 là: Giải phóng mọi năng lực sản xuất để giải quyết tốt vấn đề lương thực, phát triển sản xuất hàng hóa trên cơ sở tiềm năng sẵn có, từng bước khắc phục sản xuất tự túc, tự cấp, giải quyết tốt vấn đề học hành sức khỏe, đi lại của nhân dân, đảm bảo giữ vững an ninh - quốc phòng, giữ vững và phát huy tình đoàn kết giữa các dân tộc và tình hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai bên biên giới Việt - Lào anh em( ).
Quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI cũng là thời điểm Huyện triển khai Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế khoán trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đây là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ, thực hiện cơ chế khoán mới, cơ chế quản lý mới, đưa hộ gia đình, xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó yên tâm đầu tư, thâm canh trên diện tích đất mình được giao. Trong năm 1989, toàn huyện thu hoạch được 22.609 tấn lương thực, bình quân đầu người 286kg. Chăn nuôi tiếp tục phát triển đồng đều, nhất là số lượng đàn bò đã tăng lên đến 20.000 con. Việc đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá đã trở thành phong trào trong nhân dân. Tính ra, bình quân sản lượng hàng năm của thời kỳ 1986 - 1990 đã có những bước tiến vượt bậc: sản lượng lương thực đạt 18.372 tấn, năng suất vụ chiêm đạt 19,6 tạ/ha; lúa mùa đạt 13,6 tạ/ha. Sản lượng sắn đạt 28.952 tấn, ngô đạt 933 tấn; sản lượng rau đạt 338 tấn; đậu tương đạt 22,5 tấn... Tổng đàn trâu là 8.259 con, đàn bò là 13.026 con, đàn lợn là 19.699 con. Diện tích trồng rừng (chủ yếu là luồng) hàng năm đạt 178ha, khai thác luồng 1,02 triệu cây và 500.000 cây nứa( ).
Nhìn chung, sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho giai đoạn 1991 - 1995.
Bước vào những năm đầu thập kỷ 90, bối cảnh quốc tế có những diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng bất lợi cho cách mạng nước ta. Trên địa bàn Quan Hóa, mặc dù đã có nhiều thành tích trong lao động sản xuất nhưng nhìn chung, đời sống nhân dân các dân tộc vẫn rất khó khăn, tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều, mạng lưới an ninh nhân dân vẫn còn mỏng.
Ngày 30/10/1991, tại hội trường Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa, 150 đại biểu thay mặt cho trên 2.300 đảng viên đã tiến hành Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (vòng 2). Sau khi đánh giá những kết quả quân dân trong huyện đạt được trong nhiệm kỳ qua và nêu ra những hạn chế cần khắc phục để đưa ra phương hướng phấn đấu trong nhiệm kỳ mới; Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa XVII gồm 33 đồng chí, đồng chí Lò Văn Quyn được bầu làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Duyệt được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Hà Văn Thương được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII cũng là thời gian vận dụng, cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIII vào tình hình thực tế của địa phương. Với kinh nghiệm quý báu đã tích lũy được sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Hóa đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, phát huy thuận lợi để hoàn thành cơ bản các mục tiêu Đại hội XVII đã đề ra.
Về kinh tế: Đảng bộ huyện đã triển khai kịp thời và vận dụng sáng tạo cơ chế quản lý kinh tế mới, phù hợp với đặc điểm của huyện nhà. Minh chứng rõ nhất là cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác được thế mạnh của huyện, xóa bỏ dần sản xuất tự cấp, tự túc. Tỷ trọng ngành nông nghiệp đang giảm dần, so với giai đoạn 1986 - 1990, tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm từ 70% xuống còn 60%, ngược lại, ngành lâm nghiệp từ chỗ chỉ chiếm 15% đã tăng lên 20%; tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng tăng từ 15% lên 20%.
Sản lượng lương thực hàng năm tăng bình quân 6,8% và đạt bình quân 20.000 tấn/năm. Năng suất lúa bình quân đạt 32 tạ/ha, năm cao nhất đạt 37 tạ/ha. Bình quân lương thực hàng tháng đạt 20kg/người, về căn bản đã giải quyết được nhu cầu lương thực của nhân dân. Cơ cấu mùa vụ chuyển dần theo hướng đa dạng, từng bước tạo nền nông nghiệp đa cây, đa con, đa loại hình. Trên một số địa bàn đã phát triển mạnh các cây công nghiệp ngắn ngày như: đậu tương, dâu tằm, bông, chè, cây ăn quả... Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày bình quân hàng năm đạt 300ha, năm cao nhất đạt 513ha, cao gấp 2 lần so với giai đoạn 1986 - 1990, mở ra tiềm năng về sản xuất hàng hóa.
Chăn nuôi: trong 5 năm, số lượng đàn gia súc, gia cầm không ngừng tăng nhanh, tỷ trọng ngành chăn nuôi đã chiếm từ 25 - 30% tỉ trọng nông nghiệp. Nhân dân trong huyện đã xác định phát triển chăn nuôi cũng là một biện pháp hiệu quả để tạo ra sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tính đến tháng 3 năm 1996, đàn trâu, bò của huyện đạt 30.000 con, bình quân mỗi hộ có 3 con trâu bò, tăng 12,2% so với giai đoạn 1986 - 1990.
Nét nổi bật trong sản xuất lâm nghiệp là từ khi có chủ trương giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp thì công tác chăm sóc, bảo vệ, trồng rừng mới được đẩy mạnh. Trong 3 năm (1994 - 1996), huyện đã tiến hành giao đất, giao rừng cho 3.600 hộ với diện tích 10.000ha, trồng mới được 500ha rừng tập trung và hàng ngàn cây phân tán. Một số mô hình làm kinh tế vườn rừng (nhất là rừng luồng) đã mang lại hiệu quả từng bước phủ xanh đất trống đồi trọc.
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại đã và đang có bước phát triển. Giá trị hàng hóa mỗi năm tăng 5,2%. Các điểm trao đổi, mua bán hàng hóa ngày càng mở rộng, nhất là trên các trục giao thông và trung tâm điểm kinh tế. Ngoài chợ thị trấn, huyện đã củng cố xây dựng mới các chợ: Na Mèo, Tén Tằn. Một số điểm giao thương đã hình thành và phát triển như các điểm ở Km 62, Km 22, Km 35 (đường 217), ở Nam Tiến, Nam Động, trên tuyến sông Luồng, Pom Buôi, Phú Lệ...
Về văn hóa - xã hội: các cấp ủy đảng và chính quyền coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trong 5 năm (1991 - 1995), đời sống nhân dân trong huyện nhìn chung đã ổn định và mức sống đã tăng cao hơn trước. Số hộ kinh tế khá chiếm 14%, số hộ kinh tế trung bình chiếm 74%. Đến đầu năm 1996, toàn huyện có 34% số hộ có điện sinh hoạt, 5% số hộ có xe máy, 3% số hộ có máy thu hình. Với sự giúp đỡ của Nhà nước và nguồn vốn của địa phương, huyện đã xây dựng hoàn chỉnh công trình đường điện 35KV; năm 1992 người dân đã được xem truyền hình.
Về giáo dục - y tế: Đến cuối năm 1995, toàn huyện có 22.000 học sinh (bình quân cứ 4 người dân có 1 người đi học). Các ngành học phát triển cân đối, tỷ lệ học sinh đến trường và lên lớp ngày càng tăng, chất lượng dạy và học được nâng lên từng bước. Hầu hết các trường học đã được xây dựng kiên cố, không còn tình trạng học ca 3. Huyện đã xây dựng được hai trường cao tầng. 
Tuy cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, nguồn thuốc chữa bệnh còn thiếu, nhưng mạng lưới y tế từ huyện xuống cơ sở đã được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Các loại dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét đã giảm đáng kể. Năm 1995, bình quân giá trị tiền thuốc cho 1 người dân đã tăng 8 lần so với năm 1991, việc cấp thuốc theo Chương trình 156 đạt gần 2 tỷ đồng.
Ngày 19/2/1994, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa quyết định thành lập Ủy ban Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện. Nhờ đó, số người trong độ tuổi sinh đẻ tự nguyện thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng lên, tỉ lệ gia đình sinh con thứ 3 ngày càng giảm xuống. Tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 2,54% (năm 1990) xuống còn 2,3% (năm 1995). Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em được triển khai trên diện rộng; tỉ lệ trẻ tiêm chủng mở rộng đạt 87,7%.
Các hoạt động thông tin, truyền thông đã góp phần đắc lực vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí cho nhân dân. Hoạt động thể dục - thể thao được duy trì và phát triển ở các trường phổ thông và các chòm, bản, tạo nên phong trào sâu rộng, góp phần bảo vệ sức khỏe, tăng cường thể lực cho nhân dân. Đặc biệt, trong các ngày lễ lớn (như trong năm 1995), các hoạt động văn hóa được tổ chức rất sôi nổi và phong phú. Thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trong 5 năm (1991 - 1995), toàn huyện đã dấy lên các phong trào đền ơn đáp nghĩa với sự hưởng ứng sôi nổi của đông đảo nhân dân. Các chế, độ chính sách được thực hiện đầy đủ, góp phần giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ giảm bớt khó khăn. Các hoạt động từ thiện, nhân đạo đối với người già cô đơn, trẻ mồ côi... đã được triển khai trên diện rộng.
Về quốc phòng - an ninh: Trong 5 năm (1991 - 1995), Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa luôn luôn thực hiện tốt và nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 24/3/1996, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đã được tiến hành. Đại hội đã đánh giá tổng quát những ưu, khuyết điểm của việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII, Đại hội nêu rõ: “Nghị quyết Đại hội XVII đã đi sâu vào cuộc sống, đạt được thành tích tương đối toàn diện, kinh tế phát triển và có nhiều mặt tăng trưởng khá, một bộ phận nhân dân bước đầu có ý thức làm kinh tế hàng hóa, năng động hơn, thích ứng với cơ chế thị trường. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng rõ. Thế mạnh từng bước được phát huy, đời sống nhân dân có mặt được cải thiện, văn hóa - xã hội có bước phát triển khá, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới tiến bộ”( ).
Đại hội này được đánh dấu là Đại hội cuối cùng của huyện Quan Sơn (cũ). Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, thực hiện Nghị định 72/CP ngày 18/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ huyện Quan Hóa (cũ) được tách thành 3 huyện là Quan Hóa (ngày nay), Quan Sơn và Mường Lát.
3.6. QUAN SƠN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1996 - 2015)
3.6.1. Thành lập huyện Quan Sơn và sự ra đời của Đảng bộ huyện
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn được thành lập theo Nghị định 72/CP của Chính phủ, gồm phần đất của 9 xã huyện Quan Hóa. Từ đây, huyện Quan Sơn chính thức trở thành một đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa có hệ thống tổ chức bao gồm 9 xã: Trung Xuân, Trung Thượng, Trung Hạ, Sơn Hà, Tam Thanh, Sơn Thủy, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Điện. Danh xưng Quan Sơn ra đời hàm chứa một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của đồng bào các dân tộc trong huyện. Khi mới chia tách, huyện Quan Sơn có diện tích tự nhiên là 86.534,85ha và 29.952 khẩu. Địa giới huyện Quan Sơn: phía đông giáp huyện Bá Thước và huyện Lang Chánh, phía tây và nam giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía bắc giáp huyện Quan Hóa.
Sau khi trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện, yêu cầu thành lập một Đảng bộ để lãnh đạo các dân tộc ở Quan Sơn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội là rất cần thiết trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Ngày 16 tháng 12 năm 1996, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra Quyết định số 131/QĐ-TU thành lập Đảng bộ huyện Quan Sơn và Quyết định số 136/QĐ-TU về việc chỉ định Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời huyện Quan Sơn.
Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời gồm 15 đồng chí: Hà Văn Thương, Hà Văn Thông, Phạm Văn Thư, Hà Văn Thống, Trịnh Đình Xu, Lương Hồng Thuân, Hà Chí Nông, Hà Văn Đoàn, Lữ Văn Tự, Hoàng Văn Đại, Lò Đình Múi, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Đồng, Phạm Phú Hào, Lữ Văn Xiệt; Chỉ định và phân công 5 đồng chí ủy viên Ban Thường vụ:đồng chí Hà Văn Thương - Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Thống - Phó Bí thư thường trực; đồng chí Phạm Văn Thư - Phó Bí thư phụ trách chính quyền; đồng chí Hà Văn Thống - Ủy viên Thường vụ, phụ trách Quân sự huyện; đồng chí Trịnh Đình Xu - Ủy viên Thường vụ, phụ trách Công an huyện.
Trong niềm vui phấn khởi hân hoan, thắm tình đoàn kết, ngày 31/1/1997, Huyện ủy lâm thời UBND lâm thời huyện Quan Sơn ra mắt cán bộ, đảng viên đồng bào các dân tộc trong huyện.
Để xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước và tổ chức cơ sở Đảng, Huyện ủy lâm thời đã đề nghị các cơ quan chức năng cấp tỉnh cho phép thành lập các tổ chức đoàn thể quần chúng.
Với sự lãnh chỉ đạo tích cực sáng tạo và năng động của Huyện ủy lâm thời nên chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống chính trị cấp huyện (HĐND, UBND), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ đã được thành lập và từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động theo nề nếp.
Bên cạnh đó, Huyện ủy lâm thời đã lãnh đạo Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong huyện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội tạo ra những điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng phát triển.
Sau một thời gian chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 6 năm 1997 Đảng bộ huyện Quan Sơn đã tiến hành Đại hội lần thứ I. Trong không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội đã đánh giá tình hình hoạt động trong 6 tháng đầu năm 1997 những thành công, hạn chế trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng - an ninh,... đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp cho chặng đường phát triển tiếp theo.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 33 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Hà Văn Thương được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Thông được bầu làm Phó Bí thư thường trực; đồng chí Phạm Văn Thư được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện.
Thành công của Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ I đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ quê hương; Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn đã đoàn kết, chung sức, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện để xây dựng quê hương, phát triển kinh tế - xã hội, tạo những bước tiền đề cơ bản đưa huyện Quan Sơn hòa nhập trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.6.2. Quan Sơn thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2000)
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế của nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, đất nước cơ bản đã ra khỏi khủng khoảng kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng quyết định chuyển đất nước ta vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong bối cảnh chung của đất nước và của tỉnh Thanh Hóa bước vào thời kỳ mới, huyện Quan Sơn bước vào thời kỳ này với điểm xuất phát thấp và phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách vì huyện vừa mới được thành lập. Tập quán sản xuất của nhân dân đa số còn mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, thu nhập thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém, trình độ dân trí còn hạn chế và không đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo cao; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc còn thiếu thốn nhiều mặt, trình độ đội ngũ cán bộ cấp huyện và cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra..”( ).
Tuy nhiên những khó khăn, thách thức ban đầu dần dần đã được khắc phục bởi Quan Sơn là một trong những huyện có tiềm năng, lợi thế, có triển vọng để khai thác phát triển đi lên; nhân dân các dân tộc trong huyện có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, có ý chí tự lực tự cường để vươn lên xây dựng quê hương. Đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, hăng hái nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm với công việc được giao cùng với quyết tâm của Đảng bộ, sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự hướng dẫn, giúp đỡ của các sở ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh; sự động viên khích lệ của các huyện bạn đã tạo ra động lực mới, khí thế mới tiếp sức cho Đảng bộ và nhân dân trong huyện vượt qua những khó khăn thách thức ban đầu, từng bước xây dựng các nguồn lực để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương.
Là một huyện vùng biên, giáp với biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong quá trình xây dựng và phát triển, huyện Quan Sơn đã biết phát huy và giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị với huyện Viêng Say và Sầm Tớ của tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
 Đây là điều kiện quan trọng để huyện Quan Sơn tiếp tục tạo đà và thế để vững bước phát triển đi lên.
Ngay trong những năm đầu thành lập huyện, để tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã mạnh dạn đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, xóa bỏ những yếu tố lạc hậu trong tập quán cũ, phát huy và kế thừa những truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trong huyện, xây đắp nên những thành quả mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa.
Về kinh tế:
Tổng diện tích gieo trồng từ năm 1997 đến năm 2000 đạt 9.898ha (bình quân mỗi năm đạt 3.299,2ha). Tổng sản lượng lương thực trong 3 năm đạt 26.442 tấn (bình quân mỗi năm đạt 8.814 tấn); bình quân lương thực theo đầu người đạt 280kg/người/năm. Sản lượng nông nghiệp trên địa bàn huyện về cơ bản đã đảm bảo tự túc lương thực và thực phẩm.
Ngành chăn nuôi duy trì và phát triển trên cơ sở các giống vật nuôi truyền thống: đàn trâu hàng năm đạt 3.983 con; đàn bò đạt 6.281 con, diện tích nuôi cá là 26,94ha; Chương trình 135 đã giành 50 triệu đồng làm thí điểm mô hình trang trại luồng - đậu tương - gà Tam Hoàng tại xã Trung Thượng. Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm huyện Quan Sơn đã tổ chức trồng thí điểm 0,5ha giống đậu tương DTB4. 
Về lâm nghiệp, đến năm 2000, toàn huyện đã tiến hành giao đất, giao rừng với tổng số 84.493,5ha. Trong đó: giao cho 479 hộ nông dân số diện tích 30.390,6ha, giao cho 2 đồn biên phòng số diện tích số diện tích 12.881ha, giao cho 2 lâm trường số diện tích 14.326ha, giao cho 60 bản số diện tích 11.607ha, giao cho chính quyền cơ sở số diện tích 15.289ha. Rừng và đất rừng ở Quan Sơn được hồi phục chăm sóc bảo vệ tốt, khai thác lâm sản được tiến hành hợp lí, đúng kỹ thuật. Toàn huyện đã trồng mới được 783,6ha rừng luồng, rừng quế và 82.414 cây phân tán. Khai thác lâm sản được tiến hành theo kế hoạch. Chỉ tính riêng trong năm 2000, toàn huyện khai thác được 2.024,5m3 gỗ, 11.322 tấn nan thanh, 181.920 cây luồng, 188 ste củi, 1.500 tấn đũa xuất khẩu, 6.9000 đoạn song, 1,6 tấn quế vỏ.
Do trên địa bàn huyện đã hình thành các khu tập trung dân cư nên đã xuất hiện một số cơ sở sản xuất gạch, khai thác đá, cát, sỏi thủ công; Các nghề thủ công như: sản xuất công cụ cầm tay, mộc, may mặc, sơ chế lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng... được hình thành và phát triển mở rộng, thu hút đông đảo lao động xã hội. Các nghề thủ công truyền thống như: dệt thổ cẩm, làm đệm bông... được phục hồi, góp phần nâng tổng giá trị sản xuất thủ công nghiệp; nhiều khu chợ mới được thành lập, một bộ phận cư dân trong huyện đã chuyển sang kinh doanh hàng hóa tổng hợp; các mặt hàng được trợ cước, trợ giá đã đến với đồng bào các dân tộc đủ số lượng và đúng chất lượng.
Trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2000, tỉnh và Trung ương đã đầu tư xây dựng 72 công trình xây dựng trên địa bàn huyện. Quan Sơn cũng đã xây dựng được nhiều công trình lớn như: Hội trường của huyện, chợ Na Mèo, Trường tiểu học Trung Thượng II, Trụ sở Ngân hàng Nông nghiệp, Trường Nội trú (cấp II và cấp III), tượng đài liệt sỹ, Trường Tiểu học Sơn Lư, Trường Tiểu học Tam Lư, trụ sở các xã Sơn Lư và Trung Xuân, kè bờ hữu sông Lò, 5 công trình thủy lợi (ở 2 xã Trung Xuân và Trung Thượng), chợ Tam Thanh, trụ sở Kho bạc, mương Na Ấu (xã Tam Thanh), đập Muống (xã Sơn Thủy)... Tiến hành thi công các công trình: đập Hạ (xã Sơn Hạ), Đập Hậu (xã Tam Lư), đường Mẫy Bàng (xã Trung Thượng), Trường Tiểu học Sơn Điện - Sơn Thủy, 7 trạm y tế tại 7 xã (chương trình thuộc dự án Dân số - Kế hoạch hóa gia đình), đường nhựa từ Km 42 vào xã Tam Lư - xã Tam Thanh, đường trục xã Trung Xuân, công trình nước sạch bản Lấm (xã Sơn Lư), đường ngang trung tâm huyện lỵ, đập mương Na Mèo, đập Trung Hạ, 4 trường tiểu học cùng công trình thủy lợi tại 4 xã biên giới. Riêng trong năm 2000, huyện Quan Sơn tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các công trình: trường Trung Hạ, Sơn Thủy; trụ sở Ủy ban nhân dân các xã: Trung Hạ, Na Mèo, Sơn Điện, Mường Mìn, 7 trạm xá xã, 6 nhà y tế thôn, bản; đập Hạ (xã Sơn Hà), đập Hậu (xã Tam Lư), đập Na Pạng (xã Mường Mìn), đập Muống (xã Sơn Thủy), đập Bôn (xã Tam Thanh), đập Sại (xã Tam Lư). Huyện còn tiến hành giám sát thi công Phòng khám đa khoa cụm xã Sơn Điện - Sơn Thủy - Mường Mìn - Na Mèo; khảo sát, mở rộng 2km đường trung tâm huyện lỵ.
Nhìn chung với việc đầu tư xây dựng cơ bản ở Quan Sơn đi đúng hướng nên mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Riêng Chương trình 135 của Chính phủ không chỉ giúp nhân dân vùng sâu, vùng xa đỡ khó khăn mà còn giúp khu vực trung tâm huyện lỵ thêm phần khởi sắc.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực của kinh tế, văn hóa - xã hội cũng đạt được nhiều thành quả mới.
Sự nghiệp giáo dục đào tạo ngày càng được chú trọng. Đảng bộ, nhân dân huyện Quan Sơn đã quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp, tiến hành cải cách giáo dục theo hướng xã hội hóa. Huyện đã chỉ đạo xây dựng trường THCS và THPT Nội trú. Năm 1997 chỉ tuyển sinh được 100 học sinh nhưng số lượng học sinh đã tăng lên hàng năm. Chỉ tính năm 1998, trên địa bàn huyện, nhiều trường phổ thông cơ sở được đầu tư xây dựng, như Trường Nội trú cấp II - III được hoàn thành đã đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa. Phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” đã kích thích chất lượng học sinh các cấp nâng lên. Năm 1999, Trường Phổ thông trung học Quan Sơn đã tổ chức khai giảng khóa học đầu tiên (niên học 1999 - 2000) với 100 học sinh theo học lớp 10. Bước sang năm 2000, số lượng học sinh THPT ở Quan Sơn đã tăng lên 397 học sinh, 11 xã( ) trong huyện được công nhận xóa mù chữ thành công và phổ cập Tiểu học. 
Công tác y tế phát triển tương đối toàn diện ở cả tuyến huyện và cơ sở. Bệnh viện huyện Quan Sơn, Phòng khám đa khoa cụm, Trạm y tế xã được xây dựng kiên cố. Tỷ lệ tăng dân số từ 1,7% vào năm 1997 đến năm 2000 đã giảm còn 1,4%. Quan Sơn đã thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình.
Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao được xã hội hóa và phát triển rộng. Các làn điệu dân ca, các điệu múa truyền thống của các dân tộc trong huyện được khôi phục lại. Các môn thể thao như: bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, bóng đá... được phát triển thành các môn thể thao quần chúng, được thanh thiếu niên, cán bộ tham gia sôi nổi. Huyện đã tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, một số nội dung được lựa chọn tham gia thi đấu cấp tỉnh. Ở các chòm bản, tổ chức biểu diễn các tiết mục văn nghệ dân tộc và truyền dạy cho lớp trẻ. Phong trào xây dựng làng văn hóa phát triển sâu rộng. Nhiều bản làng, gia đình được công nhận làng văn hóa, gia đình văn hóa. Công tác thông tin tuyên truyền được tiến hành liên tục và có hệ thống, nhằm đưa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự trong nước và quốc tế đã cập nhật đến từng người dân Quan Sơn. Do được tiếp thu kiến thức văn hóa mới, nhiều gia đình đã biết cách tổ chức sản xuất và làm giàu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” phát triển sâu rộng và đem lại hiệu quả chính trị - kinh tế - xã hội sâu sắc. Từ năm 1997 đến năm 2000, toàn huyện đã đóng góp 31,5 triệu đồng tu bổ nhà cho thương binh và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, tặng sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách.
Song song với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn còn tập trung xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc. Cùng với việc xây dựng thế trận lòng dân, các cấp ủy đảng ở Quan Sơn đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng, củng cố vững chắc lực lượng vũ trang nhân dân trên mọi phương diện. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, quân dự bị động viên, lực lượng công an viên được Đảng bộ và chính quyền huyện đặc biệt quan tâm. Hằng năm, huyện đều đảm bảo chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ. Các lớp tập huấn, huấn luyện hằng năm được thực hiện theo kế hoạch đã định. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện, đặc biệt là khu vực biên giới luôn ổn định. Các xã Sơn Điện, Mường Mìn là những đơn vị dẫn đầu phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2000. Lãnh đạo huyện Quan Sơn và lãnh đạo các huyện Sầm Tớ, Viêng Xay (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) đã tổ chức trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa lãnh đạo và nhân dân các huyện vùng biên giới ngày càng gắn bó thân thiết.
Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng nhằm đảm bảo cho Đảng bộ huyện đáp ứng yêu cầu tổ chức lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trên địa bàn huyện. Chỉ trong năm 1998, cùng với việc quán triệt các nghị quyết của Đảng, Huyện ủy Quan Sơn đã chỉ đạo Trung tâm Chính trị huyện mở lớp Lý luận phổ thông cho 150 học viên, mở 2 lớp chuyên đề cho 180 học viên, mở 2 lớp đối tượng Đảng cho 185 quần chúng ưu tú, mở 2 lớp thanh niên ưu tú cho 385 học viên và mở 6 lớp truyền tin tại huyện, 3 lớp truyền tin cơ sở. Đến năm 2000, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên tiếp tục được đẩy mạnh, Huyện ủy đã mở 11 lớp giáo dục lý luận chính trị và các chuyên đề về công tác Đảng, công tác đoàn thể cho 1.477 học viên; kết nạp 171 đảng viên mới, chuyển chính thức cho 160 đảng viên, đưa tổng số đảng viên toàn huyện lên 1.500 đồng chí, sinh hoạt trong 23 đảng bộ, chi bộ trực thuộc( ).
Hoạt động của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân huyện có nhiều đổi mới theo hướng thực hiện cải cách hành chính, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ trong bộ máy chính quyền. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể gắn chức năng và nhiệm vụ của mình với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện, với quyền lợi của đoàn viên, hội viên, đề ra được những nội dung, hình thức sát hợp, thực hiện có hiệu quả các chương trình công tác, động viên nhân dân trong huyện hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đem lại lợi ích thiết thực cho sự ổn định an ninh, chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện.
Những thành quả đạt được trong chặng đường này đã tạo cho Quan Sơn thế và lực mới, cùng với tỉnh Thanh Hóa và cả nước tiến sang thế kỷ XXI.
3.6.3. Quan Sơn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, III tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2000 - 2015)
* Giai đoạn 2000 - 2005
Để tổng kết những thành tựu đã đạt được trong nhiệm kỳ 1997 - 2000 đề ra phương hướng, mục tiêu giải pháp cho nhiệm kỳ mới từ ngày 20 đến 22 tháng 10 năm 2000, Đảng bộ huyện tiến hành Đại hội lần thứ II. Tham dự Đại hội có 127 đại biểu đại diện cho 1.420 đảng viên của 23 đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Các đại biểu đã tích cực, sôi nổi thảo luận những vấn đề cơ bản của báo cáo chính trị nhằm đạt mục tiêu đề ra. Những quyết định của Đại hội đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, đánh dấu một bước trưởng thành, đáp ứng ý chí, nguyện vọng và mong đợi của Đảng bộ và nhân dân trong huyện.
Đại hội đã bầu 33 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II (2001 - 2005). Ban Chấp hành bầu 11 đồng chí vào Ban Thường vụ Huyện ủy, đồng chí Hà Văn Thương( ) được bầu làm Bí thư; đồng chí Hà Văn Thông( ) được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Phạm Văn Thư( ) được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND.
Trong nhiệm kỳ mới (2000 - 2005), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong bối cảnh chung của tỉnh và cả nước có nhiều thuận lợi sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy vậy, Quan Sơn vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa. Quan Sơn đã tiếp tục phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, trong 5 năm 2001 - 2005, kinh tế của Quan Sơn đã có những bước tăng trưởng khá.
Về kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của chặng đường này đạt 5,9% (tăng hơn 0,7% so với giai đoạn 1997 - 2000); thu nhập hàng năm đạt 2,78 triệu đồng/người (thu nhập năm 1997 là 1,4 triệu đồng/người, năm 2000 là 2,25 triệu đồng/người); nông - lâm nghiệp tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 5,1%; thủ công nghiệp, xây dựng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,2%; các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm đạt 3,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng thủ công nghiệp - dịch vụ. Tuy vậy, sự chuyển dịch này mới đang ở bước đầu, nên cơ cấu kinh tế ngành nông - lâm nghiệp vẫn chiếm phần tỷ trọng khá lớn (năm 2005: nông - lâm nghiệp chiếm 57,05%, thủ công nghiệp chiếm 14,59 % và thương mại - dịch vụ chiếm 28,35%).
Sản lượng lương thực quy thóc năm 2005 đạt 7.938,3 tấn (tăng so với năm 2000 là 2.492 tấn). Số lượng đàn gia cầm, gia súc năm 2005 là 63.000 con (tăng hơn 28.000 con so với năm 2000). Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005 đạt 24,2 tỷ đồng, tăng hơn 4,87 tỷ đồng so với năm 2000. Diện tích trồng rừng bình quân hàng năm đạt 382ha (tăng hơn thời kỳ 1997 - 2000 là 182ha/năm); độ che phủ của rừng được nâng cao nhanh: từ 45% năm 1997, lên 63% năm 2000 và năm 2005 đạt 71%. 
Giá trị sản xuất thủy sản năm 2005 đạt 1,1 tỷ đồng, tăng hơn năm 2000 là 0,54 tỷ đồng.
Về thủ công nghiệp và xây dựng: năm 2005 giá trị sản xuất đạt 26,94 tỷ đồng, tăng 9,28 tỷ đồng so với năm 2000, nhịp độ phát triển hàng năm 0,4%/ năm.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã có những bước phát triển mới, ngoài các sản phẩm chủ yếu như khai thác đá, cát, sỏi, gạch xây dựng, sản xuất đồ mộc... huyện đã phát triển thêm ngành sơ chế đũa, tăm, mành, sơ chế bột giấy từ các sản phẩm tre, luồng, nứa, vầu, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân trong huyện.
Năm 2005, thương mại - dịch vụ huyện Quan Sơn đạt giá trị 34,40 tỷ đồng, tăng hơn 18,1 tỷ đồng so với năm 2000, nhịp độ phát triển bình quân hàng năm tăng 10%/năm. Mạng lưới thương mại được mở rộng đến tận bản; thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân các dân tộc ở Quan Sơn.
Nguồn vốn được đầu tư xây dựng các trung tâm cụm xã ở Km 21 (xã Trung Hạ), Km 61 (xã Sơn Điện); nâng cấp cửa khẩu Na Mèo thành cửa khẩu quốc tế, nâng cấp các trục đường giao thông từ huyện đến các xã, xây dựng các tuyến đường liên thôn, liên bản, xây dựng các công trình thủy lợi, điện, thông tin, trạm y tế, trường học, trạm phát lại truyền hình... Trong năm 2001, huyện đã xây dựng, hoàn thiện các công trình: Trường Tiểu học Tam Lư, Trường Tiểu học Tam Thanh, Trạm xá Na Mèo, Mường Pín, Phòng khám đa khoa Trung tâm cụm xã Sơn Điện, các công trình phụ trợ Ủy ban nhân dân huyện và các xã Trung Xuân, Trung Thượng); các công trình được triển khai xây dựng mới là: Trường Trung học cơ sở xã Trung Xuân, Trường Trung học cơ sở Trung tâm cụm xã ở km 61, trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tam Thanh, Trường Tiểu học bản Xum (xã Sơn Hà). Huyện tiếp tục thi công 3 cầu treo thuộc dự án 135, thi công các tuyến đường bản Yên (xã Mường Mìn), đường Sủa - Na Hồ (xã Sơn Điện), đường Pha Dùa (xã Sơn Thủy), đường vào trung tâm xã Trung Xuân (hoàn thành trước tết Nguyên đán năm 2002); xây dựng 5 đập: đập Ban (xã Sơn Điện), đập Hiềng (xã Na Mèo), đập Lấm và đập Hẹ (xã Sơn Lư), đập Còng (xã Sơn Hà); hoàn thành 7 công trình nước sạch bao gồm: 2 công trình tại xã Na Mèo, 1 công trình tại xã Sơn Thủy, 3 công trình tại xã Sơn Điện và công trình nước sạch của Trường Nội trú xã Sơn Lư. Chỉ tỉnh tính riêng năm 2005, huyện đã hoàn thiện các công trình: đập mương bản Phụn, xã Trung Xuân, trạm bơm mương bản Din, xã Trung Hạ, đập mương bản Cha Lung - xã Tam Thanh, trường Tiểu học Sơn Hà, 2 trạm Hạ thế 0,4 KV ở xã Sơn Lư, xây dựng đường vào trung tâm xã Sơn Hà, trường Trung Hạ, trạm Y tế Tam Lư, đường Pù Khạn (xã Trung Thượng); các công trình nước sạch ở bản Bo, bản Hiềng (Na Mèo); các công trình: nhà Văn hóa, đường giao thông, công trình nước sạch, trường tiểu học và mương tưới của 5 xã: Tam Lư, Na Mèo, Trung Hạ, Sơn Thủy, Sơn Lư... xây dựng mới 26 công trình của 11 xã gồm: nhà văn hóa, đập - mương, các công trình nước sạch, trạm Hạ thế 0,4 KV, đường giao thông. Về chương trình kiên cố hóa trường học, huyện đã xây dựng 26 phòng tiểu học cho 6 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Thủy và 10 phòng trung học cơ sở cho 2 xã: Sơn Lư, Na Mèo,...
Trong năm 2005, Quan Sơn đã có thêm 3 xã có điện lưới quốc gia là Tam Lư, Tam Thanh và Trung Xuân, nâng tổng số xã có điện trong huyện lên 11/12 xã với tổng số 24 trạm biến thế. Năm 2005 toàn huyện Quan Sơn đã có 11/12 xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia, 72% dân số được sử dụng điện.
Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước chuyển biến rõ rệt.
Hệ thống và quy mô giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện Quan Sơn được phát triển, mở rộng theo hướng hiện đại hóa. Trường lớp được kiên cố hóa, đến năm 2005, toàn huyện có 289/336 phòng học được xây dựng kiên cố và 4 trường đạt chuẩn quốc gia; phong trào dạy và học được xã hội hóa, do đó chất lượng giáo dục được nâng lên từng bước. Năm học 2000 - 2001, toàn huyện chỉ có 102 em học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh, đến năm học 2004 - 2005, con số này đã tăng lên 306 em. Năm 2005 là thời điểm ngành Giáo dục huyện Quan Sơn phấn đấu giữ vững phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi (4/12 xã, thị trấn đã hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở); nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo: năm 2000 tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 7,5%, đến năm 2005 đã nâng lên 11,8%.
Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em tiếp tục duy trì tốt (tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm dần theo từng năm: số trẻ em suy dinh dưỡng năm 2000 là 41,6%, đến năm 2005 giảm xuống còn 35%). Đến cuối năm 2005, đã có 12/12 xã, thị trấn có trạm y tế khang trang, sạch đẹp. Trong năm 2005, Quan Sơn đã có một xã đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Phát huy thành tích này, huyện tích cực chỉ đạo nhân rộng mô hình xã đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Quan Sơn đến năm 2005 chỉ còn lại 1,38%, giảm hơn năm 2000 gần 0,02%.
Phong trào Thể dục - thể thao, văn hóa - văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh. Trong từng bản, cơ quan, trường học đều có các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao. Nhiều bài hát giao duyên của các dân tộc Mường, Thái và các điệu múa đẹp giàu bản sắc được tuyển chọn tập luyện để tham gia hội diễn văn nghệ của huyện, của tỉnh. Các môn thể thao truyền thống và là ưu thế của các dân tộc miền núi như: ném còn, bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co được duy trì, phát triển. Đến năm 2005, toàn huyện có 399 gia đình được công nhận gia đình văn hóa - thể thao (chiếm 6,5% tổng số gia đình toàn huyện). Huyện đã xây dựng 32 làng, cơ quan văn hóa, trong đó có 16 đơn vị được công nhận là đơn vị Văn hóa cấp huyện, 5 đơn vị được công nhận là đơn vị Văn hóa cấp tỉnh, 4.130 gia đình được công nhận là Gia đình văn hóa, đạt 62% tổng số gia đình toàn huyện.
Công tác quốc phòng - an ninh thường xuyên được cấp ủy quan tâm. Cơ quan công an và Ban Chỉ huy quân sự huyện đã làm tốt vai trò tham mưu và làm nòng cốt nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong huyện. Hằng năm, Ban Chỉ huy quân sự huyện đã hoàn thành tốt công tác tuyển quân, đảm bảo số lượng và chất lượng, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được tăng cường. Các chương trình bảo vệ biên giới được duy trì ổn định, hiệu quả. Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội của huyện được giữ vững, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh.
Trong nhiệm kỳ qua, các cấp ủy đảng và chính quyền huyện đã tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về vai trò của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong thời kỳ mới, nhằm nâng cao ý thức cách mạng, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8 (khóa X) về chiến lược bảo vệ tổ quốc, đập tan âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian 2001 - 2005, huyện Quan Sơn không diễn ra điểm nóng, quan hệ hữu nghị với các huyện Viêng Xay, Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được củng cố vững chắc, tình hình chính trị ổn định. Do tích cực xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, Đảng bộ, quân dân huyện nhà đã giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành xây dựng quê hương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn tiếp theo.
Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng bộ huyện Quan Sơn chú trọng công tác tổ chức cán bộ, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), gắn với triển khai thực hiện các chương trình của Đảng bộ huyện và Tỉnh ủy. Công tác cán bộ có nhiều tiến bộ, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp huyện và cơ sở cơ bản đã đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị; công tác nhận xét, đánh giá cán bộ được đổi mới theo hướng công khai dân chủ. Việc bổ nhiệm và bổ nhiệm lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được thực hiện đúng quy trình, coi trọng phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và khả năng hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, tăng cường. Hoạt động của tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền các cấp đã đáp ứng cơ bản nhiệm vụ đặt ra. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều tiến bộ đổi mới trong các hoạt động phong trào. Mặt trận Tổ quốc tổ chức cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; “Xóa nhà tranh tre dột nát”; “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”, tuyên truyền vận động nhân dân các dân tộc trong huyện bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái... Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, tích cực học tập nghị quyết của Đảng, của Đoàn cấp trên, tổ chức tốt các phong trào thi đua tình nguyện làm đường, làm vệ sinh môi trường, tổ chức phát động các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao sôi nổi, bổ ích. Hội Phụ nữ huyện tập trung chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua xây dựng gia đình hạnh phúc và các chương trình của Tỉnh hội, Trung ương hội nhằm động viên, khuyến khích chị em phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế gia đình theo hướng bền vững. Liên đoàn Lao động với phong trào “Lao động giỏi, sáng kiến cải tiến kỹ thuật”. Hội Cựu chiến binh có phong trào “Giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hội Nông dân với phong trào “Nông dân sản xuất giỏi, làm giàu chính đáng”, “Giúp nhau xóa đói giảm nghèo”. Hội đã kết hợp với Trạm Khuyến nông tổ chức tập huấn chuyển giao thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới cho bà con các dân tộc, nhằm giúp bà con phát triển kinh tế gia đình. 
Những thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quan Sơn đạt được trong giai đoạn 2001 - 2005 là hết sức quan trọng đã tạo tiền đề vững chắc, tạo thế và lực mới để huyện Quan Sơn bước vào nhiệm kỳ mới với những quyết tâm cao và niềm tin vững chắc.
* Giai đoạn 2006 - 2010
Trong những năm 2006 - 2010, Quan Sơn có những thuận lợi, công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân Thanh Hóa cùng cả nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 
Từ ngày 22 đến 23 tháng 10 năm 2005, tại Hội trường lớn của huyện, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đã diễn ra.
Báo cáo của Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ III đã khẳng định: Nền kinh tế huyện Quan Sơn đã có bước phát triển và tăng trưởng khá, giá trị kinh tế các ngành: nông - lâm - thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ đều tăng so với các giai đoạn trước. Đặc biệt là kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế - xã hội có bước phát triển mới, toàn diện, sâu sắc. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố vững chắc, tạo ra sức mạnh, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh khu vực biên giới. Hệ thống chính trị: Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng được xây dựng vững chắc, quy chế dân chủ cơ sở được triển khai sâu rộng, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được nâng cao...
Trước thực tế Quan Sơn vẫn là huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2006 - 2010 như sau: Tiếp tục công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát huy nội lực, khai thác hợp lý tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ ngoại lực, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu kinh tế, văn hóa - xã hội; chuyển dịch nhanh, mạnh cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa - xã hội; củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa III gồm 35 đồng chí và Ban Thường vụ 11 đồng chí, đồng chí Phạm Bá Diệm được bầu làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Lò Đình Múi được bầu làm Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện, đồng chí Hà Chí Nông được bầu làm Phó Bí thư thường trực.
Năm 2006 ghi dấu ấn thời điểm kỷ niệm 10 năm thành lập huyện cũng là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Trước tình hình đó, Huyện ủy Quan Sơn đã ra Nghị quyết tổ chức lãnh đạo nhân dân huyện nhà thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, lập thành tích chào mừng 10 năm ngày thành lập huyện và Đảng bộ huyện, đồng thời tạo thế, tạo đà tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Đây là niềm động viên, cổ vũ Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn tăng cường khối đoàn kết thống nhất, tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được nhiều thành tích cao hơn.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của huyện, Đảng bộ, chính quyền huyện xác định cơ cấu kinh tế của Quan Sơn là: lâm - nông - thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ. Trước mắt và tương lai gần cần phải lấy cây lúa, cây ngô làm cây lương thực chính; lấy cây luồng, cây vầu, cây nứa làm cây kinh tế mũi nhọn; lấy con trâu, con bò làm vật nuôi chủ yếu, kết hợp với lợn, dê, gia cầm; lấy kinh tế trang trại vừa và nhỏ làm mô hình kinh tế cơ bản, phát triển mạnh ngành thương mại - dịch vụ ở khu vực huyện lỵ, cụm xã dọc tuyến Quốc lộ 217, khu đô thị cửa khẩu quốc tế, cần thu hút xây dựng, mở rộng hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động; phấn đấu trở thành huyện có phong trào bảo vệ rừng, chủ quyền an ninh biên giới tốt nhất; phấn đấu đến năm 2010 xây dựng đô thị Na Mèo và thành lập thị trấn cửa khẩu( ).
 Vượt qua những khó khăn, thách thức, kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn tăng trưởng cao hơn giai đoạn trước.
 Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo phát huy các yếu tố nội lực, tranh thủ sự đầu tư của các dự án, nhất là các dự án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Thanh Hóa, Chương trình 235 của Chính phủ để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân toàn huyện mở rộng diện tích gieo trồng, tăng cường ứng dụng các biện pháp kỹ thuật về phân, giống, chăm sóc, phòng bệnh, đưa năng suất và sản lượng lương thực, thực phẩm tăng trưởng cao. 
Sản xuất nông - lâm nghiệp của Quan Sơn vẫn là chủ đạo và giai đoạn này đã chuyển mạnh sang sản xuất theo hướng hàng hóa. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đến năm 2010 đạt gần 70 tỷ đồng. Là một huyện có diện tích đất rừng lớn nên công tác trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm chú trọng. Từ năm 1996 đến năm 2011, tổng diện tích rừng trồng tập trung của huyện Quan Sơn được gần 4.500ha; khoanh nuôi bảo vệ trên 7.500ha, nâng độ che phủ rừng từ 45% năm 1997 lên 79,2% năm 2010. Quan Sơn là một trong những địa phương được đánh giá có độ che phủ rừng cao nhất trong tỉnh. Hàng năm khai thác khoảng 5.000m3 gỗ các loại, 3.000 tấn nan thanh, hàng triệu cây luồng và cây nứa vầu. 
Bên cạnh phát triển lâm nghiệp, huyện Quan Sơn còn quan tâm phát triển và ổn định diện tích sản xuất nông nghiệp để giải quyết vấn đề lương thực. Trong sản xuất nông nghiệp, huyện chỉ đạo đưa các loại giống mới đặc biệt là giống lúa lai, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, từ đó đã nâng cao năng suất và sản lượng lương thực. Tổng sản lượng lương thực có hạt đến năm 2010 của huyện Quan Sơn đạt trên 10 nghìn tấn. Tình trạng thiếu lương thực vào thời điểm giáp hạt không còn gay gắt như trước đây.
Chăn nuôi hộ gia đình ngày càng phát triển, sản phẩm đa dạng và chuyển dịch sang chăn nuôi theo hướng tập trung và sản xuất hàng hóa. Các mô hình kinh tế gia trại, trang trại nông - lâm kết hợp đã tăng dần hàng năm và hiệu quả thu nhập ngày càng tăng. Tính đến hết năm 2010 trên địa bàn huyện Quan Sơn có 17 trang trại, gia trại với tổng thu nhập đạt trên 50 triệu đồng/trang trại.
Cùng với sự phát triển của lâm nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện được đẩy mạnh. Đến hết năm 2010, toàn huyện có 17 doanh nghiệp, Hợp tác xã và tổ hợp sản xuất. Một số cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đầu tư xây dựng đã và đang đi vào sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động như chế biến lâm sản, mộc dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm sản. Giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện phát triển thương mại và dịch vụ. Mạng lưới thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện ngày càng phát triển rộng khắp, hàng hóa phong phú và lưu thông thuận tiện, đảm bảo các mặt hàng chính sách cho đồng bào thuộc vùng 135 và cung cấp hàng hóa vật tư thiết yếu, phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.
Kết cấu hạ tầng trên địa bàn Quan Sơn được đầu tư phát triển mạnh. Huyện xác định đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, chính là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Quan Sơn là một trong những huyện vùng cao biên giới được thụ hưởng đầy đủ các chương trình dự án đầu tư của nhà nước. Từ các nguồn vốn dự án; 134; 135; 30a; 159; 174; WB... huyện đã chỉ đạo ưu tiên, lựa chọn, bố trí cho các công trình trọng điểm, đồng thời quan tâm giải quyết và tháo gỡ những phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ các dự án. Nếu như giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư chỉ đạt 293 tỷ đồng thì giai đoạn từ 2006 - 2010, tổng nguồn vốn đầu tư đạt trên 1.200 tỷ đồng. Hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các công trình quan trọng như: giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, các công trình phúc lợi công cộng... được quan tâm phát triển.
Trên địa bàn huyện, 100% số xã đã có đường nhựa ô tô đến được tận trung tâm xã. Hệ thống trường học từ Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông trên địa bàn huyện được xây dựng kiên cố. Bệnh viện đa khoa huyện Quan Sơn được đầu tư nâng cấp cả về cơ sở vật chất cũng như được đầu tư trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu khám và điều trị của nhân dân. Ngoài ra các dự án điện, nước sinh hoạt và một số công trình quan trọng khác được huyện quan tâm đầu tư, đến cuối năm 2010, đã có 75% số hộ dân trên địa bàn huyện được sử dụng điện lưới quốc gia; gần 70% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Mạng lưới bưu chính - viễn thông được phủ rộng khắp huyện. Đến năm 2010 đã có 12/13 xã (thị trấn) có điểm bưu điện văn hóa xã. 
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển mạnh. Đội ngũ giáo viên được xây dựng theo hướng đảm bảo về số lượng, phấn đấu đạt chuẩn để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đến năm 2010, toàn huyện đã xây dựng được 7 trường chuẩn quốc gia và thành lập Trường Trung học Phổ thông Quan Sơn 2. Các xã thị trấn đều có trung tâm giáo dục cộng đồng và hoạt động có hiệu quả. Công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Năm 2010, toàn huyện có 6 xã được công nhận đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế.
Công tác thông tin truyền thông và hoạt động văn hóa, thể dục thể thao có bước phát triển mới. Đến năm 2010, có 75% dân số của huyện được xem truyền hình. Các hoạt động lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian được tập trung khôi phục. Tiêu biểu là khôi phục lễ hội Mường Xia đã bị mai một hơn 70 năm, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân. Bảo tồn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc ở Quan Sơn.
 Công tác đảm bảo quốc phòng - an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện tiếp tục được đảm bảo và ổn định.
Để tổng kết những thành tựu đã đạt được trong 5 năm của nhiệm kỳ 2005 - 2010, đề ra phương hướng, giải pháp cho nhiệm kỳ mới, từ ngày 24 đến 25/7/2010, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã diễn ra.
Sau khi thảo luận Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ III, trình Đại hội lần thứ IV và khẳng định những thành tựu và nêu ra những hạn chế cần khắc phục cũng như thảo luận để đi đến thống nhất về phương hướng, mục tiêu trong nhiệm kỳ mới, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV gồm 35 đồng chí, Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Phạm Bá Diệm( ) được bầu làm Bí thư, đồng chí Vi Xuân Hiệp được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Lò Đình Múi( ) được bầu làm Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện.
Giai đoạn 2011 - 2015 và chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa V, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Những thành tựu đạt được của các giai đoạn trước, là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn tiếp tục phát huy sức mạnh đoàn kết, thống nhất toàn quân và dân tăng cường giữ vững quốc phòng an ninh, tạo bước phát triển mới với những thành quả nổi bật trong giai đoạn mới.
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 tăng 4,93% so với giai đoạn 2005 - 2010. Cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản từ 53% năm 2010 giảm xuống còn 49% năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt đạt 14,3 triệu đồng (năm 1997 thu nhập bình quân đầu người là 1,4 triệu đồng; năm 2000 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2,25 triệu đồng: năm 2005 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2,78 triệu đồng; năm 2010 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 6,7 triệu đồng; năm 2011 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 8,2 triệu). Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của huyện đã có sự phát triển nâng cao theo từng giai đoạn, đặc biệt là những năm gần đây (từ 2010 đến 2015) đã đem lại sự cải thiện rõ rệt cho đời sống nhân dân.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất năm 2015 gấp 1,78 lần so với năm 2010. An ninh lương thực tương đối ổn định, tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2015 ước đạt 14.950 tấn, tăng 40,93% so với năm 2010. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Nuôi trồng thủy sản được nhân dân chú trọng chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa, diện tích nuôi trồng được mở rộng.
Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên được triển khai thực hiện sâu rộng trong nhân dân. Việc chuyển đổi, cải tạo rừng nghèo kiệt sang cây trồng có giá trị kinh tế. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 duy trì mức 88%, so với năm 2010 tăng 7,9%. Quan Sơn hiện đang là huyện có độ che phủ rừng lớn nhất tỉnh Thanh Hóa. 
Ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 14,38%, giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 115 tỷ đồng, gấp 1,98 lần so với năm 2010. Trong giai đoạn 2010 - 2015, huyện có 18 doanh nghiệp và 85 cơ sở chế biến lâm sản được thành lập mới, đóng góp cho ngân sách huyện trên 8 tỷ đồng.
Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng tiếp tục được duy trì và phát triển.
Công tác giáo dục tiếp tục được quan tâm đầu tư của toàn xã hội, chất lượng giáo dục đã có sự chuyển biến tương đối toàn diện cả ở diện đại trà và mũi nhọn. Công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông được quan tâm, từng bước xây dựng mô hình xã hội học tập. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Đến hết năm 2015 toàn huyện có 14/14 trường đạt chuẩn.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân được quan tâm, có 6/13 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân từng bước được nâng lên. Từ năm 2010 đến 2015 đã khám chữa bệnh cho 224.083 lượt người trong đó có 2.300 lượt bệnh nhân là người Lào(1). Công tác y tế dự phòng được quan tâm thực hiện cùng với việc thanh tra, kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm.
Hoạt động văn hóa thông tin, thể thao có bước phát triển mới. Các giá trị văn hóa truyền thống được khơi dậy bảo tồn và phát huy, tiêu biểu là: Lễ hội Mường Xia; đền thờ tướng quân Tư Mã Hai Đào tại xã Sơn Thủy. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt kết quả khá. Đến năm 2015, toàn huyện có 88 đơn vị văn hóa, trong đó 53 bản, khu phố văn hóa và 35 cơ quan văn hóa. Hệ thống truyền thanh, truyền hình được đầu tư nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào thể dục thể thao phát triển sâu rộng, các vận động viên có năng khiếu được chú trọng quan tâm. Nhiều con em các dân tộc Quan Sơn đạt thành tích cao trong các hội thi “Hội khỏe Phù Đổng” do tỉnh tổ chức.
Công tác giáo dục luôn được Đảng bộ, chính quyền huyện quan tâm và được đầu tư của toàn xã hội. Giai đoạn này, chất lượng giáo dục phát triển cả ở học sinh đại trà và mũi nhọn. Mạng lưới trường, lớp học tiếp tục được sắp xếp hợp lý, đội ngũ giáo viên được bổ sung về số lượng và chất lượng; tỷ lệ cán bộ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn tăng ở các cấp (Mầm non 100%, Tiểu học 100%; Trung học cơ sở 92,1%; THPT 84,6%). Công tác hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh THPT được ngành Giáo dục huyện Quan tâm. Với sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, khắc phục khó khăn do chủ quan khách quan, năm 2015, huyện đã có 14/414 trường đạt chuẩn, đạt 31,8%.
Công tác quân sự, quốc phòng an ninh địa phương được tăng cường và triển khai đồng bộ có hiệu quả, phát huy được sức mạnh tổng hợp xây dựng quốc phòng toàn dân từng bước vững chắc. Năm 2012, Quan Sơn đã tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện và diễn tập chiến đấu trị an cho các cụm hàng năm theo kế hoạch. Chính sách hậu phương quân đội đã được quan tâm thực hiện có hiệu quả.
Đảng bộ, chính quyền Quan Sơn thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân nhất là các xã, các bản giáp biên thực hiện tốt quy chế biên giới; quan tâm, tăng cường mối quan hệ, đoàn kết, hữu nghị, truyền thống giữa Đảng, chính quyền và nhân dân huyện Quan Sơn với hai huyện Viêng Xay, Sầm Tớ (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) nói riêng, hai tỉnh Thanh Hóa, Hủa Phăn nói chung trong hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh biên giới góp phần tăng thêm mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giưa hai nước Việt Nam - Lào.
Giai đoạn 2011 - 2015 là giai đoạn Quan Sơn tập trung đẩy mạnh một số chương trình trọng tâm trong chiến lược phát triển của huyện:
Chương trình xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chủ trương của Trung ương, của tỉnh về xây dựng nông thôn mới. Ngày 28/10/2010, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 03 - NQ/HU về “Xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2011 - 2020”. Chương trình xây dựng nông thôn mới được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quan tâm chỉ đạo quyết liệt, sát thực; kết quả bước đầu chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng cơ sở được Nhà nước đầu tư, nhân dân hiến đất, góp công xây dựng; 66 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đăng ký giúp đỡ cho 37/93 bản xây dựng nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 39,36% số bản trên địa bàn huyện. Kết quả đạt bình quân 8,58 tiêu chí/xã, xã đạt cao nhất 11 tiêu chí, xã thấp nhất đạt 7 tiêu chí. Đến hết năm 2015, bình quân đạt 9,17 tiêu chí/xã, trong đó có 4 bản đạt chuẩn nông thôn mới.
Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững: Công tác giảm nghèo được toàn bộ Đảng bộ đặc biệt quan tâm từ việc lãnh đạo, chỉ đạo đến tổ chức triển khai thực hiện. Việc hỗ trợ phát triển sản xuất trong các chương trình, dự án được thực hiện hiệu quả; các hộ nghèo được tạo điều kiện thuận lợi cho vay vốn sản xuất và giải quyết việc làm, do đó đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới, toàn huyện giảm từ 51,91% năm 2010 xuống còn 20,84 năm 2015 (bình quân mỗi năm giảm 6%). 
Công tác giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 09 - NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đạt được những kết quả bước đầu; đã và đang triển khai có hiệu quả các mô hình sản xuất trồng gấc, nứa vầu, khoai mán, chuối tiêu hồng, bí xanh lai, tại các xã Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy...
Chương trình phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là dạy nghề: Các cấp ủy đảng, chính quyền của huyện đã có nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực mà trọng tâm tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đến nay, huyện có nguồn nhân lực khá dồi dào với nguồn lao động chiếm 59% dân số, chủ yếu là lao động trẻ. Hệ thống giáo dục phổ thông cơ bản có đầy đủ trường lớp và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề. Số người có việc làm thường xuyên là 58%, chủ yếu các ngành nghề: Nông, lâm, thủy sản; tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ thương mại, trong đó lao động làm nghề nông, lâm, thủy sản chiếm 53%. 
Bên cạnh những chương trình trọng điểm trên, xác định văn hóa tinh thần là mục tiêu, động lực để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, trong những năm qua, công tác văn hóa luôn được huyện Quan Sơn tập trung chỉ đạo. Năm 2012, huyện đã tổ chức thành công Liên hoan văn hóa các dân tộc lần thứ nhất, xây dựng được 2 đĩa DVD ca nhạc chào mừng 10 năm, 15 năm thành lập huyện như đĩa DVD Quan Sơn gọi bạn và Vang mãi khúc hát Quan Sơn. Thông qua các tiểu phẩm, bài hát, hình ảnh trực quan, băng zôn, khẩu hiệu đã phản ánh khí thế của nhân dân các dân tộc Quan Sơn cùng chung tay xây dựng nông thôn mới.
Nhằm triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ra Nghị quyết số 11 - NQ/HU ngày 28/1/2013 về phát triển Văn hóa và Du lịch giai đoạn 2013 - 2015 định hướng đến năm 2025, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành đề án Phát triển Văn hóa và Du lịch giai đoạn 2013 - 2015 định hướng đến năm 2025. Trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, huyện Quan Sơn đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhằm giúp mọi người dân, đặc biệt là người dân ở vùng đặc biệt khó khăn có cơ hội tiếp cận với công nghệ thông tin và Internet, Ban quản lý dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” phối hợp với UBND huyện Quan Sơn đã tổ chức các hoạt động “Ngày hội Internet” tại các điểm Bưu điện văn hóa xã và Thư viện huyện Quan Sơn, thu hút được sự hưởng ứng đông đảo của nhân dân.
Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” do quỹ Bill & Melinda Gates (Hoa Kỳ) tài trợ. Dự án này được tổ chức tại các huyện thuộc 40 tỉnh khó khăn nhất trong toàn quốc, trong đó Quan Sơn là 1 trong những huyện tham gia của dự án. Trong chương trình của dự án, “Ngày hội Internet” đã tổ chức tại 5 điểm truy cập Internet thuộc dự án trên địa bàn huyện Quan Sơn là Thư viện huyện và điểm Bưu điện văn hóa xã Sơn Thủy, Mường Mìn, Tam Lư, Tam Thanh. 
Với mục tiêu giới thiệu và quảng bá đến đông đảo tầng lớp nhân dân tại các vùng khó khăn của cả nước, dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” còn giúp các thư viện và các điểm Bưu điện văn hóa xã thay đổi được cách thức hoạt động và phục vụ thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển kỹ năng phục vụ, góp phần đạt được tầm nhìn phát triển của hệ thống thư viện và các điểm Bưu điện văn hóa xã. Các hoạt động của “Ngày hội Internet” đã đưa thông điệp “Thay đổi cuộc sống” tới mọi tầng lớp nhân dân.
Từ ngày 9 đến 11 tháng 8 năm 2015, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã diễn ra với sự tham dự của 215 đại biểu, đại diện cho 3.695 đảng viên trong toàn đảng bộ huyện.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 34 đồng chí, Ban Thường vụ 8 đồng chí.
Sau Đại hội, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, bộ máy lãnh đạo và các tổ chức của huyện sớm được ổn định và đi vào hoạt động.
Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn tập trung ngay vào việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đã đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. 
Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong điều kiện có nhiều thuận lợi: kinh tế đất nước phục hồi; nhiều cơ chế chính sách của nhà nước, của tỉnh giành cho khu vực miền núi tiếp tục được thực hiện; môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh tiếp tục được cải thiện; Khu kinh tế Nghi Sơn, các công trình, dự án quan trọng của tỉnh Thanh Hóa đã và đang được triển khai thực hiện tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung trong đó có Quan Sơn.
Trong giai đoạn 2015 - 2020, huyện Quan Sơn xác định mục tiêu là “huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội, thoát nghèo bền vững, cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân; bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội phấn đấu đến năm 2020 đưa Quan Sơn thoát khỏi huyện nghèo, trở thành huyện khá của khu vực miền núi”.
Để tổ chức lãnh đạo thực hiện thắng lợi và nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 vào cuộc sống, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa V) xây dựng Chương trình hành động thực hiện nghị quyết với những nội dung sau( ).
1. Các khâu đột phá
Trong phát triển kinh tế: Lựa chọn mũi nhọn phát triển lâm nghiệp, các cây nguyên liệu nứa, luồng, gắn với ngành công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi với quy mô tập trung. Hình thành chợ đầu mối về lâm sản để thu mua và quản lý tốt giá cả thị trường về mặt hàng lâm sản có sản lượng lớn của huyện. Phát triển mạnh mẽ ngành thương mại, dịch vụ, du lịch gắn với lợi thế của huyện như: Cửa khẩu, tài nguyên rừng, tuyến hành lang Quốc lộ 217 kết nối với nước bạn Lào, các danh lam thắng cảnh, bản sắc văn hóa các dân tộc.
Về đầu tư kết cấu hạ tầng: Công bố quy hoạch thị trấn Quan Sơn mở rộng, từng bước đầu tư hạ tầng, sắp xếp lại các cơ quan công sở trên địa bàn; khu trung tâm, thương mại, công viên giải trí, khu dân cư mới. Tham mưu hình thành khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, đầu tư xây dựng khu đô thị Trung Hạ, Sơn Điện; nâng cấp hệ thống giao thông xã, bản, hệ thống thủy lợi, các khu di dân tái định cư mang tính cấp thiết và xây dựng công sở các xã theo lộ trình.
Về xây dựng nông thôn mới: Kết hợp các nguồn lực của nhà nước hỗ trợ và đóng góp của nhân dân để đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh; vận động người dân chủ động xây dựng bản, xã nông thôn mới một cách bền vững, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp, môi trường xã hội lành mạnh. Phấn đấu đến năm 2020 có trên 30% số bản và 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Về văn hóa - xã hội: Tập trung đầu tư để từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất cho các trường học, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục - đào tạo; từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất cho các trạm y tế, đội ngũ y bác sỹ để phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân; bảo tồn và phát huy tốt bản sắc văn hóa các dân tộc; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2020 xuống dưới mức bình quân của khu vực miền núi.
Về xây dựng Đảng và công tác chỉ đạo: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chi bộ bản, khu phố, chất lượng đội ngũ đảng viên; nhanh chóng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuẩn, có năng lực công tác tốt phục vụ nhu cầu phát triển của huyện.
Đổi mới tư duy, phương pháp, tác phong lề lối công tác; phát huy dân chủ, xây dựng mối đoàn kết, tăng cường kỷ cương, tạo đồng thuận, khơi dậy nội lực và quyết tâm chính trị cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
2. Công tác lãnh đạo thực hiện 3 chương trình trọng tâm
Chương trình giảm nghèo bền vững; xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xóa đói, giảm nghèo. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chủ trì triển khai Cuộc vận động “Mỗi hộ nghèo phấn đấu thoát nghèo”, hướng dẫn cho người dân tự biết vươn lên trong phát triển kinh tế, tự tạo việc làm và nâng cao thu nhập mang tính bền vững;
Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Nghị quyết 09 - NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hóa đến năm 2020”; đẩy mạnh phát triển sản xuất tăng thu nhập; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; phấn đấu đến năm 2020 thoát khỏi huyện nghèo.
Ủy ban nhân dân huyện chủ trì, tham mưu cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện đánh giá lại tổng thể chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện giai đoạn 2011 - 2015, đề xuất giải pháp chung cho toàn huyện và giải pháp cụ thể cho từng xã, bản trong việc xây dựng nông thôn mới. Xác định quan điểm chỉ đạo trong xây dựng nông thôn mới của huyện theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ”, phát huy hiệu quả nội lực trong nhân dân để chủ động xây dựng nông thôn mới một cách bền vững, chống bệnh thành tích, nóng vội.
Chương trình phát triển kinh tế lâm, nông nghiệp: Triển khai đồng bộ chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU, ngày 20/4/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững”, phù hợp với điều kiện khả năng phát triển nông nghiệp của huyện.
Ủy ban nhân dân huyện chủ trì rà soát diện tích rừng nghèo, rừng trồng bị thoái hóa để cải tạo và phát triển trồng rừng kinh tế; phát triển các loại cây lợi thế như: vầu, nứa, luồng; nghiên cứu đưa các loại cây mới vào canh tác như: khoai sọ Mán( ), lúa nếp nương và các loại cây dược liệu quý hiếm... Xây dựng cơ sở chế biến từ nguồn nguyên liệu sẵn có trên địa bàn huyện, hạn chế đến mức thấp nhất xuất thô các sản phẩm từ sản xuất lâm nghiệp.
Chuyển đổi hình thức chăn nuôi gia súc, gia cầm từ chăn thả tự nhiên sang hình thức chăn nuôi chuồng trại, trang trại lớn kết hợp với việc phát triển một số điểm chợ nông thôn để tiêu thụ nông sản của nhân dân, trong đó phát triển các loại con nuôi chủ yếu như: trâu, bò, lợn cỏ, lợn lòi lai, dê và gà đồi... Xây dựng đề án chợ đầu mối về thu mua, bán lâm sản.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực: Ban Thường vụ Huyện ủy tham mưu triển khai đề án phát triển nguồn nhân lực của huyện đến năm 2020. Đẩy mạnh xã hội hóa học tập để nâng cao dân trí. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuẩn về chuyên môn; nâng cao hiệu quả đào tạo nghề phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% trở lên, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động xã hội, giải quyết việc làm, ổn định đời sống nhân dân.
3. Công tác lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh được xác định với 6 nội dung sau:
Lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, điều chỉnh, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: UBND huyện tập trung chỉ đạo rà soát, bổ sung, điều chỉnh và xây dựng mới quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời triển khai các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực chủ yếu của huyện đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Cụ thể là: quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng; quy hoạch khu đô thị thị trấn Quan Sơn, Na Mèo, Trung Hạ; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2025 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2020; quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; quy hoạch vùng thâm canh trồng cây vầu tập trung và bổ sung nâng cao chất lượng quy hoạch nông thôn mới; phát triển du lịch sinh thái, văn hóa, cộng đồng.
Căn cứ những quy hoạch đã được phê duyệt, UBND huyện chỉ đạo các ngành chức năng công bố công khai, rộng rãi trên cổng thông tin điện tử và các điểm quy hoạch, để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các tổ chức phi chính phủ; đồng thời tích cực đấu mối với các sở, ban, ngành cấp tỉnh để được bố trí vốn triển khai thực hiện. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tăng cường giám sát thực hiện quản lý các quy hoạch đã được duyệt.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh của huyện, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tạo bước đột phá về tốc độ, chất lượng tăng trưởng: Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng kế hoạch triển khai hiệu quả Nghị quyết của Huyện ủy về phát triển lâm, nông nghiệp; xác định rõ khâu đột phá trong nông nghiệp của huyện là phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi theo mô hình mới gắn với quản lý bảo vệ rừng. Đầu tư chợ đầu mối lâm sản làm cơ sở để thu mua tập trung, quyết định mặt bằng giá cho các loại cây chủ lực như: vầu, nứa, luồng.
Lựa chọn các khâu đột phá trong phát triển kinh tế như: Nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi; phát triển mô hình trang trại có quy mô lớn, sản xuất tập trung; tham mưu để cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án khu kinh tế quốc tế cửa khẩu Na Mèo gắn với phát triển thương mại, du lịch kết nối với nước bạn Lào, vùng Đông Bắc nước Thái Lan.
Xây dựng các cụm công nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại Na Mèo, Sơn Điện, Trung Hạ, gắn với khai thác chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng; khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, làm thủ công mỹ nghệ, chế biến sản phẩm lâm sản.
Tổ chức sắp xếp hợp lý mạng lưới thương mại gắn với quy hoạch đô thị như: Khu vực thị trấn huyện, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và các điểm đông dân cư như: Khu Km 61 xã Sơn Điện, khu Km 22 xã Trung Tiến, chợ Tam Thanh, chợ Sơn Hà... Thực hiện tốt công tác quản lý chợ, đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại, tìm thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp mà huyện sản xuất.
Đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu phát triển kinh tế du lịch ở một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trên địa bàn huyện như: Du lịch sinh thái rừng, địa danh cầu Pha Lò; động Bo Cúng (bản Chanh, xã Sơn Thủy); thác bản Nhài (xã Sơn Điện); động Nang Non (bản Păng, xã Sơn Lư); suối nước nóng bản Pù Khạn (xã Trung Thượng); Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo để tạo môi trường phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện. Ký kết chương trình phát triển du lịch giữa huyện Quan Sơn và huyện Viêng Xay (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) để kết nối tuyến hành lang du lịch.
Tập trung chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển: Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02 - NQ/TU của Tỉnh ủy. Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế của huyện Quan Sơn; khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế trong và ngoài huyện đầu tư vào lĩnh vực mà huyện có lợi thế so sánh như: lâm nghiệp, chăn nuôi, thương mại, dịch vụ, du lịch; kinh tế cửa khẩu.
Ủy ban nhân dân huyện tham mưu đề án phát triển đội ngũ doanh nghiệp và doanh nhân của huyện; Khai thác hiệu quả các chính sách về thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tạo điều kiện để phát triển các mô hình kinh tế hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới để tăng sức cạnh tranh, phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại. Có chính sách để khuyến khích hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; có cơ chế khuyến khích các hộ gia đình phát triển mạnh kinh tế hộ, gia trại, trang trại, tự tạo việc làm nâng cao thu nhập.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, từng bước hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật của huyện: Phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn lực từ tỉnh và các doanh nghiệp từng bước đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa, các khu tái định cư, khu đô thị, công sở các xã; trước mắt dồn nguồn lực để xây dựng công trình cấp thiết.
Tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các chương trình dự án khác, ưu tiên lồng ghép đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Có chính sách để kêu gọi thu hút đầu tư vào khu vực trọng điểm kinh tế Trung Hạ; khu đô thị Na Mèo; khu du lịch Động Bo Cúng, xã Sơn Thủy; khu du lịch sinh thái bản Khạn, xã Trung Thượng. Xây dựng điểm phát triển du lịch cộng đồng, các dự án định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số như: Dự án thực hiện định canh, định cư tập trung cho đồng bào dân tộc thiểu số bản Piềng Trang, xã Trung Xuân; bản Chiềng và bản Bơn, xã Mường Mìn; khu Vũng Cộp, xã Sơn Thủy; bản Piềng Vờn, xã Na Mèo; đề án ổn định đời sống, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc Mông huyện Quan Sơn giai đoạn 2016 - 2020. Đến năm 2020 đầu tư hoàn chỉnh hệ thống điện lưới cho 13 bản chưa có điện lưới quốc gia.
Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - xã hội; cải thiện chất lượng cuộc sống nhân dân: Phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng đạt chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo; trước mắt xây dựng trường Tiểu học và Trung học cơ sở thị trấn Quan Sơn thành trường trọng điểm chất lượng cao của huyện, bình quân hàng năm xây dựng 2 trường đạt chuẩn quốc gia trở lên. Duy trì vững chắc phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS; tăng cường cơ sở vật chất cho dạy nghề trên địa bàn huyện.
Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng cho nhân dân theo hướng hiện đại, dự phòng tích cực và chủ động; đảm bảo mọi người dân đều được khám, chữa bệnh ban đầu và cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản ở cơ sở; làm tốt công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Không ngừng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và y đức cho đội ngũ y tế để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở tất cả các tuyến; phấn đấu đến năm 2020 đạt trên 76,9% số xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 16%.
Quan tâm đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở; xây dựng hoàn thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ văn hóa và các hạt nhân văn hóa thể thao cơ sở. Phát động sâu rộng phong trào rèn luyện thể dục thể thao, các hội thao, hội diễn ở cơ sở và trong trường học.
Đổi mới công tác thông tin tuyên truyền với các hình thức sinh động để đến với đồng bào các dân tộc. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho hệ thống truyền thanh - truyền hình, nhằm phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật và phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân.
Đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân; công tác quản lý bảo vệ rừng: Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 28 - NQ/TW của Bộ Chính trị về việc xây dựng thế trận khu vực trong phòng thủ huyện vững chắc trong tình hình mới. Làm tốt công tác quân sự địa phương, sẵn sàng chủ động trong mọi tình huống.
Tạo mọi điều kiện và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng như: Quân sự, Biên phòng, Công an, Kiểm lâm đảm bảo vững chắc an ninh biên giới, an ninh tôn giáo; phòng chống cháy rừng, ngăn chặn kịp thời việc tuyên truyền xây dựng nhà nước Mông của các thế lực thù địch.
 Phát động sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự; phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm, các tệ nạn xã hội như nghiện hút ma túy, nạn cờ bạc, số đề...
Đẩy mạnh các biện pháp kiềm chế tai nạn giao thông, vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, nhất là tuyến Quốc lộ 217. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể phát động phong trào xây dựng tuyến hành lang Quốc lộ 217 xanh - sạch - đẹp; vận động nhân dân xung kích tự quản các tuyến đường huyện, xã, bản một cách thiết thực và bền vững.
Duy trì nghiêm túc chế độ tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở không để xảy ra khiếu kiện đông người, vượt cấp.
Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch vững mạnh, thực sự là công cụ sắc bén của Đảng và là chỗ dựa tin cậy của nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các vụ việc xử lý vi phạm pháp luật, nhằm tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, xây dựng đường biên giới thân thiện, hữu nghị; tăng cường giao lưu kết nghĩa, làm sâu sắc thêm mối đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân các dân tộc Quan Sơn với các bản, huyện của nước bạn Lào nơi có chung đường biên giới.
Các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và vận động nhân dân làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, phát triển rừng bền vững; duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng 84% vào năm 2020. Ban hành Nghị quyết về bảo vệ môi trường, đảm bảo đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng, chống săn bắt, sử dụng động vật quý hiếm.
4. Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, được xác định với 7 nội dung sau:
Coi trọng công tác chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên: Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tập trung làm tốt công tác chính trị tư tưởng để mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thanh Hóa về phát triển miền núi, xóa đói giảm nghèo; tạo sự quyết tâm, chủ động để phát huy nội lực của huyện trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng huyện Quan Sơn trở thành huyện khá.
Các trường học, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện có kế hoạch cụ thể để đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, triển khai học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); xây dựng đội ngũ cán bộ trách nhiệm, tận tụy phục vụ nhân dân.
Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, nhất là chi bộ đảng ở địa bàn dân cư; phát triển đảng viên ở các bản, nâng cao chất lượng đảng viên. Ban Thường vụ Huyện ủy triển khai đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chi bộ bản, khu phố”.
Ban Tổ chức Huyện ủy tham mưu để Ban Thường vụ, Ban Chấp hành thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch nguồn cán bộ, đi đôi với việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đánh giá, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ có năng lực thực tế, đồng thời quan tâm đến chính sách cán bộ một cách hợp lý.
Không ngừng mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá, nhận xét cán bộ. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ tham mưu.
 Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành đề án luân chuyển đội ngũ cán bộ tại các xã, thị trấn theo tinh thần Kết luận 60 - KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tiếp tục thực hiện đề án điều động, luân chuyển một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện đảm nhiệm các chức danh chủ chốt ở cơ sở, điều động một số chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND không phải là người địa phương.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh: Nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy đảng, Ủy ban kiểm tra các cấp, trước hết là người đứng đầu cấp ủy.
 Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát toàn khóa, hàng năm; chú trọng tổ chức kiểm tra tổ chức cơ sở đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm; tập trung kiểm tra, giám sát những ngành, lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm như: quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên; chi tiêu ngân sách, mua sắm tài sản; quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; giải phóng mặt bằng; thực hiện các chương trình, dự án; việc thu và phân bổ các quỹ phòng chống thiên tai, từ thiện.. để chủ động phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn những sai phạm.
Tiến hành kiểm tra, giám sát những nơi có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định có tính nguyên tắc trong tổ chức sinh hoạt Đảng, mất đoàn kết nội bộ. Kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về năng lực lãnh đạo, quản lý; về phẩm chất đạo đức lối sống; về phong cách và tính tiên phong gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ thi hành kỷ luật trong Đảng đảm bảo nguyên tắc, thủ tục giữ vững kỷ cương và tăng cường kỷ luật của Đảng.
 Duy trì hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
Đổi mới công tác dân vận trong tình hình mới: Xây dựng, triển khai đề án đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Dân vận ở cơ sở giai đoạn 2016 - 2020, trọng tâm là triển khai thực hiện Chỉ thị 49 - CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”; thực hiện tốt Quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc.
 Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới. Thường xuyên sâu sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, nổi cộm của nhân dân.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc: Các cấp ủy đảng tập trung xây dựng Quy chế làm việc, Chương trình công tác toàn khóa và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình; đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng.
Nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng.
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải tiến lề lối, tác phong công tác của các Ban Đảng, Văn phòng Huyện ủy và Đảng ủy các xã, thị trấn; phát huy có hiệu quả mạng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy từ huyện đến cơ sở.
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Hội đồng nhân dân; nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp;
Quán triệt triển khai Luật tổ chức chính quyền địa phương; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và trách nhiệm của đại biểu HĐND các cấp; chủ động phối hợp xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát có trọng tâm, trọng điểm; đổi mới nâng cao chất lượng các buổi tiếp xúc cử tri.
Nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành, quản lý thống nhất trong hoạt động của bộ máy hành chính từ huyện đến cơ sở. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các mặt yếu kém, tồn tại kéo dài như: Quản lý xây dựng dân dụng, lấn chiếm lòng lề đường; quản lý tài nguyên; Các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước; công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông; bảo tồn các giá trị văn hóa cộng đồng.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nêu cao trách nhiệm thực thi công vụ trong đội ngũ cán bộ công chức; đồng thời cương quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật, vi phạm quy chế, không hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội quần chúng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân: Các cấp ủy đảng tăng cường lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội quần chúng theo hướng đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng; chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, hội viên và nhân dân; thực hiện tốt chức năng tư vấn, giám sát, phản biện xã hội.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát huy tốt trách nhiệm, sâu sát với cơ sở, nắm chắc tình hình cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân; tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy dân chủ, tham gia góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Ban Dân vận Huyện ủy chủ trì phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xây dựng đề án khơi dậy sức dân, phát huy nội lực, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ rừng, giữ vững quốc phòng - an ninh.
Sau gần 20 năm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quan Sơn, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy được thế mạnh của huyện, các ngành nghề truyền thống được khôi phục, một số ngành nghề mới được phát triển, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo. Văn hóa xã hội Quan Sơn có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường, góp phần tích cực vào thành tựu chung của tỉnh và cả nước. Đảng bộ huyện Quan Sơn không ngừng được củng cố cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Hoạt động của chính quyền có nhiều đổi mới. Nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn huyện. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế và phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, song những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn đạt được trong gần 20 năm là rất quan trọng, tạo tiền đề để Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn phát huy nội lực, kết hợp ngoại lực, xây dựng Quan Sơn ngày càng phát triển./.
 


Các bài viết gần đây

Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 12
 Hôm nay: 150
 Tổng số truy cập: 508415
  • Bản quyền © Huyện Quan Sơn
  • Địa chỉ: Thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Email: bbtquanson@gmail.com - ĐT:0942.530.693
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa
  • Ghi rõ nguồn tin: "huyenquanson.vn" khi phát lại thông tin từ Cổng TTĐT