Trang chủ   /   Dư Địa Chí Huyện Quan Sơn   /   Chương 5 KINH TẾ
Chương 5 KINH TẾ
5.1. KINH TẾ TRUYỀN THỐNG HUYỆN QUAN SƠN

5.1.1. Khái quát chung
Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là sự phát triển của phương thức lao động sản xuất. Trình độ phát triển sản xuất là thước đo sự phát triển của xã hội. Vì vậy, tìm hiểu hoạt động của con người trên các lĩnh vực kinh tế là điều cần thiết để rút ra được những kinh nghiệm, bài học trong quá khứ và hoạch định phương hướng, kế hoạch cho sự phát triển bền vững.
Qua những dấu vết cổ xưa, ta có thể thấy, con người đã có mặt ở vùng đất thuộc địa bàn huyện Quan Sơn từ rất sớm và có sự phát triển liên tục( ). Do đặc điểm về địa lý nên kinh tế truyền thống chủ yếu là hoạt động kinh tế gia đình của các tộc người cư trú lâu đời trên vùng đất Quan Sơn. Theo đó, lịch sử phát triển của các loại hình công cụ sản xuất, săn bắt, các hình thức chăn nuôi, từ cái rìu đá, rìu đồng, cây gậy chọc lỗ đến cái cày, cái bừa, cái liềm gặt lúa, cối tre xay, từ cái nỏ đến khẩu súng săn, từ cái xa quay sợi đến cái khung cửi dệt vải, guồng nước... đều phản ánh sinh động bước phát triển của các chặng đường phát triển kỹ thuật, kinh tế. Sự hình thành và phát triển các loại hình kinh tế truyền thống trên vùng đất Quan Sơn gắn liền với sự tiến bộ, phát triển của trí tuệ con người, của khoa học kỹ thuật theo quy luật chung và những nét riêng, góp phần làm nên bản sắc văn hóa tộc người của vùng đất này. 
Kinh tế hái lượm ở Quan Sơn có một cơ sở tự nhiên thuận lợi, cung cấp sản vật bốn mùa, mùa nào thức nấy. Hệ thực vật của Quan Sơn rất phong phú. Đây là nơi ít xảy ra những biến cố địa lý lớn, diện tích lại khá rộng nên con người có thể hái nhiều loại quả của rừng nhiệt đới hoặc các loại nấm, măng, các loại rau, hạt ăn được. Với những cây gậy tre, gỗ hoặc công cụ đá, họ có thể đào rễ cây, củ quả và còn có thể thu nhặt trứng, mật ong, những con vật nhỏ như côn trùng, ếch nhái, cua, rùa, các loài bò sát... Kinh tế hái lượm đã ra đời cùng với sự xuất hiện của con người và tồn tại ở vùng đất Quan Sơn một thời gian dài.
Cùng với hoạt động hái lượm, hoạt động săn bắt cũng phát triển bởi rừng của Quan Sơn ngày trước có một hệ động vật giàu về thành phần loài và có trữ lượng khá lớn. Hoạt động săn bắt - săn bắn không chỉ cung cấp thức ăn cho con người mà còn liên quan chặt chẽ với trồng trọt, để bảo vệ rẫy, mùa màng. Người Thái cũng như bao cư dân miền núi khác, thường săn bắt những sản vật từ rừng, hái lượm các loại rau, củ, nấm,... Đó là công việc của người phụ nữ Thái kết hợp khi đi rẫy, xuống ruộng, lúc nông nhàn việc săn bắt là do người đàn ông đảm nhiệm.
Đánh bắt cá, thủy sản cũng là một hoạt động truyền thống ở Quan Sơn. Diện tích mặt nước, sông suối ở đây khá lớn, cư dân trước đây ở Quan Sơn thường sinh sống ở ven bờ sông, bờ suối. Sông suối ở Quan Sơn có nhiều loài cá và các loài thủy sản khác( ). Sông, suối có vai trò quan trọng với cư dân nơi đây không chỉ vì cung cấp nguồn thức ăn mà còn là con đường giao lưu với các khu vực khác và là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. 
Nghề nông hình thành, bước đầu chỉ thuần hóa và trồng trọt những loài cây có củ, như củ mài, khoai nước... Sau đó, nghề nông được phát triển mạnh ở vào thời hậu kỳ Đá mới khi công cụ sản xuất phát triển khác nhau, trong đó rìu đá mài là một công cụ quan trọng của kinh tế rẫy. Nghề nông xuất hiện bắt đầu cung cấp thức ăn cho con người thường xuyên hơn và cho năng suất cao hơn hái lượm, săn bắt nên dần phát triển thành ngành kinh tế chủ đạo.
Kỹ thuật canh tác rẫy cũng dần hình thành với phương pháp “đao canh hỏa chủng” và thường mỗi năm chỉ làm một vụ. Trước hết là chọn đất, sau đó là phát cây, để cây khô rồi đốt trước khi có mưa vài ngày. Sau khi đốt cây, trên mặt đất có một lớp tro làm phân bón. Sau đó người ta xới đất bằng cuốc đá hoặc cuốc gỗ, rồi sử dụng gậy gỗ hoặc tre vót nhọn để chọc lỗ tra hạt. Sau khi gieo hạt, khâu quan trọng là bảo vệ và chăm sóc rẫy. Họ phải dựng chòi canh trên rẫy, rào rẫy, đặt bẫy để chống thú rừng đến phá hoại, đuổi chim chóc vào lúc gieo hạt và lúa chín.
Nông nghiệp hình thành, trở thành một nghề chính trong kinh tế. Cây trồng chính là lúa. Lúa xuất hiện từ sớm và là giống cây trồng chủ đạo trong ngành nông nghiệp từ xưa. Dần theo thời gian, người Quan Sơn đã tạo ra được nhiều giống lúa rẫy phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương( ).
Ngoài cây lương thực, thực phẩm, họ còn trồng trên rẫy các loài cây khác, như bông vải, chè, cây ăn quả,... Ngoài canh tác rẫy, ở Quan Sơn cũng tồn tại hình thức làm ruộng nước, nhưng diện tích loại ruộng này không lớn lắm.
Kinh tế trồng trọt đóng vai trò quan trọng đối với người Quan Sơn. Cuộc sống của họ chủ yếu diễn ra trên rẫy, ruộng nước. Mọi nghề phụ đều xoay quanh kinh tế trồng trọt. Nhưng việc trồng trọt trước đây chỉ thực hiện một vụ cho năng suất thấp, bấp bênh, không ổn định do phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên nên con người không đủ lương thực để sống, trong khi rừng vẫn là nguồn cung cấp thức ăn và những vật dụng cần thiết. Do đó, kinh tế trồng trọt gắn chặt với kinh tế hái lượm và săn bắt đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển ở Quan Sơn.
Ngoài trồng trọt, kinh tế chăn nuôi cũng dần xuất hiện. Cũng như ở nhiều địa phương khác trong tỉnh, trong nước, ở Quan Sơn việc thuần hóa động vật diễn ra muộn hơn nhiều so với việc thuần hóa thực vật. Chó có thể là động vật được thuần hóa sớm nhất, vì chó giúp người đi săn và cũng trở thành người bạn thân thiết của con người. Sau đó là lợn, vì lợn rừng phân bố trên một địa bàn rất rộng ở Đông Nam Á và dễ thuần phục hơn các loài động vật khác. Tiếp theo, có thể là các loài động vật nhỏ khác được thuần dưỡng trước như gà, vịt... rồi sau đó đến động vật lớn như trâu, bò... Trâu được nuôi chủ yếu để dùng vào sản xuất nông nghiệp hoặc để trao đổi. Trước đây, việc nuôi trâu của người dân thường bằng cách thả rông ở bãi chăn thả hoặc trong rừng. 
Sự phát triển của sức sản xuất đã dần dần tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của thủ công gia đình để phục vụ sản xuất và sinh hoạt như các nghề dệt vải, đan lát,... Ở Quan Sơn có nhiều tre, nứa, vầu nên xuất hiện nghề đan lát các vật dụng như rổ rá, gùi... Do nhu cầu của nghề dệt, nên người ta trồng và khai thác những cây có sợi và trồng bông, gai, đay. Dệt vải là công việc bắt buộc của người phụ nữ để trước hết cung cấp cho nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Nghề mộc cũng phát triển, do rừng Quan Sơn có rất nhiều gỗ và con người có mặt trên vùng đất Quan Sơn khá sớm nên họ sử dụng gỗ, luồng để làm nhà và các vật dụng trong cuộc sống hàng ngày. 
Các nghề thủ công ở Quan Sơn khá phong phú, nhưng quá trình thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp diễn ra chậm chạp và yếu ớt. Tất cả mọi công cụ lao động, vải vóc, đồ đan, đồ gỗ... đều do tự sản xuất. Thủ công nghiệp trong một thời gian dài ở Quan Sơn chỉ mang tính chất nghề phụ gia đình. Tuy vậy, khi sản xuất phát triển, sự phân công lao động bước đầu đã diễn ra ở một số ngành kinh tế nên xuất hiện nhu cầu trao đổi. Người dân vừa trồng lúa nước, lúa rẫy, trồng rau củ quả, chăn nuôi gia cầm, gia súc, làm nghề phụ để tự cung tự cấp, kết hợp khai thác lâm thổ sản để giao lưu, trao đổi các mặt hàng phục vụ cho đời sống.
Như vậy, kinh tế truyền thống huyện Quan Sơn đã đi qua những chặng đường dài với những hoạt động kinh tế truyền thống cơ bản trên cơ sở điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của cư dân ở địa phương với cách làm phổ biến của đồng bào Thái, Mường là những cư dân hiện còn biết đến đã có mặt khá sớm trên vùng đất này. Về cơ bản, hoạt động kinh tế truyền thống ở Quan Sơn bao gồm các lĩnh vực chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm nghề thủ công, khai thác kinh tế từ rừng( ). Truyền thống và những tri thức tích lũy được của người dân trong quá trình sản xuất cần được xem như những thành quả lao động sản xuất, phát triển kinh tế. Trong đó, truyền thống kinh tế, văn hóa - xã hội được bảo tồn, chọn lựa để tạo ra những điều kiện cho vùng đất Quan Sơn liên tục phát triển.
5.1.2. Hoạt động nông nghiệp truyền thống
Cư dân Quan Sơn vốn làm nông nghiệp, nghề nông (trồng trọt) lại gắn liền với thủy lợi và chăn nuôi. Kinh tế nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của cộng đồng cư dân nơi đây từ thời nguyên thủy với nền nông nghiệp sơ khai cho đến hiện nay.
Trong cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Quan Sơn hiện nay, dân tộc Thái là tộc người cư trú lâu đời, dân số đông và trong truyền thống, tiêu biểu cho các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Vì vậy, khi trình bày về kinh tế nông nghiệp truyền thống nói riêng, kinh tế truyền thống nói chung ở Quan Sơn, cuốn địa chí này chủ yếu đề cập đến các hoạt động của người Thái và một số nét tiêu biểu của người Mường. Mặc dù người Kinh là tộc người có số dân đông thứ hai ở Quan Sơn, chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế Quan Sơn, sau tiếp là người Mông, nhưng trong phần kinh tế truyền thống sẽ không trình bày kỹ về hoạt động kinh tế của các tộc người này.
a. Trồng trọt
Sản xuất nông nghiệp (trồng trọt) truyền thống ở huyện Quan Sơn được tiến hành chủ yếu trên 2 loại hình đất đai là ruộng nước và rẫy.
Người Thái cũng như người Mường ở huyện Quan Sơn có thế mạnh trong kỹ thuật canh tác lúa rẫy với một hệ thống những tri thức liên hoàn các khâu từ chọn đất canh tác đến khâu thu hoạch và để lúa giống.
* Chọn đất, làm đất rẫy
Trong cuộc sống của người Thái, rẫy có nhiều tác dụng. Rẫy cùng với ruộng nước giải quyết nhu cầu về lương thực, ngoài ra rẫy còn là nơi cung cấp thức ăn có chất bột như các loại cây có củ, trồng rau và đặc biệt là trồng bông, chàm, đay để giải quyết nhu cầu mặc. Như vậy, rẫy đã cho phép người ta mở rộng việc trồng trọt với việc xen canh nhiều loại cây trồng rất tốt. Đây là một lợi thế của việc làm rẫy cổ truyền. Chính nhờ lợi thế này mà đại bộ phận họ đã định canh, định cư, với việc làm ruộng và thực hiện luân canh trên rẫy nhằm tăng thêm sản phẩm nông nghiệp. Một lý do khác khiến đồng bào không bỏ việc làm rẫy, vì trong xã hội cũ tầng lớp quý tộc Thái với bộ máy thống trị thực hiện quyền bóc lột nhân dân lao động trên nền tảng ruộng nước chứ không đưa trực tiếp trên những mảnh rẫy. Như vậy, pháp lý xưa đã thừa nhận rẫy là “đất tự do” của người sản xuất. Đây là một yếu tố xã hội đã góp phần đẩy một bộ phận người lao động tách hẳn ruộng để làm rẫy, hoặc chỉ làm một phần ruộng còn chủ yếu bằng rẫy. Những cư dân chuyên sinh sống bằng rẫy đã mất hoàn toàn ưu thế định canh, định cư của người làm ruộng nước. Thực tế ấy, người Thái ở miền núi Thanh Hóa đã coi việc bỏ ruộng để làm rẫy là sự miễn cưỡng. Ngược lại, nếu có ruộng để định canh, định cư và có rẫy để làm nguồn thu nhập bù đắp chỗ thiếu của ruộng đã trở thành cuộc sống lý tưởng của người nông dân Thái. 
Rẫy của người Thái có nhiều loại: rẫy dốc, rẫy bằng... Nhưng phổ biến hơn cả là loại rẫy dùng thuổng và gậy chọc lỗ. Đồng bào gọi rẫy là “háy”. Theo tiếng Thái, “háy” là một khoảng đất rừng bị người ta chặt, đốt, dọn sạch, xới đất để trồng trọt. Lối canh tác này, ngày xưa còn gọi là “đao canh, hỏa chủng” (canh tác bằng dao, đốt bằng lửa rồi trồng).
Từ các loại cây trồng trên rẫy của người Thái, có thể phân chia thành những loại rẫy chuyên canh đồng thời xen canh như: rẫy lúa thường trồng xen vừng, lạc, khoai sọ, bầu bí, rau... rẫy ngô trồng xen bầu bí... rẫy trồng bông; rẫy kê xen vừng; rẫy sắn.
Tất cả những rẫy này nói chung đều phải qua các biện pháp kỹ thuật liên hoàn: chọn đất, phát rừng, đốt và dọn, xới đất, trồng trọt, chăm sóc và thu hoạch. Để thực hiện các biện pháp này, họ chỉ cần sử dụng những công cụ đơn giản như dao, rìu, gậy chọc lỗ, liềm, dao nhíp (để thu hoạch)...
Để có đất làm rẫy, người ta phải đi vào rừng để chọn đất khá công phu. Theo kinh nghiệm dân gian, đất rừng nứa và rừng cây gỗ to phát rẫy là thích hợp vì hai loại rừng giữ nước ngầm. Để kiểm tra độ tốt xấu của đất, cắm lưỡi dao sâu xuống đất khoảng 20 - 30cm, khi rút dao lên nếu đất bám chắc và nhiều, màu nâu đen là đất tốt. Đất xấu là đất ở đồi cao, cây cối cằn cỗi, khó cắm dao xuống đất hoặc khi rút dao lên đất khô, không bám, nhiều sỏi...
Bắt đầu từ tháng 1 âm lịch, người ta bắt đầu phát rẫy. Phát xong phải “ủ cây” (bốm chá), tác dụng của nó cũng như cày ải ở ruộng nước. Sang tháng 2 âm lịch, người ta bắt đầu đốt và dọn rẫy. Từ xưa người ta đã nghĩ tới biện pháp chống lửa cháy lan rừng. Đó là cách tạo ra một đường rạch cỏ cây bao quanh rẫy, gọi là “kón háy”. Khi lửa cháy tới sẽ không có cây cỏ khô để bắc cầu lan vào rừng. Sau khi đốt, người Thái bắt tay vào việc dọn sạch rẫy (hạ háy). Tiếp sang khâu xới qua đất để trải tro than đồng đều khắp mặt rẫy, gọi là (cúm háy). Khoảng cuối tháng 3, 4 âm lịch, người làm rẫy bắt đầu vào mùa gieo hạt. Cách tra hạt giống của họ là đàn ông đi trước dùng gậy bằng gỗ vạt nhọn đầu ở phần gốc, chọc xuống đất tạo ra lỗ, đàn bà theo sau tra hạt.
Nếu ở ruộng, khâu cấy quyết định thời vụ, thì ở rẫy khâu đốt và trồng sẽ định rõ thời vụ. Canh tác rẫy yêu cầu đúng thời vụ hơn ruộng nên các khâu liên hoàn thường phải tiến hành trong một, hai tháng rất khẩn trương.
* Bảo vệ đất rẫy
- Bờ cản chống xói mòn:
Hệ thống bờ cản này được làm bằng cách khi dọn rẫy chuẩn bị gieo hạt người ta sẽ gom thân, rễ cây thành những “bờ cản” chạy ngang với độ dốc của rẫy để cản dòng chảy của nước, nhằm hạn chế sự rửa trôi lớp đất màu. Số lượng và chiều dài của “bờ cản” phụ thuộc vào diện tích, còn khoảng cách giữa hai “bờ cản” phụ thuộc vào độ dốc của rẫy. Thông thường, “bờ cản” cách nhau khoảng 5 - 6m, nếu rẫy có độ dốc càng lớn thì khoảng cách giữa các “bờ cản” càng gần nhau. “Bờ cản” này sẽ được “gia cố” nhiều lần trong vụ sản xuất bằng cách khi làm cỏ cho lúa (hoặc hoa màu), khi thu hoạch... thì cỏ rác hoặc rơm rạ (nếu trồng lúa) và thân cây (nếu trồng ngô, đậu...) được thu gom rải đều lên “bờ cản” để tăng khả năng chống xói mòn. 
Khi lúa và hoa màu đã thu hoạch xong thì những “bờ cản” này sẽ mục và tản dần ra khắp mặt rẫy, tăng độ mùn cho đất. Khi bước vào vụ sản xuất mới người ta lại thiết lập các “bờ cản” để hạn chế sự xói mòn và bạc màu của đất.
- Đào rãnh chống xói mòn:
Sau khi phát rẫy người ta tiến hành đào rãnh ở trên đỉnh và dọc hai bên sườn của rẫy để hướng dòng chảy của nước mưa theo đường nhất định, tránh việc nước chảy tràn trên mặt rẫy sẽ xói mòn và cuốn theo lớp đất màu. Rãnh đào thường rộng 30 - 40 cm, sâu 20 - 30 cm, đất đào lên sẽ được đắp thành “đê” dọc theo rãnh, ở phía trong rẫy để cản nước. Nhìn chung, việc đào rãnh nhằm hạn chế sự xói mòn của đất là khá hiệu quả, nhưng cũng tốn nhiều thời gian và công sức( ).
- Trồng cây, rào rẫy, xếp đá chống xói mòn:
Trên một số rẫy người Thái còn trồng cây hoặc rào theo bờ của rẫy để chống xói mòn và ngăn cản trâu, bò phá hoại hoa màu (những rẫy gần bản). Cũng có thể khi phát rẫy người ta để lại những cây dọc theo bờ rẫy để làm hàng rào bảo vệ. 
Đối với những rẫy có đất lẫn đá thì người ta phải nhặt đá để thuận lợi cho quá trình canh tác. Đá được xếp thành bờ chạy ngang theo độ dốc của rẫy có tác dụng ngăn dòng chảy của nước mưa, hạn chế xói mòn cho đất.
- Sử dụng công cụ lao động:
Trong canh tác, tùy thuộc vào chất lượng đất, độ dốc... của rẫy mà người dân sẽ sử dụng những công cụ hoặc áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.
Đối với rẫy bằng, có thể dùng cày, bừa để làm cho đất thông thoáng, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tạo điều kiện cho năng suất cây trồng cao hơn, thời gian canh tác lâu dài (khoảng 9 - 10 năm).
Đối với rẫy dốc thì rất khó dùng cày, nhưng điều quan trọng hơn là nếu dùng cày hay cuốc thì sẽ xới tung lớp đất mặt và đất dễ bị bào mòn, rửa trôi. Người dân thường dùng gậy chọc lỗ tra hạt khi trồng lúa. Thực tế cho thấy công cụ này là sự lựa chọn tối ưu để bảo vệ độ phì cho đất, vì nó không phá vỡ cấu trúc của lớp đất mặt. Hơn nữa, chọc lỗ tra hạt còn có tác dụng làm cho cây mọc đều, chụm, nên thuận lợi cho việc làm cỏ, thu hoạch. 
- Thực hiện xen canh, “bỏ hoang”:
Trong canh tác rẫy, người dân tiến hành xen canh, gối vụ. Việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc luôn tạo thảm thực vật trên mặt đất, chống xói mòn, đồng thời tranh thủ được thời vụ, tránh tình trạng mất trắng mùa màng. Thông thường, rẫy lúa trồng xen kê, ngô, bầu bí (lúa trồng ở giữa, xung quanh trồng các loại cây trồng trên); rẫy sắn trồng xen đậu, bầu bí...
Để bảo vệ đất, người dân còn thực hiện chế độ “bỏ hoang” trong canh tác rẫy rẫy. Theo kinh nghiệm của người Thái thì một mảnh rẫy chỉ nên làm tối đa là ba vụ. Sau đó rẫy được bỏ hóa trong khoảng 5 - 10 năm hoặc dài hơn tùy thuộc vào chất lượng đất ở đó tốt hay xấu và nhu cầu về đất canh tác của người dân. Trong thời gian bỏ đất hoang hóa, rừng lại mọc trở lại và chờ đợi một chu kỳ canh tác mới.
* Kinh nghiệm canh tác lúa rẫy
Làm đất được coi là khâu đầu tiên, rất quan trọng trong mùa vụ. Do đó cũng có thể nói chọn đất làm rẫy là khâu quan trọng trong kỹ thuật canh tác. Người Thái có kinh nghiệm chọn địa điểm làm rẫy trồng lúa tốt nhất là gần chân núi đá cao, có khả năng giữ được nước. Khu đất đó tốt nhất là bãi bằng, nếu không thì thoai thoải không dốc quá, đất phải có màu xám đen hoặc đất vàng sẫm (không chọn khu đất đỏ). Đất trồng lúa là đất có mùn dày màu nâu, hoặc xám, không quá xốp. Nếu dùng dao thuổng hoặc que chọc xuống đất khi rút lên thấy đất bám dính là trồng lúa tốt. Hướng rẫy lúa về phía đông sẽ tốt hơn hướng rẫy lúa về phía tây vì phía tây nắng nóng buổi chiều sẽ dễ làm khô đất và chết lúa.
Trước đây chọn đất phát rừng làm rẫy phải là những khu đất giáp với các cánh rừng già, có cây mọc nhiều, thường là thoải theo triền dốc, nhưng không được dốc quá. Câu thành ngữ “một hòn đá có hai lạng mỡ” là có ý nói chọn đất làm rẫy là phải chọn nơi có màu do lượng mùn dày, là nơi có nguồn nước từ trong rừng già chảy qua, có như vậy thì đất mới đảm bảo được độ ẩm cho đất khi mùa khô lạnh đến.
- Xử lý thực bì trồng lúa rẫy:
Chọn thực bì để làm lúa rẫy thường là chọn rừng nứa, vầu hỗn giao; tránh rừng có nhiều le, cây thân gỗ vì rừng le khô đất, chồi le tái sinh nhanh, mạnh nên khó làm cỏ, rừng nhiều gỗ khó đốt, khó dọn, gỗ hạ xuống nằm ngổn ngang chiếm nhiều diện tích không tỉa được nhiều lúa, hơn nữa chuột có nhiều chỗ ẩn nấp để hại mùa màng. Việc phát rẫy được người Thái tiến hành rất hợp lý. Phát thực bì vào tháng 2, tháng 4 dương lịch (tháng 1 - 3 âm lịch) hằng năm. Nếu rừng già phải phát từ tháng 1 (tháng 12 âm của năm trước). Thời gian chọn đất canh tác, chọn đất phát rẫy làm rẫy thường được thực hiện vào mùa khô, thông thường công việc phát rẫy được thực hiện vào tháng 12. Trước đây, người Thái không có thói quen dùng phân bón hóa học mà chủ yếu là phân tự nhiên, phân hữu cơ từ trên rừng chảy về, phân gia súc. 
- Các loại giống lúa rẫy:
Tập quán canh tác lúa rẫy lâu đời đã giúp người Thái ở vùng Quan Sơn tạo được nhiều loại giống lúa rẫy, bao gồm cả lúa nếp và lúa tẻ. 
Các giống lúa nếp gồm:
Kháu háng ngùa (hạt lúa có râu màu vàng như đuôi bò), 
Kháu mác khén (hạt tròn, gạo trắng thơm, dẻo), 
Kháu pé lạnh (có đặc tính chịu được nắng hạn), 
Kháu cắm pạnh háng (nếp cẩm làm thuốc, lá và hạt lúa, gạo màu tím, hạt lúa có râu), 
Kháu xay khòn (vỏ hơi tím, gạo có màng lụa tím, bẻ hạt gạo thì trắng),
Kháu dói (hạt vàng nhạt, có tia đỏ, gạo có mùi thơm)... 
Các giống lúa tẻ gồm:
Kháu chăm háng (hạt lúa dài màu vàng có râu), 
Kháu chăm khếm (hạt lúa dài có râu ngắn nhọn), 
Kháu chăm xế (hạt lúa có râu trắng - loại này có thể dùng gạo nấu cháo với thịt gà có màu lông trắng cộng với một số vị thuốc khác dùng cho người bị gãy xương hoặc mới ốm dậy ăn bồi bổ; hiện nay giống này không phổ biến nhiều).
Tất cả các giống lúa trên đều phù hợp với môi trường và chất đất ở vùng biên giới. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của người Thái, trong số những loại giống lúa trên, có một số loại cho năng suất cao hơn, đó là: kháu háng ngùa, kháu mác khén, kháu chăm háng, kháu dói, kháu mác có.
- Tỉa lúa rẫy:
Kinh nghiệm tỉa lúa rẫy của người Thái ở các xã biên giới thường sử dụng hai cách chính:
Cách 1: Dùng gậy gỗ vừa nắm tay (cỡ cán cuốc, cán thuổng) vát hơi nhọn đầu gốc, chọc lỗ tra hạt rồi lấy chân gạt nhẹ mùn đất lấp hạt. Mỗi lỗ tra từ 8 đến 12 hạt lúa giống.
Cách 2: Dùng thuổng chọc đất tra hạt lúa. Mỗi lỗ tra từ 8 đến 12 hạt lúa giống. 
Cả hai cách đều không chọc sâu hoặc nông quá, chỉ chọc sâu cỡ 5 đến 6cm là vừa. Trong lúc tra hạt, không để hạt lúa rơi vãi ra ngoài nhằm tránh chuột, chim phát hiện sẽ bới móc chỗ tra lúa để ăn mất. Nếu tra ít quá, lúa thưa, cây kém năng suất; tra nhiều quá thì cụm lúa quá dày, cây không to, bông nhỏ, dễ bị sâu bệnh. Do vậy, chỉ tra từ 8 đến 12 hạt để có cụm lúa thành bụi khoảng 20 đến 30 cây cả nhánh là vừa. Như vậy, lúa sẽ to đòng, đủ ánh sáng, ít sâu bệnh, bông to dài, nhiều hạt, năng suất cao. Với cả hai cách trên, mật độ lỗ cách lỗ khoảng từ 30 đến 40 cm là vừa và phải chọc lỗ theo kiểu kiềng ba chân để các bụi lúa dễ tiếp ánh sáng. Lúa rẫy gieo thường đẻ nhiều hơn và bông to hơn.
Thời gian gieo trồng yêu cầu không kéo dài ngày. Do vậy, theo tập quán canh tác, bà con thường đổi công cho nhau; nếu số người đi trồng lúa đông thì chỉ một hoặc hai ngày là gieo xong lúa giống.
 - Làm cỏ cho lúa rẫy 
Nếu là rẫy mới phát thực bì lần đầu thì mỗi vụ làm cỏ từ 3 đến 4 lần. Lần đầu khi lúa lên được khoảng 15 đến 20 cm (khoảng 15 đến 20 ngày sau khi tỉa), lần này thường là cắt đi những bụi cây mọc tái sinh từ gốc nứa, vàu... Lần hai, khi lúa lên cao cỡ 35 đến 40cm (khoảng sau 40 ngày tỉa), cỏ mọc nhiều nên dùng các dụng cụ như chóp, véc, cuốc để xáo xới diệt cỏ, vun gốc cho lúa. Lần ba, khi lúa sắp làm đòng cao 60 đến 70cm thì tiếp tục làm cỏ xới, xáo vun gốc cho lúa. Lần bốn, khi lúa trổ bông, chắc hạt thì đi cắt dây leo, các bụi cây tái sinh, những cây mọc nhanh như nứa vầu, bương, giang... để chuẩn bị thu hoạch dễ dàng.
Tùy theo từng nơi, cỏ mọc nhiều hay ít mà có thể làm cỏ đủ bốn lần hoặc giảm bớt một hoặc hai lần; có thể bỏ lần 1 hoặc lần 4, riêng lần 2 và lần 3 (tức là vừa xáo, xới, diệt cỏ và vun gốc cho lúa) nhất thiết phải làm thì lúa mới tốt.
- Bảo vệ lúa nương:
Với người Thái, việc chăm sóc, bảo vệ rẫy luôn được coi trọng. Ngoài làm cỏ, vun gốc, ngay từ khi bắt đầu gieo lúa, họ đã phải đề phòng chuột, thú rừng và sâu bệnh phá hoại lúa. Ngày xưa còn nhiều thú như nai, lợn lòi, gấu, khỉ... những loài thú lớn hay phá lúa hại nhất. Ngày nay các loại thú lớn không còn nữa nhưng còn khá nhiều chim ri, gà rừng và chuột (chuột phá từ lúc mới gieo hạt, khi lúa lên cây cho đến khi trổ bông lúa, chắc hạt), nên ngay từ khi gieo hạt, họ đã dựng lều để canh giữ rẫy và đã có nhiều kinh nghiệm trong việc bảo vệ lúa rẫy:
+ Cách phòng trừ chuột và gà rừng:
Biện pháp thông thường là phát sạch cỏ, bốc hoặc đốt hết các đống rác trên rẫy là những nơi chuột có thể làm ổ. Dùng cây cỏ rào xung quanh rẫy tại các nơi trọng điểm chuột hay đến, thỉnh thoảng để trừ ra một khoảng trống nhỏ đặt bẫy tre vào để khi chuột đi qua sẽ sập bẫy; hoặc dùng những phiến đá mỏng rộng làm bẫy sập để vừa diệt chuột, chắn chuột vừa còn có tác dụng ngăn chặn sự phá hoại của gà rừng.
+ Cách phòng trừ chim ri:
Để phòng trừ chim ri hại lúa, người Thái phát hết bụi rậm cây có tán rộng xung quanh đám rẫy, nơi mà chim ri hay đến trú. Ngoài ra, họ làm nhiều bù nhìn cầm nỏ giả (nỏ làm bằng cây nứa nhỏ nhẹ), rồi treo chúng ở ngoài rẫy vào sáng sớm khi chim chưa dậy và chưa đến phá lúa. Họ cũng có thể làm khớp đuổi chim và các loại thú khác. Khớp được làm bằng một cây nứa hoặc bương, vầu dài khoảng 3 đến 4m, bổ đôi hai phần ba chiều dài của đoạn nứa, một đầu cắm chắc xuống đất, đầu được bổ đôi gác lên một cây chống khác, phần đầu một miếng đã được bổ ra buộc một sợi dây thừng chắc kéo ròng về lều và buộc vào một điểm chắc chắn, thỉnh thoảng giật dây đó làm cho “khớp” kêu để lùa được thú.
+ Cách phòng trừ sâu bệnh:
Theo kinh nghiệm dân gian, khi chưa có các loại thuốc hóa chất diệt trừ sâu bệnh hại lúa, người Thái đã sử dụng một số kiểu ma thuật cũng như cách trừ sâu bệnh như sau: 
Đối với bệnh sâu xanh cuốn lá, người Thái bắt khoảng 5 đến 10 con sâu về trộn ít muối rồi bỏ vào ống nứa bịt kín rồi treo lên gác bếp gọi là “muối chua”. Với cách làm này, họ cho rằng có thể sâu ngoài rẫy tự mất đi. 
Khi lúa bị bệnh vàng lá, người Thái lấy củ nghệ vàng giã nhỏ rồi rải trên rẫy lúa, rải càng nhiều càng tốt nhưng chủ yếu là ở những đám lúa bị bệnh.
Lúa bị bệnh chấm hồng (chấm nhỏ) ở lá lúa, người Thái bắt từ 3 đến 5 con cua sống, dùng cây nứa cắm một đầu vào con cua còn đầu kia cắm xuống đất; tương tự như vậy, cắm rải ra trên rẫy tại khu vực lúa bị bệnh khoảng từ 10 đến 15 con cua.
- Thu hoạch lúa rẫy
Khi lúa trên rẫy bắt đầu chín thì chọn ngày cắt lấy khoảng 15 đến 20 cụm lúa non đem về làm cốm để mời ông thổ công đất rẫy. Đồng thời làm một sàn bằng nứa vầu hoặc bương để phơi lúa, tập trung lúa đã cắt về để bó thành cụm cho dễ vận chuyển. Sau khi gặt lúa làm cốm, chờ khoảng ít ngày cho lúa chín già đều khắp rẫy thì tổ chức đi gặt. Đồng bào dùng dụng cụ tự tạo cầm tay (gọi là hép) cắt từng bông lúa. Người giỏi, lành nghề có thể cắt gộp được 2,3 bông lúa một lúc. Đây là dụng cụ thủ công thao tác chậm. Người nhanh và tích cực nhất mỗi ngày từ sáng đến tối cũng chỉ cắt được 40 đến 50 cụm lúa, tương ứng với 40 đến 50kg thóc. Lúa rẫy khi trổ bông, phát triển cao trên 1m thậm chí 1,5 đến 1,6m, cao bằng đầu người. Nếu dùng liềm, hái cắt lúa thì lượng rơm mang về rất lớn; do vậy, bắt buộc đồng bào phải dùng “hép” cắt từng bông có chiều dài cọng rơm cỡ 20 đến 25cm, rồi gỡ sạch bẹ, lá cho dễ phơi và vận chuyển. Tuy nhiên, có nơi đồng bào cũng dùng liềm, hái cắt lúa, sau đó đập lúa lấy hạt tại rẫy để mang về nhà.
- Bảo quản lúa rẫy:
Sau khi cắt được lúa, đồng bào làm cọc rơm phơi lúa tại nơi cắt; xòe đon lúa ra đặt lên cọc rơm khoảng từ 3 đến 4 bụi rơm vơ dồn lại bẻ thành cọc, rồi đặt đon lúa lên trên. Cứ để đon lúa khô tại chỗ như vậy, nếu nắng to thì từ sáng đến chiều, ít nắng thì hai ngày sau dồn lúa về chòi rẫy để bảo vệ. Sau 1 đến 2 ngày đồng bào buộc 2 đon lúa lại với nhau thành từng đôi gọi là cum lúa để gánh lúa, vác về nhà hoặc treo vào xà làm tại rẫy.
- Cách để lúa giống lúa rẫy:
Trong quá trình gặt lúa, đồng bào thường chọn luôn lúa giống cho vụ sau. Trường hợp rẫy của mình xấu, không chọn được lúa giống hoặc cần thêm giống lúa mới, đồng bào xin, mua hoặc đổi với nhà khác trong lúc đang thu hoạch trên rẫy. Nếu là đổi lúa giống, thường là theo tỷ lệ 1,5 lúa đổi 1 lúa giống hoặc theo cân hoặc có thể đổi bằng số lượng đon lúa với nhau. Người cẩn thận có thể xin phép chủ rẫy cho mình cắt chọn lúa giống, cắt được bao nhiêu thì chủ rẫy đếm để đổi theo phương thức trên. Chọn giống ở thửa ruộng lúa tốt, trong đó chọn cắt những bông trội, hạt đều, không có bệnh tật. Lấy giống lúa chín rộ không lấy lúa còn non hoặc quá cỗi (lói). Lói có nghĩa là cọng lúa (rơm) đã gục xuống. Như vậy hạt lúa quá già khó bảo quản, chất lượng nảy mầm không cao. Lúa chưa chín đều (non) mầm đang yếu làm giống cũng không tốt. Lấy giống nếp phải xa thửa ruộng lúa tẻ. Lấy giống lúa tẻ phải xa thửa ruộng lúa nếp thì chất lượng mới chuẩn. Nếu không dễ sinh nếp pha tẻ không dẻo, không thơm và ngược lại. Lúa làm giống phải là lúa hạt mẩy đều, không lép, không mốc và được phơi khô quạt sạch, không bị mối mọt, điều cơ bản nhất là lúa giống phải được chọn tại các đám lúa tốt nhất trên rẫy và chín già tuyệt đối. Khi thu hái lúa giống, phải loại bỏ bông con, bông có nhiều hạt lép, chỉ lấy bông mẹ, chắc hạt và chín đều. Tùy từng loại lúa mà phơi, giống nào dễ rụng hạt thì có thể tuốt ra thành hạt phơi thật khô rồi cất vào bồ, bì hoặc chum (điển hình là giống lúa mác khén), còn giống nào dai, ít rụng hạt thì được gặt bằng lưỡi hái gọi là “hép”, cắt từng bông một, buộc thành bó to bằng lạt giang, sau đó có thể dồn lại làm một bó. Khi phơi, xoè đuôi bó lúa rộng ra rồi phơi. Phơi lúa giống (cum) phải để cả bó và phải thật tỉ mỉ nhiều công đoạn, lộn đi lộn lại nhiều lần, có lúc thì cho cum lúa giống nằm ngang ra, nhưng có lúc lại lộn đuôi bông lúa lên, xong lại cho đầu bó lúa ngược lên để phơi cho khô đều. Sau khi phơi thật khô đều thì lấy lạt buộc cho chặt, rồi mới cất lúa giống chờ vụ gieo hạt năm sau.
- Kinh nghiệm chọn ngày và thời tiết trong canh tác lúa rẫy:
Theo kinh nghiệm của người Thái, lúa rẫy có 3 loại: lúa sớm, lúa vụ lỡ và lúa muộn.
Lúa sớm, lúa vụ lỡ thường được trồng vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 âm lịch. Lúa muộn trồng vào cuối tháng 4 và tháng 5 (chủ yếu là trong vòng tháng 5 âm lịch).
Chọn ngày trồng lúa: tùy từng gia đình, người ta chọn ngày trồng lúa riêng. Tuy nhiên, có một điểm chung là họ thường kiêng trồng lúa vào các ngày an táng cha, mẹ của ông chủ gia đình (nếu bố mẹ đã mất), ngày 4, 14, 24 trong tháng (vì đây là ngày lấy lửa về nhà mới của người Thái, còn gọi là ngày lửa).
Chọn thời tiết: tháng 3 âm lịch là tháng có nhiều nắng nên là tháng đốt rẫy. Tháng 4 và tháng 5 là tháng bắt đầu có mưa nhiều nên là các tháng trồng lúa. Sau 5 tháng chăm sóc và bảo vệ thì đến tháng 9, tháng 10 là lúa chín, cũng là bắt đầu vào mùa khô nên người ta thu hoạch lúa vì vừa dễ thu vừa lúa không bị ẩm mốc, mọc mầm.
* Kinh nghiệm canh tác lúa nước
Vùng đất Quan Sơn có địa bàn phức tạp, nhiều sông suối. Người Thái định cư chủ yếu ở các vùng bồn địa, trong môi trường tự nhiên và sinh thái nhân văn đó, người Thái đã khai thác và chiếm lĩnh các thung lũng dọc sông suối và các thung lũng tiếp giáp các chân núi để trồng lúa nước. Làm lúa nước, nên người Thái đặc biệt cần đến nước. Nguồn nước thung lũng là nguồn nước có dòng chảy, nên người Thái đã xây dựng hệ thống thủy lợi đưa nước vào ruộng kiểu mương, phai, lái, lín, cọn. Phương thức ứng xử này thể hiện khả năng thích ứng cao với môi trường sinh thái, đồng thời còn tạo nên nét cảnh quan rất đặc trưng của vùng cư dân người Thái. Do đó, bên cạnh những kinh nghiệm trong canh tác lúa rẫy còn có kinh nghiệm trong canh tác ruộng nước.
Ruộng của đồng bào thường là ruộng nước 2 vụ trong năm. Vụ chiêm: thường làm đất từ tháng 11, 12 năm trước, cấy lúa vào tháng 1 hoặc tháng 2 (tháng 1 âm lịch) năm sau. Những năm rét đậm, rét hại kéo dài thường cấy vào tháng 2 (sau Tết âm lịch). Thu hoạch vào tháng 5, 6 (tháng 4, 5 âm lịch) tùy nơi khí hậu nóng lạnh khác nhau.
Vụ mùa: sau khi thu hoạch vụ chiêm thì làm đất cấy vào tháng 7 (tháng 6 âm lịch) thu hoạch vào tháng 10, 11 (tháng 9, 10 âm lịch).
- Các loại giống lúa ruộng
Kháu cay nọi (lúa nếp thơm): Hạt tròn, vỏ có màu xám sáng, hơi có lông ngắn. Giống lúa này cây cứng, cao ít đổ. Khi lúa chín thơm cả cánh đồng. Đồ xôi đầu làng ở cuối làng cũng thấy mùi thơm.
Kháu nón (lúa nếp thường): hạt dài vỏ màu vàng nhạt. Lúa này năng suất nhưng cây yếu hay đổ.
Kháu vóng (nếp hạt tròn): vỏ màu nâu, gạo trắng, dẻo.
Kháu páy tá (nếp dẻo): hạt tròn, vỏ màu vàng nhạt, đồ xôi chỉ khoảng 25-30 phút là chín.
Kháu tán (nếp cái): hạt to tròn, vỏ màu hơi mốc, gạo trắng, cơm dẻo.
Kháu mác cuối (lúa quả chuối): hạt dài màu sét, gạo trắng, cơm dẻo.
Kháu chăm khếm (lúa tẻ kim): vỏ vàng có gai ở đuôi, hạt lúa nhỏ dài như kim.
Kháu chăm tám (lúa tẻ tám thơm): hạt nhỏ dài vỏ màu sét. Gạo trắng thơm.
Giống được chọn và cất giữ từ vụ trước. Các loại nếp như: nếp thơm, nếp cái chỉ cấy vụ mùa.
Lúa vụ chiêm thường chín vào tháng 5 dương lịch, có nơi vùng sâu, vùng xa nước suối lạnh tưới ruộng, không khí mát lạnh hơn thì lúa chín vào tháng 6 hoặc đầu tháng 7 hằng năm. Khi lúa chín đều đồng bào dùng liềm, hái ra cắt lúa bó từng đon phơi trên gốc rơm tại ruộng. Bó lúa nắm đầy trong tay dùng lạt buộc lại sau đó xoè bó lúa ra đặt trên gốc rơm phơi đến chiều thì mang lúa về nhà. Cũng có trường hợp phơi ngoài đồng 2 ngày mới mang về nhà.
 Ngày nay, đồng bào có máy tuốt, máy phụt nên lúa cắt từng đống (không cần bó đon) sau đó đưa vào máy tuốt, máy phụt lấy hạt thóc về. Rơm có thể lấy, có thể bỏ lại cho trâu bò ăn hoặc ai lấy thì tùy.
Ngày trước đồng bào gùi, gánh lúa về nhà hoặc kho của nhà mình. Nếu lúa đã khô thì xếp vào kho hoặc xếp thành từng đống trong nhà, trên gác. Số nào chưa khô thì để riêng phơi ra ngoài sàn (chàn) vì nhà người Thái thường làm chàn ra để phơi phóng các thứ. Sau đó mới cất vào kho hoặc xếp vào đống. Nếu là thóc hạt thì xếp vào bồ, sọt. Ngày nay lúa được tuốt ra thành hạt ngoài đồng đưa về phơi khô cất vào bì tải nơi khô ráo.
* Về canh tác vụ mùa:
Thời gian vụ mùa thường cấy vào tháng 7 (tháng 6 âm lịch) và thu hoạch vào tháng 10 dương lịch (tháng 9 âm lịch) hằng năm. Cũng có nơi cấy tháng 7 cho thu hoạch đầu tháng 11 do trời lạnh, nước mát lúa chín chậm hơn.
Để canh tác lúa tốt, đồng bào vùng biên giới Quan Sơn còn có kinh nghiệm làm đập (phai) ngăn suối ở độ cao hơn ruộng, từ đó đào mương dẫn nước về. Nước về ruộng theo mương tốt hơn dẫn nước theo máng hoặc guồng nước. Vì mương nhận được nhiều phù sa, chất mùn, phân trôi từ nguồn nước suối và trên đường dẫn vào ruộng tạo chất màu tốt cho ruộng.
Hệ thống mương dẫn nước vào ruộng thường được làm từ trên cao xuống thấp, các lối dẫn nước này luôn được làm so le nhau, và theo kinh nghiệm của người Thái thì mương dẫn nước tốt nhất là được nối với các nguồn nước chảy từ các khu rừng già ra, nó không chỉ cung cấp nước tưới mà còn là chiếc cầu nối giữa ruộng với kho phân bón tự nhiên từ rừng vào ruộng theo dòng nước.
Để có những khu ruộng tốt cho canh tác lúa thì yếu tố quan trọng đầu tiên là nước. Nước có một vai trò rất lớn đối với canh tác lúa trên ruộng, nếu không có nước thì không thể trồng cấy, nhưng để có đủ nước cho mỗi mùa vụ canh tác thì vấn đề bảo vệ các nguồn nước là hết sức quan trọng. Do vậy, đồng bào thường có câu ví “Nặm húa tá, nà húa mướng” (nước đầu bến, ruộng đầu mương), chữ đầu ở đây có nghĩa là chỗ ruộng tiếp giáp đầu tiên với mương sẽ nhận được nhiều phù sa hơn, do vậy lúa tốt hơn. Còn đầu bến có nghĩa là phía trên đầu nguồn nước thì nước sạch hơn. Nếu dùng nước cuối bến sẽ bẩn vì nhiều người tắm giặt, rửa thải các chất bẩn trôi về cuối bến. Nước cho cây trồng cũng tránh được nước đá vôi càng tốt. Vì nước đá vôi làm sơ cứng đất, bó rễ cây làm cây màu khó tiếp thụ chất màu, phân bón.
Để bảo vệ được nguồn nước, đồng bào thường có những quy định trong hương ước hoặc truyền miệng với nhau như: cấm rừng đầu nguồn nước; Không làm rẫy, làm vườn đầu bến, không phá rừng đầu nguồn: 
            “Nhà ệt háy, ệt suốn húa tá
            Nhà khèo pa húa huối”
Dịch:        Đừng làm rẫy, làm vườn đầu bến
            Đừng phát rừng đầu suối( ).
Nước tưới ruộng cũng có quy định chặt chẽ tránh lãng phí nước và điều hòa tưới tiêu công bằng, tránh mạnh ai người nấy lấy nước tùy tiện. Theo đó bản quy định: trên đường mương qua ruộng làm các ống (tó) chia nước về các cánh đồng phù hợp với nhu cầu diện tích cụ thể; Từ trong một cánh đồng có các tạng, các ten (rãnh) phân phối nước xuống thửa ruộng dưới. Không ai được tự ý mở rộng hoặc đắp, ngăn dòng chảy. Như vậy vừa điều hòa tưới tiêu cho ruộng vừa giữ đươc tình làng nghĩa xóm.
* Kinh nghiệm trồng ngô
Đồng bào ở huyện Quan Sơn có kinh nghiệm trong việc trồng ngô. Đồng bào chọn đất trồng ngô là đất gần núi đá, đất pha đá sỏi ở trên khe suối, sườn đồi. Thường rừng có cây bương, chuối rừng, lá dong thì trồng ngô, kê sẽ rất tốt.
Đất trồng ngô phát thực bì vào tháng 11, 12 (tháng 11 âm lịch) năm trước hoặc tháng giêng năm sau. Sang tháng 2 (tháng 1 âm lịch) đốt dọn sạch. Thực bì đất trồng ngô không cần dọn sạch bằng làm đất trồng lúa.
Tỉa ngô vào tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch (tháng 1, 2 âm lịch) đến cuối tháng 6 hoặc tháng 7 (tháng 6 âm lịch) sẽ cho thu hoạch ngô nếp. Riêng giống ngô mới thì theo hướng dẫn của trạm khuyến nông huyện và chính quyền địa phương.
 Kỹ thuật tỉa ngô nếp cũng dùng dụng cụ tương tự như tỉa lúa. Nhưng mỗi hố chỉ cho vào 1 - 2 hạt, hố cách hố 40 - 45cm theo kiểu răng sấu (chân kiềng) không bố trí theo hàng.
Trong một vụ phải làm cỏ từ 2 - 3 lần.
Lần 1: Khi ngô đã mọc cao khoảng 35 - 40 cm làm cỏ xáo, xới vun gốc.
Lần 2: Khi ngô sắp trổ hoa phát dây leo, phát cỏ trên toàn diện tích.
Lần 3: Khi ngô đã ra bắp phát dây leo, cây bụi tái sinh cao (cỏ thấp không cần phát). 
Vào khoảng tháng 7 dương lịch (tháng 6 âm lịch) là ngô đã già. Đồng bào dùng bế, sọt ra rẫy bẻ cả bắp ngô đem về chòi hoặc về nhà. Nếu là rẫy xa thì hầu như là để ngô lại chòi rẫy đồng thời làm thêm hạn (sàn) mới để tập kết ngô về. Ngô được lật bẻ buộc lại thành từng túm 10 - 20 bắp gọi là phục lưới (túm ngô) treo lên đà, sào (xà lông) để phơi thành từng hàng. Những bắp ngô bóc hết bẹ thì phơi tại sàn, trên cót hoặc thúng. Như vậy ngô không bị bẩn, không dính đất sỏi.
Cây ngô nếp phổ biến là 2- 3 bắp trên một cây. Khi chọn giống cho vụ sau đồng bào thường chọn cây ngô to, bắp đều, lấy những bắp ở giữa cây. Lấy giống ở cây trội (cây tốt) trong rẫy. Lấy những bắp căng tròn đều hạt (chặt cả cây, bắp còn vỏ) đã chín đều về treo ngược cây ngô phơi nắng, sau đó treo trên gác bếp hoặc trên trần nhà sàn. Lúc chuẩn bị đến vụ mới đồng bào bóc từng bắp ngô chọn bắp có hạt đều, không mọt nẩy ra phơi khô để chuẩn bị đi tỉa. 
* Kinh nghiệm trồng sắn
 Kinh nghiệm trồng sắn, khoai và các loại cây có củ nói chung của đồng bào ở huyện Quan Sơn là đất trồng sắn phải tơi xốp không nhiều loại cây thân gỗ có vị đắng như cây xoan rừng, xoan ta, ràng ràng. Sắn trồng ở sườn đồi, trên đồi dễ thoát nước, củ sắn sẽ không bị úng dễ thu hoạch, chất lượng sắn sẽ không bị xơ cứng mà nhiều bột hơn.
Xử lí thực bì làm rẫy sắn từ tháng Giêng đến tháng 2 đốt dọn sạch. Cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 (tháng 1, 2 âm lịch) trồng sắn khi đó cây sắn chưa ra lộc mới, nếu ra lộc mới chất lượng giống không tốt.
 Sắn trồng bằng hom, hom sắn được đồng bào chọn để dành từ tháng 11, 12 năm trước (khi thu hoạch sắn). 
Các loại giống sắn truyền thống (bản địa).
- Mền có lón (sắn trắng): cây thấp, cuống lá xanh nhạt, ít cành, củ nhỏ ngắn, vỏ lụa mỏng, vỏ trong màu trắng, ăn sống có thể say, năng suất không cao, nay không dùng.
- Mền có táy hoặc mền có lánh (sắn tây hoặc sắn đỏ): cây cao, cuống lá đỏ, nhiều cành, củ nhỏ dài, vỏ lụa mỏng, vỏ trong đỏ, ăn sống không say. Đồ và nướng ăn rất bở, thơm ngon, ít củ năng suất thấp, nay không còn trồng.
- Mền có lé (sắn xanh): cây cao, cuống lá màu xanh, nhiều cành, vỏ lụa ngoài dày, vỏ trong màu xanh nhạt, ăn sống bị say, năng suất cao (củ to, nhiều củ). Luộc ăn hay đồ ăn thường có vị đắng dễ say.
- Mền có ón (sắn củ khoai): cây to cao, cuống lá hơi đỏ, cây thường nhiều cành, củ to (có khi đến 10kg/củ). Vỏ lụa củ sắn dày có khía, vỏ trong dày màu tía, củ sắn có khi tròn như củ khoai lang, ăn sống không say. Luộc hoặc đồ ăn bở, ngon nhưng không thơm.
- Mền có tăm (sắn lùn năng suất cao): loại sắn này mới nhập nơi khác về sau năm 2000, cây thấp, cuống lá hơi xanh, củ nhiều, không ăn sống được, không luộc hoặc đồ ăn được vì hay bị say, phải qua chế biến mới dùng được. Loại sắn này trồng cho các nhà máy chế biến là chủ yếu, đồng bào ít sử dụng tại chỗ.
Cây sắn để làm giống là những cây khỏe, nhặt mắt, không xây xước. Sau khi chặt để cây sắn nằm ngang lấy rơm rạ hoặc cành lá phủ lên trên. Cũng có trường hợp đồng bào chọn đám sắn có cây tốt đủ tiêu chuẩn giống để lại chưa thu hoạch đến khi cần trồng mới lấy cây làm giống. Tuy nhiên, vẫn phải chặt cây sắn giống trước khi ra lộc. Khi trồng cắt từng đoạn ngắn cỡ 3 - 4 mắt dài 10 - 15cm, dùng cuốc đào hố rộng 20 - 25 cm, sâu 8 - 10 cm tra hom sắn xuống hố lấp lại đạp chặt xuống để giữ ẩm cho hom sắn giống. Khoảng cách hố 60 - 65cm, trồng theo thế chân kiềng (răng sấu). Khi thấy lá sắn vàng 1/3 từ gốc lên (khoảng tháng 10) là có thể thu hoạch sắn. Thời gian thu hoạch đến tháng 12. Nếu để sang tháng Giêng, sắn bắt đầu ra lộc thì củ sắn bị sượng (ít bột).
Sau khi thu hoạch đồng bào có thể bán cả củ sắn tươi có cả vỏ. Nếu để dành thì chế biến theo hai cách: cạo vỏ lụa mỏng phần ngoài cho củ sắn lên sàn sấy khô, sau đó cho lên gác để; Bóc vỏ sắn bỏ phần vỏ cứng và lụa, cắt thành lát, mài thành sợi phơi khô bằng ánh nắng mặt trời sau đó cho vào bao bì, sọt để sử dụng hoặc bán.
* Kinh nghiệm trồng luồng
Người Thái vùng biên giới Quan Sơn có nhiều kinh nghiệm trồng luồng, từ khâu chọn giống đến chăm sóc luồng.
Chọn giống cây luồng bánh tẻ từ 1 - 3 năm tuổi, cây có ống ngắn (nhặt mắt). Mắt luồng có nhánh, gốc nhánh có rễ mới. Thường là lấy cây luồng con, không sâu bệnh, luồng loại 3 - 4 không lấy luồng to loại 1 - 2. Cây luồng ở gần khe suối, triền sông, bãi bằng nơi có độ ẩm cao càng tốt.
Kỹ thuật lấy giống: chọn ngày mát trời, mưa nhỏ càng tốt vào rừng chặt luồng giống. Sau khi chặt hạ cây xuống chặt từng đoạn có một mắt ở giữa, phía ngọn chặt bằng, phía gốc vát nhọn rồi đem ra nơi trồng. Sau khi lấy giống về trồng được ngay càng tốt. Nếu chậm cũng không quá hai ngày phải bảo quản giống nơi râm mát. Chặt bớt cành nhánh để lại 20 - 30cm, không được làm tổn thương rễ.
Kỹ thuật trồng: cắm phía gốc (đầu đã vát nhọn) xuống đất, lấy búa hoặc đoạn cây gỗ đánh đầu trên cho đoạn giống cắm sâu lút mắt luồng xuống đất khoảng 5 - 6cm là được. Trồng luồng vào những ngày dâm mát, trời mưa sau khi đã làm đất.
Kỹ thuật làm đất trồng luồng: phát thực bì để khô đốt cháy để diệt khuẩn, tạo phân tro càng tốt. Trong rẫy luồng trồng xen lúa, sắn, ngô và cây nông nghiệp khác. Trong thời gian 3 năm kết hợp chăm sóc trong thời gian trồng luồng và cây nông nghiệp. Sau đó phát chăm sóc luồng bằng phát dọn, không trồng cây nông nghiệp nữa. 
* Kinh nghiệm trồng tỉa xen canh, luân canh 
Đồng bào thường xen canh thêm một số cây nông nghiệp với nhau, cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp này với cây lâm nghiệp khác. Ví dụ: trồng lúa, ngô, sắn, đậu, lạc xen cây lát, luồng, đậu thiều. Trồng lúa xen ngô, đậu tương, đậu đũa. Trồng cây luồng xen lát, xoan...
Luân canh: rẫy đồng bào Thái thường có quy ước theo vùng và chuyển đổi sau 3 năm canh tác (luân canh): Vụ đầu gọi là háy láo; Vụ 2 gọi là “háy lộc”; Vụ 3 gọi là “háy lựm”. Sau đó đồng bào chuyển sang vùng khác (thung, đồi khác). Những chỗ trồng xen cây lâm nghiệp thì tiếp tục chăm sóc, bảo vệ cây lâm nghiệp lâu dài. Những rẫy không trồng cây lâm nghiệp thì đến năm thứ 4 hoặc thứ 5 quay lại. Khi đó rừng đã tái sinh thành rừng non gọi là “Pa láu”. Pa láu là rẫy cũ phục hồi tái sinh tự nhiên vẫn do chủ rẫy có quyền quản lý trong vòng 5 năm trở lại. Qua thời gian đó gia chủ không canh tác thì người khác mới được làm. Người Thái nói:
Háy xám pí nhằng táu
Lau há pí nhằng dám
Dịch:    Rẫy ba năm còn đến
        Rừng sau rẫy năm năm còn thăm.
Ý nói trong 3 năm chủ vẫn đến làm rẫy, rừng non sau rẫy 5 năm chủ vẫn trở lại làm tiếp hoặc có quyền quản lý những cây trồng khi làm rẫy còn lại trong rừng tự nhiên.
b. Thủy lợi cổ truyền
Sinh sống trên một vùng đồi núi, địa hình đất dốc, chia cắt phức tạp, người Thái đã sáng tạo một hệ thống thủy lợi cổ truyền, được gọi là: mương, phai (bai), lái, lín (lin).
* Phai
Phai là con đập chắn ngang các dòng suối hoặc sông nhỏ được xây dựng từ nguồn nguyên liệu sẵn có như đất, đá, gỗ, tre. Phai lớn có thể đảm bảo nước tưới cho cánh đồng ruộng khoảng 60 - 70ha, phai trung bình khoảng 30 - 40ha, phai nhỏ khoảng 5 - 10ha. Tầm quan trọng của phai trong canh tác nông nghiệp được người Thái so sánh với vai trò của người cha trong gia đình, qua câu thành ngữ: “po tai phai pắng” (cha chết không bằng vỡ phai). 
Phai được đắp trước vụ gieo cấy và người ta thường chọn vị trí có các yếu tố sau: nơi đắp phai có hiệu suất tưới cao nhất, nước chảy ngay vào ruộng hoặc nếu phải đào mương thì mương ngắn và dễ đào; nơi lòng suối bị thu hẹp (để giảm công sức và nguyên vật liệu do chiều dài phai ngắn) hoặc có những hòn đá to nổi lên giữa dòng chảy (làm chỗ dựa, tăng độ ổn định cho phai). Có một số loại phai như sau:
- Phai đá
Phai đá là loại dùng đá để xếp lại thành một con đập chắn ngang dòng suối. Loại phai này dễ làm, không tốn nhiều công sức, nhưng chỉ có thể thực hiện được ở những đoạn suối hẹp, nông, có nhiều đá.
Với những đoạn suối sâu và rộng hơn, người ta dùng nhiều sọt đan bằng tre hoặc nứa (sọt đan to, cao tuỳ kích thước của phai) đựng đầy đá, xếp thành một con đập chắn ngang dòng suối. Lấy một hoặc nhiều tấm phên đan bằng nứa dựng sát các sọt đá ở phía thượng lưu để liên kết các sọt đá với nhau và cản nước. Sau đó lấy đá xếp dọc theo chân hai phía của phai. 
- Phai cây
Phai cây là loại dùng một cây gỗ lớn chắn ngang dòng suối, sau đó lấy đá chèn hai bên cho đoạn gỗ không dịch chuyển. Loại phai này cũng chỉ áp dụng được ở những đoạn suối hẹp, nông.
Với những đoạn suối sâu và rộng hơn, cần nhiều nước để tưới cho diện tích canh tác rộng, người ta dùng 3 hoặc 4 cây gỗ to xếp song song sát nhau chắn ngang dòng suối, sau đó dùng một số cây gỗ nhỏ xếp chồng lên trên dọc theo hướng dòng chảy. Kích thước của hai loại gỗ này phải đều nhau. Cứ như vậy, xếp cây to ngang, cây nhỏ dọc nhưng mỗi tầng lại bớt đi một cây gỗ ngang để dáng của phai theo kiểu “hạ thách, thượng thu”. Những cây gỗ xếp ngang có tác dụng ngăn dòng nước, những cây gỗ xếp dọc có tác dụng giữ cho cây gỗ xếp ngang không bị nước đẩy đi. Những cây xếp dọc có kích thước nhỏ để khe hở nhỏ, nước không chảy đi nhiều. Để cho phai thêm vững chắc phải dùng cọc chống các cây gỗ ngang ở phía hạ lưu. Dùng những tấm phên nứa to, dài trùm lên thân phai và lấy đá xếp dọc theo chân hai phía của phai.
Một đặc điểm kỹ thuật rất quan trọng là phai không kín mà có nhiều kẻ hở nhỏ để dòng nước chảy qua. Như vây, phai chỉ giữ lại một lượng nước nhất định tùy theo yêu cầu sử dụng và tưới ruộng. Nước suối thường chảy tràn qua nên áp lực và tác động lên phai không lớn, do vậy con người không phải bảo trì, sửa chữa nhiều, đỡ tốn thời gian, công sức và nguyên vật liệu.
Thông thường, mỗi bản có một phai để lấy nước tưới cho cánh đồng của bản mình, nhưng cũng có trường hợp một bản (bản lớn, nhiều nóc nhà) có nhiều phai. Với những phai lớn, tốn nhiều công sức và nguyên vật liệu để xây dựng, tưới cho cánh đồng rộng của một hoặc nhiều bản, do nhiều bản chung nhau xây dựng thì được gọi là phai mường và do mường quản lý. 
* Mương 
Mương là các đường dẫn nước nhỏ, thường có ba loại: mương chìm (mương đào), mương nổi (mương đắp) và mương nửa chìm nửa nổi (vừa đào vừa đắp). Có thể một hệ thống mương bao hàm cả ba dạng, bởi vì để dẫn nước vào ruộng thường phải đi qua các địa hình khác nhau. Mương thường bắt đầu từ phai, nhưng không nhất thiết cứ phải có phai mới có mương vì có thể mương được đào từ các khe nước hoặc dòng chảy trên cao. 
* Lái 
Để bảo vệ cho mương vững chắc, nhất là những đoạn mương đắp nổi, người ta làm thêm những kè phụ, gọi là “lái”. Kè phụ được làm bằng gỗ, tre, đá, đất... để đắp phụ ngoài những đoạn mương nổi, đắp chặn dòng chảy trong lòng mương để nước dâng lên vào ruộng hoặc chảy vào đoạn mương khác khi cần thiết. 
* Lìn (máng nước)
Trong trường hợp địa hình phức tạp không thể đào hoặc đắp mương dài liên tục được thì người ta làm máng dẫn để thay thế, gọi là “lín”. Máng có thể là những cây tre, vầu bổ đôi, đục bỏ các “mắt” hoặc những tấm ván được ghép với nhau hình chữ U, được đặt trên giá đỡ bằng tre, gỗ hoặc treo qua cây. Chúng có tác dụng nối liền 2 đoạn mương bị tách rời, để dòng chảy được liên tục. Nếu không đào được mương phụ (hoặc không cần thiết phải đào) thì người ta cũng dùng máng để dẫn nước từ mương chính tưới cho cánh đồng gần nơi mương đi qua. Cũng có thể dùng máng dẫn nước thẳng từ “mỏ mước” để tưới cho cánh đồng.
* Đắp đập
Đập được làm với mục đích làm hẹp dòng suối để tạo ra một dòng chảy mới có lưu tốc lớn hơn. Do đó, đập không nối liền hai bờ suối với nhau, mà có một khoảng trống rộng khoảng 1 - 1,5m ở gần bờ, gọi là “cón nặm”. Khi dòng chảy bị hẹp lại, nước sẽ chảy dồn vào “cón nặm”, lưu tốc dòng chảy lớn sẽ đẩy bánh xe quay. Chiều dài của “cón nặm” khoảng 3 - 5m, thậm chí 20 - 30m nếu đặt nhiều bánh xe. Độ sâu của dòng nước khoảng từ 60 - 80 cm là đạt yêu cầu. Để tạo ra lưu tốc dòng chảy lớn hơn, đồng thời để bảo vệ đập ngăn và “cón nặm”, người ta rải đều các sọt đá thành hàng thẳng ngang dòng suối theo chiều của đập và dọc suối theo chiều của dòng chảy trong “cón nặm”. Để thêm chắc chắn và bịt các khe hở, đập còn được gia cố bằng cọc gỗ, tre, phên nứa.
* Guồng nước (Lộc nặm)
Trong các trường hợp do ruộng cần tưới nằm ở độ cao lớn, sau khi đắp phai nước đã dâng lên mà vẫn chưa đủ độ cao để chảy trực tiếp vào ruộng thì người Thái lựa chọn giải pháp làm “guồng” (lộc nặm) để kéo nước lên cao. Nguyên tắc của cọn là biến thế năng thành cơ năng, nghĩa là nhờ vào thủy lực của dòng chảy tác động vào cánh chắn để làm cho bánh xe quay, các ống ở bánh xe sẽ múc đầy nước và được đưa lên cao đổ vào máng, từ đó nước theo ống dẫn chảy vào ruộng. 
Cách làm bánh xe nước (người Thái gọi “Lộc nặm”, “láng lộc nặm”)
Guồng được thiết kế như một chiếc bánh xe lớn hình tròn, đường kính phụ thuộc vào độ cao của mặt ruộng cần tưới so với dòng chảy của suối. Có những chiếc guồng có đường kính khoảng 3 - 4m, nhưng cũng có những chiếc có đường kính 7 - 8m. Bánh xe gồm một trục gỗ có đường kính khoảng 10cm, dài khoảng 1,5m, gọi là “có” (giống như chiếc may ơ của bánh xe đạp). Có khoảng 40 - 50 cặp rui là những cây nứa (hoặc tre nhỏ) có độ dài bằng 1/2 đường kính bánh xe (giống như nan hoa của bánh xe đạp), gọi là “cón pắt”, mỗi cặp có một đầu vạt nhọn cắm chắc vào trục (co), cách nhau khoảng 40 - 50cm và bắt chéo nhau ở khoảng 2/3 chiều dài, tính từ trục. Tại chỗ bắt chéo nhau này cài 2 thanh tre vót tròn hoặc song, 1 thanh phía ngoài và 1 thanh phía trong, gọi là “quằng púm” (vành trong). Ở 2 đầu phía ngoài của “cón pắt” buộc vào 2 thanh tre vót tròn hoặc song, gọi là “quằng nóc” (vành ngoài). Sát phía trong “quằng nóc”, cứ cách một “cón pắt” người ta buộc 1 cánh chắn làm bằng phên nứa có kích thước khoảng 25cm x 30cm gọi là “pí”, và cách một cánh chắn buộc 1 ống tải nước, gọi và “bóng nặm”. Những ống nước này được làm bằng những đoạn nứa, vầu già có kích thước bằng nhau lấy những ống mỏng cho nhẹ. Độ nghiêng của ống phụ thuộc vào độ dài ống nước (khoảng 30 - 40cm), đầu ống hướng vào bờ và phải được cân chỉnh chính xác để vừa múc được nhiều nước, vừa đổ đúng vào máng hứng nước (hàng ha). 
Bánh xe được đặt trên hai cột có ngàm, trồng ở bờ “cón nặm”. Cột có ngàm dài gọi là “xáu hiếu” trồng phía bờ suối, cột có ngàm ngắn gọi là “xáu cóm” trồng phía ngoài. Giữa trục của bánh xe và ngàm của hai cột được lót một miếng gỗ đẽo hình bán nguyệt hoặc một mảnh nửa cây vầu, gọi là “tạp”, để giảm ma sát, làm cho bánh xe quay đều và trơn hơn. Lúc này, máng hứng nước (hàng ha) được đặt lên đầu ngàm dài của cột “xáu hiếu” và song song với bánh xe. Máng làm bằng gỗ, dài khoảng 2 m, rộng khoảng 30 cm, giống như một chiếc thuyền độc mộc nhỏ. Cũng có thể dùng các tấm ván để ghép lại thành máng. Để máng không nghiêng và rơi khi hứng nước, người ta làm thêm giá đỡ nối với ngàm của cột “xáu hiếu”. Lòng máng được đục thủng 2 lỗ để nước chảy xuống 2 ống dẫn bằng cây luồng khoét các mắt (trừ mắt ở đầu gốc sát bánh xe), gọi là “lìn”. Nếu muốn nước được dẫn đến các thửa ruộng xa hơn, người ta nối thêm ống bằng cách luồn gốc cây luồng này vào ngọn của cây luồng kia. Ống dẫn được đặt trên giá đỡ là 2 đoạn tre bắt chéo nhau, trồng xuống đất.
Theo kinh nghiệm dân gian, một chiếc guồng nước (lộc nặm) muốn cân đối và quay đều thì số lượng rui (cỏn pắt) phải gấp đôi số lượng cánh chắn (pí) và số cánh chắn lại gấp đôi số lượng ống tải nước (boong nặm). Một chiếc guồng đạt yêu cầu về kỹ thuật và hiệu suất là quay 1 vòng hết khoảng 20 giây, trong quá trình quay luôn luôn có 6 ống hứng nước và đổ nước, nghĩa là ống thứ nhất đổ hết nước thì ống thứ 6 bắt đầu đổ nước vào máng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra cho người làm guồng là phải có óc tưởng tượng tốt, có kinh nghiệm và tính kiên trì, tỉ mỉ trong công việc.
Guồng nước đã mang lại hiệu quả cao trong việc cung cấp nước cho các ruộng lúa. Guồng nước là một sáng tạo kỹ thuật của thủy lợi, một “công trình văn hóa” mang đậm bản sắc văn minh nông nghiệp vùng thung lũng( ).
Cũng như làm phai, guồng nước được làm trước vụ gieo trồng, mỗi guồng nước tưới được khoảng 3 - 5ha và sau mỗi vụ lại phải làm cọn khác thay thế. Trong các bước tiến hành làm guồng thì đắp đập ngăn nước cho guồng quay cũng tốn nhiều thời gian, công sức và nguyên vật liệu. Do vậy, người ta thường chọn vị trí thuận lợi để đắp một đập có thể dựng được nhiều guồng, bằng cách nối dài thêm “cón nặm”.
c. Chăn nuôi 
Chăn nuôi là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng thứ hai sau hoạt động kinh tế trồng trọt, nhưng chưa tách thành một hoạt động kinh tế độc lập với nông nghiệp, bởi vì chăn nuôi còn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp. 
Do đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên thời xa xưa trên vùng đất Quan Sơn đã tồn tại những cánh rừng với hệ động vật phong phú như voi, lợn, hươu, nai,... Cùng với việc khai phá vùng rừng núi trở thành nơi trồng trọt, cư dân Việt cổ sinh sống trên địa bàn huyện Quan Sơn xưa đã biết săn bắt và thuần dưỡng động vật hoang dã trở thành vật nuôi. 
Chăn nuôi ở huyện Quan Sơn rất đa dạng: nuôi trâu, nuôi bò, dê,... Ngày xưa người Thái nuôi cả voi, ngựa. Do vậy thường có các địa danh như “Luốc chạng, Hới chạng, Na chạng nọi, Sắn chạng, Hới en mạ...” (Thung voi, thửa voi, ruộng voi nhỏ, đồi voi, thửa đua ngựa,...). Có nghĩa các địa danh đó là nơi chăn thả voi, đua ngựa của đồng bào Thái. Ngoài nhu cầu phục vụ trồng trọt, chăn nuôi còn là nguồn thu nhập dùng để bán, ăn và cúng lễ.
Tuy nhiên, trải qua một khoảng thời gian dài, nghề chăn nuôi ở Quan Sơn vẫn là nghệ phụ, tồn tại dưới hình thức chăn nuôi hộ gia đình nhỏ lẻ. 
d. Đánh bắt thủy sản
Việc nuôi và đánh bắt thủy sản là một hoạt động trong kinh tế nông nghiệp truyền thống của cư dân Quan Sơn. Nuôi thủy sản chủ yếu dưới hình thức hộ gia đình, góp phần tạo nguồn thực phẩm cho người dân.
Ngày xưa đồng bào thường đào ao thả cá trôi, cá chép, cá dốc. Giống cá lấy từ sông, suối tự nhiên. Sau này mua giống cá của các tổ chức cá nhân đem bán tại địa phương như cá trắm cỏ, chép, cá mè, cá trôi, cá rô lai...
Thức ăn cho cá thường lấy từ tự nhiên hay tự tạo như: Lá sắn, cây chuối rừng, chuối nhà, hoa quả lấy từ rừng như quả vả, quả sung, lá môn thục, lá sung... Hoặc cám, ngô xay, giã, sắn thái lát cho cá ăn. 
Lấy giống cá từ sông suối vào các tháng 5, 6, 7 vì tháng 3, tháng 4 là cá đẻ trứng nở cá bột. Đến tháng 5, 6, 7 cá bằng đầu đũa, ngón tay út, tay cái xúc mang về nuôi.
5.1.3. Hoạt động lâm nghiệp truyền thống
5.1.3.1. Phân loại rừng
Theo cách phân loại rừng truyền thống của người Thái nói chung, có những loại rừng sau:
Thứ nhất là rừng đầu nguồn, đây là loại rừng tích tụ và lưu giữ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của con người. Đặc điểm của những khu rừng này là có nhiều cây cối cổ thụ, theo tập quán dân làng không được chặt phát hay khai thác gỗ ở đây, nếu khai thác phải được sự đồng ý của làng. Những khu rừng này thường là nơi phát sinh, khởi nguồn của những khe suối cung cấp nước chủ yếu cho dân làng ăn uống, sinh hoạt và sản xuất. Nhìn chung, đây là loại rừng quan trọng nhất của đồng bào, có nhiều loài gỗ và động vật quý hiếm, với một hệ thảm thực vật phong phú và đa dạng, vừa là nơi bảo tồn gien, nơi đầu nguồn nước. Do đó loại rừng này được người Mường cũng như người Thái bảo vệ rất chặt chẽ, theo luật tục, đây là những khu rừng cấm khai thác bừa bãi( ).
Để bảo vệ những khu rừng loại này, người ta đã tạo dựng nên các truyền thuyết, huyền thoại các khu rừng hay một vài loại cây, loài động vật hoang dã. Bằng hình thức truyền miệng, những câu chuyện đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác và những khu rừng đó đã trở thành thiêng hóa, thần thánh hóa, không ai dám xâm phạm.
Trong quan niệm của người Thái, rừng già có ma cai quản nên khi chặt hạ cây to thì phải làm lễ cúng ma rừng. Lễ cúng gồm có trầu, cau, gà, rượu. Nếu chặt nhiều cây to thì phải cúng lợn, dê. Khi vào rừng phải đi nhẹ nhàng, không la ó, không hát hò, không đùa nghịch..., nếu không sẽ bị ma rừng làm cho ốm, thậm chí có thể chết.
Loại rừng thứ hai, khác với rừng đầu nguồn, đây là những khu rừng thường không có nhiều nguồn nước khe suối. Do đó, theo phong tục, đây là loại rừng được sử dụng để khai thác gỗ và săn bắn cũng như phát rẫy làm rẫy canh tác cây lương thực. Vì thế, những khu rừng này hiện nay còn được gọi là rừng tái sinh hay rừng sản xuất.
Loại rừng thứ ba người Thái gọi là pá héo. Đây chính là những khu rừng nghĩa địa, người dân ở từng làng từ lâu đời chọn làm nơi chôn cất người chết. Vì vậy, có nơi người ta còn gọi là rừng ma. Thông thường những khu rừng này xa khu dân cư, xa nguồn nước và hẻo lánh. Do quan niệm về ma quỷ, thần linh nên người dân trong làng ít qua lại khu rừng này và hầu như không ai dám chặt phát, săn bắn ở đây, bởi thế những khu rừng này thường rất rậm rạp và có nhiều cây cối cổ thụ. 
Loại rừng thứ tư là những khu rừng thường ở địa hình thấp so với những khu rừng khác, có thảm thực vật chủ yếu là cỏ tranh, nên thường sử dụng những khu rừng này làm bãi chăn thả trâu, bò. 
Ngoài ra, tuy không phổ biến, nhưng trong tâm thức dân gian đều coi là rừng thiêng( ). Đây là những khu rừng có người đã từng bị tại nạn, bị mất tích, hoặc bị hổ ăn thịt... tạo cho người dân tâm lý kiêng sợ và ít khi qua lại nơi đây, không dám khai thác gỗ, săn bắn và hái lượm nên lâu năm trở thành những khu rừng rậm, rừng nguyên sinh. Tập tục trong bản làng ngày xưa có những quy định của dân gian về bảo vệ rừng thiêng( ).
Ngoài cách phân loại trên, người dân còn phân loại rừng dựa vào những đặc điểm vượt trội của từng khu rừng để đặt tên như: rừng giang, rừng vàu, rừng luồng, rừng cọ, rừng trám, rừng lim, rừng dổi, rừng cỏ tranh, ...
Nhìn chung, phần lớn rừng trong địa bàn huyện Quan Sơn trong xã hội truyền thống chủ yếu là rừng già, rừng rậm, đó chính là những khu rừng nguyên sinh. Chỉ có một ít diện tích những cánh rừng có độ dốc thấp, gần khu dân cư, có điều kiện đi lại thuận lợi thì người dân tận dụng phát rẫy làm rẫy trồng cây lương thực và một số cây lâm sản như luồng, cọ, lim, lát... Do đời sống gắn bó lâu dài với rừng mà người dân ở đây đã tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác, sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên quý giá này. Sự phân loại các loại rừng như đã nói ở trên đã thể hiện phần nào sự nhận thức đầy đủ và sâu sắc về rừng.
5.1.3.2. Khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng trong xã hội truyền thống
Quan Sơn là huyện miền núi, tài nguyên đất đa dạng với diện tích đất lâm nghiệp và đất lâm nghiệp có rừng lớn, độ che phủ rừng cao. Sinh sống ở vùng rừng núi, nghề rừng là nguồn sống quan trọng của cư dân các dân tộc huyện Quan Sơn qua việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật và động vật... Đây là nguồn tài nguyên vô giá, là kho dự trữ nguồn nguyên liệu, dược liệu, nguồn thức ăn, nguồn nước, nguồn đất đai... đồng thời là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học, là chỗ dựa thuận lợi cho đồng bào sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất này hàng bao đời nay.
Khai thác kinh tế rừng từ xưa đã là một thế mạnh của người dân vùng đất Quan Sơn. Việc khai thác được nhiều thế hệ tiến hành để nhằm tận thu các nguồn lợi khác nhau từ hái lượm, săn bắt đến khai thác nguyên vật liệu, dược liệu trong các tầng, lớp khác nhau của rừng: tầng nước, tầng dưới mặt đất, tầng trên bề mặt đất, núi đá đến các tầng không gian. Việc khai thác nguồn lâm sản ở đây trước hết là phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đời sống gia đình. 
a. Khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật
Khai thác gỗ
Gỗ rất cần thiết trong đời sống hàng ngày. Người dân địa phương khai thác nhiều loại gỗ khác nhau tùy theo mục đích sử dụng chúng để làm nhà, làm công cụ sản xuất, săn bắn, làm các công trình công cộng như cầu cống và các công trình thủy lợi, làm quan tài và làm chất đốt.
Gỗ làm nhà được người dân lựa chọn cẩn thận nhất, đặc biệt là gỗ để làm cột cái. Mỗi một ngôi nhà sàn cần ít nhất 6 cột cái, kích thước các cột cái tùy thuộc vào nhà to hay nhỏ, nhưng đường kính thường dao động từ 30 cm - 50 cm. Theo kinh nghiệm đúc kết nhiều đời của người Thái, gỗ dùng làm nhà tốt nhất là những loại gỗ sến, táu, tấu mật, nghiến, mài lái, đinh hương, chò nâu, vàng tâm... Trong đó, gỗ thường được chọn làm cột là gỗ mài lái và gỗ nghiến, đây là hai loại gỗ không bị mọt, tốt hơn lim. Các loại xà ngang, xà dọc người ta thường chọn những loại gỗ không mọt như lát hoa, chò nâu, sến...
Cột cái được làm từ những loại gỗ trên có thể chôn thẳng xuống đất nhưng ít khi bị hỏng, có độ bền cao trên 50 năm. Tuy nhiên, nếu được kê trên bệ đá thì độ bền còn cao hơn nữa. Theo kinh nghiệm người dân cho biết, trước đây rừng trong địa bàn của họ ở rất phong phú các loại gỗ quý kể trên. Một số nơi khan hiếm những loại gỗ này thì người dân thay thế nó bằng các loại gỗ có độ bền tương đối cao như nhãn rừng, quýt rừng, chồ hô... Nếu như cột cái được làm bằng những loại gỗ này thì không chôn trực tiếp xuống đất vì nó nhanh mọt nên phải được kê trên đá. Đối với gỗ làm cột con, tùy theo diện tích ngôi nhà cần từ 8 - 18 cột, loại gỗ làm cột con không cần phải cầu kỳ như cột cái. Có thể sử dụng những loại gỗ làm cột cái để làm cột con hoặc sử dụng các loại gỗ khác như dổi, sâng, quân... là những loại gỗ không mọt và dễ kiếm. Các loại gỗ này còn được sử dụng để làm sàn nhà, đây là những loại gỗ có vân rất đẹp. 
Các loại gỗ được chọn làm vách, sàn, mái là những loại gỗ phải đáp ứng được yêu cầu bền, không mọt, đẹp, dẻo và nhẹ. Những loại gỗ được ưa dùng nhất là dẻ, xoan đào (chương), hồng rừng... Đây là những loại gỗ trước đây rất sẵn ở rừng Quan Sơn.
Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, những loại gỗ bi, vàng tâm, sú... thường được sử dụng làm quan tài vì đây là những loại gỗ tốt, không mọt, chịu nước. Trong đó gỗ bi là loại gỗ có độ bền cao nhất, tốt hơn cả gỗ trám, gỗ trầm hương, khi chôn xuống đất hay ngâm xuống nước ít bị mục ruỗng, phù hợp cho việc chôn cất lâu năm. Một ưu điểm khác của loại gỗ bi là thân gỗ to, cao và thẳng, do vậy một cây có thể làm được ít nhất vài ba chiếc quan tài.
Để làm chuồng nuôi gia súc trâu, bò người dân sử dụng tất cả các loại gỗ trừ nhóm gỗ để làm cột cái và làm quan tài vì đó là những loại gỗ quý hiếm, khó tìm.
Gỗ cọ, gỗ móc chủ yếu được sử dụng làm máng dẫn nước vì loại gỗ này thân thẳng, đều gốc đều ngọn, ngoài ra các loại gỗ này còn có ưu điểm mềm, nhẹ, dễ moi lòng và chịu được nước, dùng được ít nhất 10 năm mới phải thay máng mới. 
Ngoài ra, gỗ rừng còn được khai thác làm chất đốt để nấu ăn, sưởi ấm vào mùa đông. Củi đun được tận dụng chủ yếu từ những bộ phận thừa của những cây khai thác lấy gỗ, thân cây khô mục ở trong rừng. Những loại cây có dầu như pơ mu... người dân rất ít sử dụng để làm củi đun vì có mùi độc ảnh hưởng đến sức khỏe.
Gỗ có thể được khai thác quanh năm, tuy nhiên, mùa khai thác chính là mùa khô từ tháng 8 đến tháng 12 âm lịch bởi một số lý do sau: thứ nhất, đây là thời gian nông nhàn mọi người đều rảnh rỗi nên có thể huy động được nhân công. Thứ hai, đây là mùa thu - đông, thời tiết khô ráo, ít mưa, ít muỗi, vắt và cũng trùng với thời gian thời tiết lạnh nên lao động đỡ mệt mỏi hơn khi làm việc với cường độ cao. Lý do nữa cũng rất quan trọng, đó là vào mùa thu - đông hàm lượng nước trong thân cây không cao nên gỗ ít bị nứt và không bị mọt. Gỗ được khai thác vào mùa này chủ yếu để làm nhà và làm công cụ sản xuất. Khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 7 âm lịch, vẫn có thể khai thác gỗ để làm chuồng trâu, bò, lợn khi các gia đình có nhu cầu. Theo kinh nghiệm dân gian, nếu dùng gỗ để làm nhà nên tránh khai thác vào hai mùa xuân và mùa hè, vì khai thác vào mùa hè (tháng 4 đến tháng 7 âm lịch) gỗ hay bị mọt do thời tiết mưa nhiều và nóng ẩm, còn nếu khai thác vào mùa xuân sẽ làm giảm chất lượng và độ bền của gỗ vì đây là mùa sinh trưởng của cây, các chất trong cây tập trung vào nuôi lá, cành, thân cây tích nước nhiều hơn dẫn đến gỗ không tốt, hay bị mọt và nứt vỡ. Hơn nữa, mùa xuân là mùa đâm chồi nảy lộc nếu khai thác gỗ vào thời gian này sẽ làm ảnh hưởng đến mầm non, thảm thực vật cũng như tầng tán thấp nhất của rừng. 
Ngoài việc sử dụng gỗ làm nhà và làm các vật gia dụng khác, người dân địa phương còn khai thác gỗ để sử dụng làm các công trình công cộng và hệ thống thủy lợi như guồng nước, bai đập và máng dẫn nước.
Để làm nhà, người dân còn khai thác những nguồn vật liệu khác như tre, nứa, cọ... Vầu, giang non được khai thác chủ yếu để làm lạt. Nứa, vầu già được khai thác để đan các tấm phên làm vách nhà. Để không bị mọt, người ta khai thác vào mùa thu - đông, đồng thời phải chọn những cây già và không cụt ngọn.
Lá cọ, lá kè cũng được dùng phổ biến để kết tranh lợp nhà. Ưu điểm của mái tranh cọ rất mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông. Những cây cọ già lá rất bền có thể sử dụng được 10 - 15 năm, nếu lợp dày cẩn thận lại được bảo vệ bởi một lớp bồ hóng có khi thời gian sử dụng tới 20 năm mới phải lợp lại. Ngoài ra, người ta còn sử dụng cỏ tranh để lợp nhà. Tuy nhiên, cỏ tranh không tốt như các loại lá kia.
Trước đây, những khu rừng có nhiều trảng cỏ tranh được người dân sử dụng làm bãi chăn thả trâu, bò. Cứ vào khoảng cuối mùa khô (tháng 10 đến tháng 12 âm lịch) người ta lại đốt những bãi cỏ tranh này thành tro, gốc và rễ còn lại ở dưới đất sang mùa xuân lại mọc lên thành những thảm cỏ xanh tốt dùng làm thức ăn cho gia súc. Đây là kinh nghiệm sử dụng và tái tạo đồng cỏ tại chỗ phục vụ cho chăn nuôi mà không ảnh hưởng đến tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Những nơi không có lá cọ, lá kè, cỏ tranh người dân lấy nứa, vầu, gỗ xa mu lợp nhà.
 Khai thác nguồn thức ăn
- Khai thác và sử dụng các loại măng:
Rừng Quan Sơn có rất nhiều loại măng, được đồng bào khai thác quanh năm để làm thức ăn. Trong đó có các loại phổ biến như sau: măng luồng, nứa, bương được khai thác chủ yếu vào các tháng 4, 5, 6; măng đắng được khai thác chủ yếu vào tháng 7, tháng 8; măng tre được khai thác chủ yếu vào tháng 5, tháng 6; măng mai được khai thác chủ yếu vào tháng 5, tháng 6; măng mu còn gọi là măng vàu, đây là loại măng đắng được khai thác chủ yếu vào tháng giêng, tháng hai; măng sặt được khai thác chủ yếu vào tháng 7, tháng 8; măng trúc được khai thác chủ yếu vào tháng 2, tháng 3. Ngoài ra còn có các loại măng lồ ô, măng le le... được khai thác quanh năm.
Nhìn chung, hầu hết các loại măng mọc vào mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 8. Trong tất cả các loài măng trên thì măng mai, măng le, măng trúc, măng giang là những loại măng ngon nhất và thường để dành biếu anh em họ hàng hoặc làm quà cho khách ở xa. Xưa kia, vào thời điểm giáp hạt từ tháng 2 cho đến tháng 4, người dân cũng cần đến nhiều măng và các loại rau rừng để ăn thay cơm.
Cũng như các địa phương ở khu vực miền núi khác của xứ Thanh, người dân huyện Quan Sơn chế biến măng theo hai cách, qua lửa và không qua lửa. Phơi khô hoặc chế biến bằng vi sinh (lên men) là hai cách chế biến không qua lửa. Măng bương, măng nứa, măng mai, măng vàu là những loại măng thường được phơi nắng, sấy khô rồi dùng mo cau, bẹ tre, luồng gói kỹ cất trên gác bếp dự trữ ăn dần vào những thời điểm hiếm rau, hay dùng những khi không có điều kiện hái lượm các loại rau rừng khác. Ngoài ra, nguồn măng này còn là hàng hóa trao đổi, đem bán ở chợ hoặc để biếu anh em họ hàng và khách ở xa. 
Chế biến bằng lên men là cách thông dụng hơn cả. Phổ biến nhất là tạo ra các loại măng chua. Người ta thường sử dụng các loại măng có vị ngai ngái như: măng tre, măng bương, măng luồng... để ủ chua. Măng chua được nấu thành nhiều món ăn khác nhau như: xào, nấu với thịt gà, nhái, các loại cá đồng, cá sông, tôm tép, cua, ốc... Nhìn chung, măng chua nấu với các chất tanh sẽ khử được mùi tanh và càng tạo mùi thơm hấp dẫn.
Ngoài hai cách chế biến trên để dự trữ ăn dần, người dân còn sử dụng ăn sống trực tiếp, đồ chín và nướng. Khác với măng nứa, măng tre mọc ra từ gốc, măng mu mọc ra từ rễ. Riêng măng mu vừa mọc nhú khỏi mặt đất dùng thuổng moi củ lấy về ăn sống rất ngọt, nếu để lâu chồi cao khỏi mặt đất lại trở nên đắng. Do vậy, nếu muốn ăn thật đắng thì người ta để cho măng mọc cao khoảng 30 - 40 cm mới cắt về đồ ăn. Vì vậy, vào tháng giêng, tháng hai âm lịch, là thời điểm đất ẩm ướt măng mu mọc nhiều, người dân vào rừng đào măng mang về, bóc bẹ rửa sạch, dùng dao tước bỏ phần thân măng gần phần rễ rồi bổ dọc hoặc thái ngang thành từng miếng chấm muối trắng ăn kèm với một số loại rau thơm như mùi tàu, đinh lăng, kinh giới, tía tô... 
Có nhiều cách chế biến măng vàu như luộc, đồ, xào, nhưng với măng vàu nướng là ngon hơn cả. Vùi kín mụt măng trong than bếp cho đến khi chín. Người ta chọn những mụt măng đã nhô khỏi mặt đất từ 7 - 10 cm, phần nhô khỏi mặt đất có vị đắng hơn phần nằm trong lòng đất. Vị đắng mới là đặc trưng của măng vàu. Món măng này có mùi thơm đặc biệt, trở thành món ăn đặc sản của người dân nơi đây.
Với măng tươi có thể luộc, nhưng đồ vẫn ngon hơn vì đồ mới giữ nguyên được vị được chất của măng. Măng đồ chín có thể dùng để làm nham (nộm) hoặc để xào với thịt lợn, thịt gà. Măng nứa chấm với muối vừng hoặc với tỏi vắt thêm nước chanh, măng mai chấm với mắm chua. Măng đồ vốn là món ăn dân giã nhưng rất ngon, rất phổ biến trong bữa ăn quanh năm của đồng bào Thái, Mường. 
- Khai thác và sử dụng các loại rau, củ, quả rừng:
 Các loại rau, củ, quả là nguồn thức ăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bữa ăn hàng ngày. Người dân huyện Quan Sơn trước đây sử dụng hàng chục loại rau rừng như hoa chuối rừng, cây chuối rừng, rau sắng, rau chua phổ, rau má, rau tàu bay, rau dớn, lá chân chim...
Những món canh ngon miệng khác cũng có nguyên liệu được khai thác từ rừng như: canh duốc, canh măng hèo nấu với nhái hoặc ba ba.... Canh duốc là loại canh có nguyên liệu chính là cây chuối rừng bóc trắng, thái lát mỏng bóp muối, nấu với thịt gà, xương lợn... Canh măng hèo có nguyên liệu chính là măng nhánh lấy từ cây bương, giang, luồng bóc vỏ thái nhỏ, gia vị gồm có mẻ, sả (sịa), ớt và mùi tàu, lá lốt nấu với nhái hoặc ba ba...
Ngoài các món ăn thuần rau, các loại rau rừng còn được nấu với các loại đạm động vật tạo nên nhiều món ăn ngon và bổ, trong đó chủ yếu nấu với các loại cá, cua, ốc, ếch là những loại chứa nhiều chất tanh. 
Bên cạnh với các loại rau, củ, người dân địa phương còn khai thác các loại quả, hạt rừng để làm thức ăn và làm gia vị như: trám, sung, dổi, mắc khẻn ...Các loại nấm và mộc nhĩ cũng là đối tượng hái lượm phong phú của người dân địa phương. Hai loại sản phẩm chủ yếu này được người dân khai thác trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch. 
Rừng còn là kho dự trữ các loài cây gia vị. Những gia vị được người dân khai thác chủ yếu từ rừng đó là các loại củ, quả, hạt như: củ gừng, củ riềng, quả ớt, củ riêng, củ kiệu, củ sả, hạt khẻn, hạt dổi... Ngoài ra, còn có các loại gia vị chua khác như quả tai chua, khế rừng, chanh rừng, quýt rừng, lá chua phổ, lá chua me. 
Sống gần rừng, gắn bó với rừng, đồng bào có nhiều kinh nghiệm về thời vụ, đặc tính sinh trưởng của các loại cây để quyết định thời điểm, cách thức thu hái thích hợp. 
Chẳng hạn như thu hái măng đắng vào tháng 3; măng luồng, nứa, bương vào tháng 5; măng giang vào tháng 8... Không thu hái tận thu, quá mức để cây vẫn còn lá quang hợp; với cây lấy củ thì sau khi lấy xong củ phải trồng lại cây; với cây lấy rễ thì không được lấy hết bộ rễ... Măng có nhiều loại, măng sặt, măng đắng (no chá, no mú) mọc vào mùa xuân (tháng 2, tháng 3) hằng năm. Riêng măng mu càng lên cao càng đắng, do vậy phải tìm măng mới nhú phải đào đất xuống lấy măng thì ngon hơn. Măng nứa, vầu mọc vào tháng 5, 6, 7. Nhưng măng vầu đắng, thâm không ăn được. Măng giang, le, bương mọc vào tháng 6, 7, 8. Chế biến măng có nhiều cách, nhưng có một cách ăn măng ngon nhất là luộc cả bẹ trong niếng đồ cơm, khi chín đưa ra để nguội bóc sạch bẹ để ăn thì thơm, mềm rất ngon miệng. Tiếng Thái gọi cách này là “tốm tềnh cáp cáng viếng” (luộc cả vỏ trong niếng). Cách thứ hai: măng tươi thái thẳng thớ không lấy ngọn, mỗi đoạn chừng hai đốt tay, sau đó trộn với tro rồi cho vào sọt, đưa xuống suối ngâm khoảng 3 ngày, ra thăm thấy lát măng mềm thì rửa sạch đem về nấu với ngọn bí đỏ, hạt ngô non.
 Hái nấm rừng: nấm bao gồm có nhiều loại, tiêu biểu như nấm hương, nấm mối, nấm ới ới, nấm tắt tắt, nấm mộc, nấm dùi cồng( )... Trong đó, nấm hương là loại nấm ngon nhất và có hương vị thơm nên được người dân địa phương đặc biệt chú ý khai thác và sử dụng. Ngoài ra còn có giá trị kinh tế cao nên thường dùng để bán và trao đổi với người Kinh ở dưới xuôi. Nấm rừng có hai loại: nấm mọc từ đất, nấm mọc từ cây khô, cây ẩm mục. Nấm mọc từ đất vào thời gian tháng 5, 6 bắt đầu có mưa rào “ngóc hệt táp kháu, táp puốc” (mọc nấm lúa, nấm mối). Hai loại nấm này màu trắng, ngọn có núm, khi già xòe ra như ô ăn rất ngon. Riêng táp puốc (nấm mối) hay mọc quanh tổ mối có hình trụ to như ngón tay, trên là xoè ô, nón rộng như khay đựng chén nhỏ. Hái được nấm mới mọc còn đang chụm (tròn đầu) thì ngon hơn nấm đã xòe rộng nón.
Hái quả sa nhân: cây sa nhân thường mọc dưới tán rừng nơi gần sông, suối, bãi bằng. Quả sa nhân làm nhiều thuốc. Nếu chẳng may bị ứ hơi đầy bụng đau quằn quại chỉ cần 2 - 3 quả sa nhân bóc vỏ nướng chín giòn nhai nuốt xuống bụng 15 - 20 phút là khỏi. Cách thu hái quả sa nhân như sau:
 Vào khoảng tháng 6, 7 dương lịch là quả sa nhân già, tháng 8 là chín. Hái những quả vừa già đến (có vỏ màu xanh đậm) thì tốt hơn, dễ bảo quản, quả chín dễ mốc, quả non chất lượng chưa cao. Quả sa nhân mọc từng chùm dưới rễ cây mẹ. Quả già có màu xanh đậm, cứng; quả non màu trắng bợt; quả chín màu hồng nắn mềm dễ tách vỏ. Vỏ sa nhân thường có 3 múi, vỏ có lông xù xì nhưng không sắc, không ngứa. Ta hái sa nhân về phơi khô bỏ vào chum, vại, bì tải, sọt, bế có thể được 1 - 2 năm chưa hỏng, trừ những quả non, quả chín.
 Bóc vỏ quế: vỏ quế cũng là loại dược liệu quý. Dân gian đã có câu: “Quế quý như vàng” quế có thể chưng cất vỏ, lá, cành nhánh thành tinh dầu hoặc ướp để dùng. Trong đó vỏ quế là là sản phẩm quý nhất, cách thu hái (bóc vỏ) quế như sau:
Quế bóc vỏ mỗi năm 2 lần: vụ hè và vụ thu.
Vụ hè bóc tháng 4, 5; Sang cuối tháng 5 và tháng 6 sẽ khó bóc vì quế ra hoa.
Vụ thu: bóc vỏ quế từ tháng 7, 9; có năm bóc được đến trung tuần tháng 10 dương lịch. Chọn những cây không có búp non để bóc (cây có búp non thì sẽ khó bóc).
 Kỹ thuật bóc như sau: bóc chọn không cần hạ cây, dùng dao năm hoặc dao quắm khoanh nửa thân cây quế, mỗi đoạn tùy theo yêu cầu kích cỡ sản phẩm. Sau đó rạch thẳng theo thân cây cả hai cạnh. Dùng mũi dao, que vót lép mũi chọc vào cạnh đã rạch để bóc vỏ quế ra. Không được bóc khoanh tròn toàn thân cây làm như vậy cây quế sẽ chết.
 Bóc cả cây: hạ cây quế sát gốc sao cho cây ngã đúng hướng theo ý muốn của mình. Tránh va đập vào cây khác, khi cây đã nằm xuống đất dùng dao khoanh tròn thân cây (đoạn ngắn dài) tùy theo quy cách của sản phẩm, lấy mũi dao rạch dọc theo thân cây đoạn vỏ đã khoanh. Sau đó dùng mũi dao, que vót lép đầu chọc vào chỗ đã rạch từ từ bóc vỏ quế ra.
Để cho chắc chắn tránh lãng phí thì trước khi hạ cây quế phải nhìn cây không có chồi non, không có hoa, rạch một đoạn nhỏ để bóc thử, thấy bóc dễ mới hạ cây.
Mùa xuân là mùa đâm chồi nảy lộc, mùa phát triển của thực vật nên công việc hái lượm tấp nập hơn. Mùa đông số loài giảm xuống nhưng lại có những loài có khối lượng cá thể lớn như: môn rừng, rau chúp, tàu bay... nên vẫn đáp ứng đủ nguồn rau ăn.
Hái lượm các loại rau, măng, củ, quả tự túc thức ăn hàng ngày cho gia đình là mục đích chính, nhưng không thể phủ nhận vai trò là sản phẩm hàng hóa của một số loài như măng, nấm..., trước hết là trao đổi ngay trong nội bộ vùng, sau là trao đổi với người ngoại vùng.
b. Khai thác và sử dụng tài nguyên động vật
Khai thác nguồn thức ăn
Sống trong hệ sinh thái phổ tạp, có tài nguyên động thực vật rất phong phú và đa dạng, do đó bên cạnh việc khai thác nguồn thực vật người dân còn khai thác nguồn động vật sử dụng làm thức ăn và nhiều mục đích khác. Mặc dù hiện nay người dân không còn săn bắn nữa, nhưng thông qua việc liệt kê tên gọi của các loài động vật đã từng sống và đang sống trong rừng cho thấy đồng bào các tộc người nơi đây có nhận thức rất sâu sắc về nguồn tài nguyên này. Cũng giống như nguồn tài nguyên thực vật, đồng bào liệt kê được hàng chục loài động vật khác nhau trong rừng. Có thể phân chia thành những loại sau:
Động vật ăn thịt gồm: Hổ, báo, mèo rừng, chó sói...
Động vật thuộc bộ móng guốc gồm: gấu, sơn dương, nai, hươu, hoẵng, lợn rừng...
Động vật bò sát gồm: kỳ đà, tắc kè, thằn lằn, rắn, trăn...
Loài linh trưởng gồm: khỉ, đười ươi, vượn, voọc, cu li...
Động vật gặm nhấm gồm: chuột, dúi, nhím, tê tê...
Côn trùng gồm: ong, sâu, bọ cánh cứng (cánh kiến, bọ tre, ve...), cào cào, châu chấu... 
Ngoài ra, rừng còn có nguồn thủy sinh như cá, tôm, cua, ốc, ếch... ở khe suối, ao hồ, trong rừng.
Săn bắn là hoạt động khai thác truyền thống chủ yếu, đi săn là công việc dành chủ yếu cho nam giới. Người Thái thường săn bắn theo mùa. Kinh nghiệm dân gian cho thấy, mùa đi săn chủ yếu vào mùa thu - đông bởi những lý do sau: trước hết, đây là mùa quả rừng chín (như trám, bùi...), do đó mùa này cũng là mùa chim, thú béo nhất trong năm. Trên rừng còn có lúa rẫy, ngô, sắn làm cho những bầy thú như lợn lòi, cày, nai, hoẵng, nhím... kéo đến tìm kiếm thức ăn, vì vậy đi săn trong mùa thu - đông còn có một lý do nữa đó là bảo vệ mùa màng. Thứ hai, đây là mùa khô lạnh, ít muỗi, vắt, những loài rắn rết là kẻ thù nguy hiểm nhất của người đi săn cũng đi tìm chỗ trú đông không ra ngoài kiếm ăn, do đó thuận tiện cho việc đi săn. Thứ ba, theo kinh nghiệm của nghề săn vào dịp thu - đông là thời điểm thú rừng bắt đèn dễ bắn( ). Thứ tư, đây là mùa đông khô lạnh, con người ít mệt mỏi đảm bảo sức khoẻ truy sát thú, hơn nữa vào mùa này nếu con mồi mắc bẫy, mắc kẹp, bắn chết chưa lấy về được để đến ngày hôm sau vẫn còn sử dụng được vì thú không bị thối rữa. Lý do cuối cùng, đây là mùa nông nhàn người dân có điều kiện tổ chức những cuộc săn.
Theo quan niệm của đồng bào, công việc săn bắn không chỉ mục đích tìm kiếm nguồn thức ăn mà đây còn là thú tiêu khiển của giới đàn ông. Tuy nhiên, không phải đi săn ngày nào, giờ nào cũng gặp được thú rừng. Thú rừng thường xuất hiện nhiều theo giờ, theo tháng, theo mùa. Chính vì thế, người Thái cũng như người Mường ở huyện Quan Sơn đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong săn bắn. Cụ thể như mùa măng dễ gặp lợn lòi, hoẵng, nai trong rừng nứa, vầu và cây có chồi, có lộc ở thấp. Mùa hoa quả trong rừng, như mùa quả sấu, quả vải rừng chín sẽ gặp nhiều vượn khỉ, vọoc. Mùa ong mật làm tổ sẽ hay gặp gấu...
Dụng cụ săn bắn phổ biến trước kia là bẫy và cung nỏ. Những loại bẫy họ sử dụng cũng phong phú, đối với loại thú nhỏ như dơi, các loài gặm nhấm thì dùng cung nỏ, bẫy sập, bẫy dính hoặc lưới quây. Với loài thú lớn hơn như hoẵng, sơn dương, nai... họ dùng bẫy treo, bẫy thòng lọng... Sau này việc sử dụng súng phổ biến hơn, chủ yếu dùng súng kíp, súng hỏa mai, súng hai nòng. Súng săn trước kia ngoài việc dùng trong săn bắn còn được sử dụng trong đám ma với mục đích thông báo cho làng biết đã có người qua đời.
Có hai hình thức săn, đó là săn cá nhân và săn tập thể. Săn tập thể là hình thức săn nguyên thủy nhất, thường được diễn ra trong mùa khô từ tháng 8 âm lịch đến hết năm. Khi phát hiện có thú, trưởng phường săn huy động toàn thể dân làng cùng tham gia. Ngoài dùng súng họ còn dùng chó, mõ, gậy gộc, lưới vây và hò hét inh ỏi để bao vây truy sát con thú. Những buổi đi săn tập thể thường được tổ chức vào ban ngày.
Sản phẩm săn bắn được đem về chia cho dân làng cùng ăn. Người Thái có câu: Húa ma, khá nóc, phượng non đín khao bán, nghĩa là sau khi đưa đầu (thú sắn được) đùi phải mang đi mời Tạo, còn nửa nằm đất thì chia cho bà con dân bản, số còn lại chia cho phường săn.
Trước đây, hầu hết các bản làng đều có phường săn. Và phường săn chỉ giành cho nam giới tham gia vì đi săn rất cần đến sức khoẻ và phải biết trèo cây khi bị thú tấn công. Mỗi phường săn thường phải có từ 5 - 7 tay súng. Đứng đầu phường săn là trưởng phường săn, đây là người có uy tín, kinh nghiệm trong săn bắn và phải biết tính lịch săn, đồng thời có cồng để tập hợp phường săn và điều khiển chó săn. 
Để tổ chức một cuộc săn người ta phải tính ngày, tính giờ xuất phát. Ở một số địa phương còn có tục xem chân gà trước khi đi săn. Trưởng phường săn trước khi phát cồng tập hợp quân, phải thịt một con gà bói chân xem có được thú to hay thú nhỏ. 
Kinh nghiệm được đúc kết trong sắn bắn nhiều đời của người dân địa phương cho biết, những khu rừng lau, rừng chuối pha nứa vàu, rừng gần rẫy sắn, rẫy ngô, rẫy lúa thì sẽ có lợn lòi, hoẵng, nai.
Rừng có nhiều cây ăn quả thì sẽ có khỉ, vượn, vọoc, gấu, cáo... ăn ở trên, có lợn rừng, hoẵng, nai ăn ở dưới gốc nhặt quả rơi rụng.
Rừng rậm có nhiều thú ăn cỏ tất sẽ có nhiều thú ăn thịt như hổ, báo đến trú ngụ. 
Các loài hoẵng, lợn lòi, cáo thường ở gần, còn các loài thú như nai, gấu, bò rừng, trâu rừng thường ở rừng sâu.
Săn cá nhân hay còn gọi là săn rình, thường được tiến hành vào chập tối hay ban đêm. Khi phát hiện được dấu chân hoặc tiếng kêu của con thú thường xuyên qua lại ở một cánh rừng, hay mỗi khi thú phá hoại ngô, sắn, lúa trên rẫy thì người thợ săn lên đường. Dụng cụ đi săn bao gồm súng, tên nỏ và đèn ló, ngoài ra người thợ săn dẫn theo chó săn để nó đuổi thú về phía chủ và truy sát những con thú đã trúng đạn, sát thương. Thú săn được thường là nhím, nai, hoẵng, lợn rừng, dúi, sóc, chuột...; các loài chim như công, phượng hoàng, vẹt các loại, gà lôi... Kinh nghiệm cho biết, nếu thú phát hiện thấy hơi người thì nó sẽ lập tức bỏ trốn, do đó người thợ săn luôn ý thức không đứng đầu hướng gió. 
Cùng với việc sử dụng súng, nỏ để săn thú thì việc săn thú bằng bẫy cũng rất phổ biến, sử dụng một số loại bẫy như bẫy kẹp, bẫy sập, bẫy thòng lọng, bẫy chông, bẫy chuồng, bẫy lao, bẫy dính, bẫy treo.... Để tránh tai nạn, những người đặt bẫy thường phải báo cho dân làng hoặc đánh dấu bằng cách cắm cây nêu ở gần khu vực có bẫy để những người đi qua nhận biết tránh đường.
Nhưng dù dùng phương tiện công cụ gì thì cũng cần có kiến thức, kinh nghiệm mới bắt được thú. Đồng thời đồng bào cũng nhắc nhở nhau không được quá ham, quá đà trong việc săn bắn thú rừng. Tục ngữ Thái đã dạy:
“Ệt hẹo nha cái xám dặng
Ệt chặng nha cái xám luông”
Dịch:         Làm bẫy đừng quá ba đường
                Làm đập bắt cá đừng quá ba cái( ).
Ý khuyên rằng: Một người không được làm nhiều bẫy bắt thú, bắt cá. Nếu ai cũng làm nhiều thì thú và cá sẽ hết.
“Tố púm man nha dẹ
    Mé lúc on nha nhinh”
Dịch:         Thú có chửa đừng diệt
                Mẹ nuôi con đừng bắn
Có nghĩa nhắc nhau bảo vệ nòi giống của thú. Nếu săn bắt con đang chửa, mẹ đang nuôi con nhỏ thì vô tình mình giết cả hai mạng thú một lúc. Nói cách khác đây còn là ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với sự sống của mọi sinh linh.
“Lúp ná xám kháp cói lăn co”
Dịch:         Vuốt mặt ba lần mới bóp cò.
Ý muốn nói thợ săn phải bình tĩnh trước khi bắn. Nếu nóng vội có thể bắn nhầm phải người, phải thú nhà hoặc thú cấm.
 “Linh tố liếu nha khá
    Hến tố lạ nha nhinh”
Dịch:         Khỉ một con đừng giết
                Thấy thú lạ đừng bắn.
Có nghĩa là, khỉ thường đi theo đàn, nếu chỉ còn một con là sự lạ, có khi sắp tiệt đàn hoặc là sự kiêng khem, cấm kỵ không được giết.
Khai thác nguồn động vật còn bao gồm các loại côn trùng như châu chấu, mối, dế mèn, các loại ong... Rừng ở huyện Quan Sơn có đến chục loại ong như: ong mật, ong bò vẽ, ong đất, ong nghệ, ong muỗi,... Người ta thường khai thác ong mật (ong khoái) từ tháng 3 đến tháng 5 âm lịch vì đây là mùa ong đi lấy mật, còn tháng 9, 10 khai thác ong đất. Ngoài ra, các loài chim, dơi, gà rừng... cũng là đối tượng săn bắt chung của người dân địa phương. 
Tìm bắt ong lỗ: vào khoản tháng 8, 9 đầu tháng 10 dương lịch hằng năm, khi lúa trổ đã trĩu bông và đuôi bông lúa đã vàng là mùa ong lỗ sai tổ. Ong lỗ là những con ong to hơn ong bò vẽ mình có khoang đen, vàng, đốt rất đau có thể chết người. Chúng đào lỗ dưới đất. Thường thì có một lỗ vào cửa chính nhiều đất mượn dễ phát hiện và có từ 1-3 lỗ nhỏ để đi ra tiếng Thái gọi là “hù ngóc”. Những lỗ này chỉ lọt quả trứng gà và không có đất mượn nên khó phát hiện.
Người săn ong phải dũng cảm, bình tĩnh khi đã phát hiện tổ ong. Nép vào một chỗ kín, đứng yên để theo dõi chúng vào ra. Từ đó phát hiện ra lỗ vào, lỗ ra thật chính xác. Khảo sát xong chờ trời tối hẳn (khoảng 8 - 9 giờ tối) ong sẽ vào trong lỗ gần hết. Chỉ còn vài ba con canh ở cửa. Ta dùng lửa châm vào các lỗ đã phát hiện (cả lỗ ra vào), thổi lửa và khói theo cửa chính vào tổ ong làm ong già sẽ chết. Khi đã xác định đàn ong già chết hết ta dùng cuốc, xẻng đào lấy các tầng ong non trong tổ ra. Có trường hợp không phát hiện được đủ lỗ thoát của ong, người lấy ong bị đàn ong đánh trả rất nguy hiểm có thể chết người.
Thời điểm lấy ong là trung tuần hàng tháng trong vụ theo âm lịch.
 Tìm bắt ong mật: ong mật thường làm tổ trên cao, việc sinh đẻ ong non do một mình ong chúa đảm nhiệm. Ong mật đốt không đau bằng ong lỗ. Nhưng tư thế lấy ong lại rất khó, hay xảy ra tai nạn rơi từ trên cao xuống. Ong mật làm mật mỗi năm hai lần vào mùa xuân (cuối tháng 3), vào mùa thu (tháng 7, 8 dương lịch).
Đồng bào thường nhắc nhau lấy ong mật phải bảo vệ ong chúa, không làm ong chúa chết thì đàn ong mới còn. Việc lấy ong mật chỉ là xua đàn ong bay đi để mình lấy mật, không được làm mất ong chúa, không được làm ong mất tổ mà lìa đàn.
    “Phấng xía mé măn luân
    Nộc chác pừng măn móm”
Dịch:        Ong mất chúa (mẹ) nó tàn
    Chim lìa đàn nó tủi( ).
Kỹ thuật lấy ong mật: sau khi phát hiện tổ ong ta phải đánh dấu X vào gốc cây để xác định mình đã phát hiện (tổ ong đã có chủ), ra ngoài đường hoặc dưới khe suối gần nhất làm ký hiệu chỉ về phía tổ ong cho mọi người biết mình đã phát hiện tổ ong.
Ong thường làm mật vào giữa tháng từ ngày 14 - 17 âm lịch là phải lấy mật. Trước khi đi lấy mật phải chuẩn bị sọt, túi nilon hoặc xô, chậu để đựng cả tảng mật ong (chưa vắt). Đem theo lửa, bó đuốc, bùi nhùi hoặc lốp xe đạp, xe máy cũ treo vào đầu sào đốt dơ thẳng lên tổ ong cho ong già bay đi. Trường hợp tổ ong cao phải trèo lên gần vị trí tổ ong mới đốt lửa để xua ong. Sau khi ong già đã bay ra thì dùng sọt đã lót nilon hoặc xô có quai buộc dây thừng đủ dài xuống đất đặt sọt (xô) vào dưới tổ ong rồi dùng dao năm cắt phần cần lấy cho rơi vào sọt (xô). Rồi ròng dây xuống cho người đỡ lấy. Khi mang mật ong về nhà thì dùng 2 lớp vải màn sạch trùm lấy tảng mật ong để bóp chặt cho mật ong xuống chậu. Sau đó có thể lọc nhiều lần qua vải màn sạch tùy ý mình trước khi cho mật vào chai. Nút chai bằng lá chuối, ruột bắp ngô khô, giấy...
Các loài thủy sinh, nhuyễn thể, lưỡng cư, bò sát được săn bắt chủ yếu theo mùa vụ bao gồm các loại cá, tôm, cua, ốc, rùa, rắn, tắc kè, kỳ đà, kỳ nhông... Mùa săn bắt chủ yếu là mùa nóng, mùa mưa. 
Nhìn chung, rừng trước đây thuộc quyền sử dụng của chung cộng đồng, trải qua thời gian khai thác người dân bản địa đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng, mang lại nhiều nguồn lợi có giá trị trong cuộc sống.
c. Quản lý nguồn tài nguyên rừng
Quản lý tài nguyên thực vật
Trước đây, người Thái, người Mường phân chia đất đai nói chung và tài nguyên rừng nói riêng bằng quy ước phân thủy. Ngoài ra, còn phân định ranh giới đất đai dựa vào các dông núi. Đây là quy ước truyền thống, tuy không thành văn nhưng rất có hiệu quả trong quản lý. 
Ở từng làng bản, các thành viên, gia đình đều có quyền khai thác, sử dụng và có trách nhiệm quản lý nguồn tài nguyên này. Chỉ được khai thác trên địa phận rừng của bản, không được khai thác rừng trên địa bàn của bản khác. Những người già có trách nhiệm trao truyền cho con cháu nhận biết về ranh giới đất đai cũng như không gian sinh tồn của bản mình. 
Để bảo vệ rừng đầu nguồn, trước đây những người cao tuổi còn truyền miệng nhau những câu chuyện ly kỳ, hoặc đặt tên cho những khu rừng này là “rừng ma - rừng thiêng”. Họ cho rằng, bảo vệ rừng đầu nguồn là bảo vệ nguồn nước. Nếu không có rừng đầu nguồn thì người dân sẽ không có nước sản xuất và sinh hoạt. Vì thế, ngoài việc bảo vệ bằng quy ước thì người dân còn bảo vệ bằng niềm tin tín ngưỡng. 
Việc chặt cây lấy gỗ làm nhà và chặt phá rừng làm rẫy là điều khó tránh khỏi. Trong bản làng, nếu hộ nào có nhu cầu chặt cây lấy gỗ làm nhà hoặc chọn đất làm rẫy mới đều thông báo để bản làng biết và có sự tham gia giám sát, giúp đỡ của cộng đồng. Vì vậy, trên thực tế tuy không có ai đứng ra cấm đoán, nhưng gia chủ vẫn tự giác chỉ khai thác rừng trong khuôn phép mà cộng đồng quy ước, chấp thuận. Gia đình nào chặt phá quá đáng hoặc xâm hại vào khu “rừng cấm” sẽ bị cộng đồng chê trách, trường hợp vi phạm nặng nề hơn cộng đồng sẽ từ chối “khéo” không tham gia giúp đỡ các công việc như kéo gỗ, dựng nhà( ). Thậm chí bị phạt vạ bằng tiền, của cải nộp cho bản, làm bữa khao bản để xin lỗi.
Người dân địa phương trước đây có tập quán đi chọn gỗ và đánh dấu, làm nêu báo hiệu cho người khác biết cây đã có chủ sở hữu. Tùy theo từng gia đình, từng làng có cách đánh dấu riêng và ở các địa điểm khác nhau trên cây. Song, cách đánh dấu thông thường là dùng dao khắc dấu chéo (X). Khi chọn cây, đồng bào cũng chú ý đến các cách đánh dấu này để khỏi nhầm lẫn. 
Nhiều làng có lệ cấm rừng diễn ra vào tháng Giêng. Làng bản nổi trống báo hiệu cấm vào rừng lấy măng, nếu ai cố tình vi phạm thì sẽ bị phạt bằng cách bắt dao và những vật dụng mang theo... 
Vấn đề ngăn chặn việc cháy rừng cũng được quy định thành lệ rất cụ thể. Trước khi đốt rẫy, họ thường làm một đường biên ngăn lửa rộng khoảng 2, 3 sải tay để giữ một khoảng cách nhất định tránh lửa bén tới chân rừng, một trong những điều cần tránh là không đốt vào những thời điểm gió to, không đốt vào chiều tối. 
Quản lý tài nguyên động vật. 
Việc phân chia sản phẩm săn tùy thuộc vào vấn đề tổ chức nhóm người đi săn trên tiêu chí công bằng và ưu tiên cho người bắn đầu tiên. Người trực tiếp hạ sát con thú, theo luật săn được hưởng riêng cái thủ, gọi là phần “mũi súng”, ngoài ra còn được hưởng 1/3 bộ lòng và một đùi thịt. Nhưng nếu đến người thứ hai mới bắn con thú chết hẳn thì người thứ hai được mông kèm cái đuôi, một phần thịt và xương bả đít. Phần thịt còn lại chia đều cho tất cả những người tham gia cuộc săn. Khoanh thịt cổ được chia đều cho các chủ chó săn. Ai phát hiện có thú báo cho phường săn cũng được một phần thịt như những người khác. Theo tục lệ, người trực tiếp bắn chết thú phải làm lễ cúng thần rừng tại nhà và báo cáo thành quả với tổ tiên. Thông lệ, khi chia thịt phải để dành riêng một phần thịt và lòng cho các thành viên tham gia cuộc săn liên hoan một bữa tại nhà trưởng phường săn. Nếu chỉ săn được thú nhỏ thì không chia phần mà cùng nhau tổ chức ăn uống tại nhà trưởng phường săn. 
Lệ xưa cũng quy định, nếu con thú bị bắn trên đất làng mình nhưng chết trên đất làng khác thì làng ấy được hưởng một nửa phần con thú.
Trong xã hội truyền thống, đất đai, rừng núi là của chung cộng đồng nhưng trên danh nghĩa nhà Tạo là những chúa đất cai quản chung. Do đó, theo tục lệ quy định săn tập thể hay săn cá nhân nếu được loài thú lớn như nai, hoẵng, lợn rừng thường phải biếu nhà tạo trong mường một đùi trước hoặc một khoanh thịt thăn. Có những mường nhà Tạo quy định nếu săn được hổ phải nộp da và bộ xương, nếu là gấu phải biếu mật... Nếu ai dấu diếm sau này bị phát hiện sẽ bị nhà Tạo phạt tội.
Đối với người Thái, việc săn bắn muông thú vừa để bảo vệ mùa màng, vừa kiếm thêm thực phẩm cho bữa ăn của gia đình. Tuy vậy, để bảo tồn các loài thú, bản - mường quy định cấm săn bắn từ tháng 3 đến tháng 6 (âm lịch) vì đây là mùa sinh sản của các loài thú. Hơn nữa, người đi săn thuộc dòng họ nào thì phải biết con vật kiêng (vật tổ) của dòng họ mình để tránh. Nếu ai giết hoặc ăn thịt con vật được coi là ông tổ dòng họ thì sẽ bị ốm đau, bệnh tật... 
Ngoài săn bắt động vật trên cạn, người Thái còn dùng chài, lưới, đơm, xúc, câu... để tiến hành đánh bắt các loài động vật dưới nước như cá, tôm, cua, ốc... Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bản còn cấm đánh cá từ tháng 6 đến tháng 8 (âm lịch) vì đây là mùa cá sinh sản. Tất nhiên, việc cấm cần được hiểu là cấm đánh cá tràn lan, tận thu, huỷ diệt... người dân vẫn có thể chài, lưới, câu cá bình thường. Họ có những kinh nghiệm về các cách đánh bắt truyền thống và hiệu quả: chọn một khúc sông, suối thích hợp, đắp một đập để hướng dòng nước chảy theo một dòng hẹp, tạo thành một cái thác nhỏ, làm một cái sàn ghép bằng nứa hoặc vầu hứng dưới thác, sàn ghép không kín để nước và cá nhỏ chảy qua dễ dàng, chỉ con cá nào to mới mắc lại trên sàn( ). 
Trong săn bắt, người dân có ý thức cao trong việc bảo vệ các loài vật trong rừng. Cụ thể là không được làm bả thuốc độc giết động vật để ăn thịt; không ai được bắn giết các loài thú đang có chửa hoặc nuôi con bú; không được phá tổ chim lấy trứng để ăn, không được làm thịt những con gà đang đẻ hoặc đang ấp trứng. Họ quan niệm nếu ai làm như vậy là tội ác và sẽ bị báo ứng cho chính cuộc đời của mình. Thậm chí khi bắt được con vật chửa, người ta còn thả nó về rừng... Đây chính là kinh nghiệm khai thác bền vững, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc nhằm duy trì, bảo tồn sự đa dạng sinh học.
Hiện nay, phần lớn các quy ước, hương ước của các thôn làng đều có nội dung quy định bảo vệ động vật rừng, nhằm ngăn chặn săn bắn trái phép. Nghiêm cấm việc săn bắn động vật rừng quý hiếm đã được Nhà nước quy định tại Nghị định số 48/2002/NĐ-CP, ngày 22/4/2002. Nếu cá nhân tổ chức nào tự do săn bắn động vật rừng không có giấy phép của cơ quan chủ quản, thôn phát hiện lập biên bản tạm giữ tang vật công cụ sử dụng săn bắt và xử lý theo quy định của pháp luật, ngoài ra còn phải kiểm điểm trước thôn. 
5.1.4. Thủ công nghiệp truyền thống
Trong xã hội truyền thống, do đặc trưng của văn hóa bản mường nên vùng đất Quan Sơn trước đây không hình thành các làng nghề như vùng châu thổ. Nghề thủ công truyền thống phổ biến ở đây là những nghề thủ công gia đình. Nghề thủ công của người Thái, người Mường thường được tiến hành trong thời gian nông nhàn nhưng có nghề chỉ tiến hành khi có nhu cầu, khi công việc hoàn thành thì làm việc khác; phổ biến nhất là nghề dệt, nghề đan, nghề làm rượu, làm nhà.,..
Sự hình thành và phát triển nghề thủ công đồng thời với quá trình hình thành và phát triển của nông nghiệp, bởi vì giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ trợ để thúc đẩy qúa trình phát triển của kinh tế sản xuất, đáp ứng nhu cầu sinh tồn.
Bên cạnh hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống, thủ công nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu kinh tế và văn hóa tộc người nói chung. Hơn thế, thủ công nghiệp không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt văn hóa, văn minh tộc người. Đồng thời đó là minh chứng cho sự phát triển về mặt kỹ thuật, mỹ thuật, trí tuệ và bàn tay tài hoa của các thế hệ tiền nhân. 
Các nghề thủ công ở huyện Quan Sơn không phong phú và đa dạng như ở các khu vực đồng bằng, bởi có những lý do riêng, đó là tính khép kín của cộng đồng, nền kinh tế tự cấp tự túc, dân cư thưa thớt và đặc biệt là sự hạn chế về địa lý tự nhiên. Tuy vậy, ở các bản làng, các hoạt động tiểu thủ công gia đình của người Thái như nghề dệt, nghề làm đệm, chăn gối, nghề mộc, nghề đan lát được hình thành, phát triển... Trong đó, nổi bật hơn cả là nghề dệt vải, dệt thổ cẩm, đan lát, tạo ra các sản phẩm độc đáo như vải, mặt chăn, gối, màn, rèm, cạp váy, khăn, túi,... các đồ gia dụng bằng tre, vầu, mây như gùi, hòm đựng quần áo bằng mây, dón để phụ nữ đeo bên hông, ép đựng xôi, mê đan tre để hứng gạo trước khi đồ xôi, nong, nia, rổ, rá,... Để cho nghề dệt duy trì và phát triển, người Thái, người Mường từ xưa biết trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, kéo sợi để dệt vải, trồng chàm để nhuộm vải.
- Nghề dệt vải
Đây là nghề thủ công truyền thống có lịch sử lâu đời, vải( ) gắn liền với dân tộc Thái, Mường. Trong xã hội truyền thống, nhân dân các dân tộc ở huyện Quan Sơn đều thông thạo nghề dệt. Theo sự phân công lao động tự nhiên thì việc làm ra vải chủ yếu thuộc về nữ giới. Nam giới là người hỗ trợ trong việc chế tác các công cụ như khung cửi, guồng xe sợi... Như vậy, trong tập quán truyền thống, đã tạo lập cho người phụ nữ tay nghề làm ra vải. 
Người Thái đã tổng kết “nhinh ệt phái, chai xan he” (gái dệt vải, trai đan chài). Còn tục ngữ người Mường lại nói “Đán ôông hẩu nấm ná, đán bá hẩu trôộc vằn” (Muốn biết đàn ông hãy xem bờ ruộng, muốn biết đàn bà hãy xem cạp váy). Là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải đạt trình độ tinh xảo như câu tục ngữ Thái đã nói: “sấp đôi bàn tay thành hoa văn, ngửa đôi bàn tay thành hoa lá” (khoắm mư pên lai, hai mư pên bók). Nếp sống xưa cho rằng, biết làm vải thì mới là phụ nữ, nhược bằng không thì người đó dù có chăm chỉ mọi việc khác đến đâu, cũng bị xã hội cho là lười.
Trong tín ngưỡng phồn thực, tiếng Thái gọi là “ệt hít nặm nèo” (làm tục nòi giống) thì hạt thóc và hạt bông là hai vật được chọn làm tượng trưng. Khi về nhà chồng chia cho gói hạt bông, thóc về làm giống. 
Giống bông được trồng để phục vụ nghề dệt của người Thái, nhìn chung có hai loại: loại cho bông màu trắng (phải đón) và loại cho bông màu hung đỏ (phải may). Bông không ưa đất ẩm thấp, do đó đồng bào thường trồng tập trung ở các bãi rẫy, bãi sông rộng lớn, khô hạn và có ánh nắng chói chang. Song, đất bông hợp nhất là các đồi đất nâu và một số bãi bằng gần sông. Từ thập niên chín mươi của thế kỷ XX trở lại đây diện tích trồng bông bị thu hẹp do sự xuất hiện của sản phẩm may mặc công nghiệp. Tuy vậy, nghề trồng bông xe sợi dệt vải ở huyện Quan Sơn không mất hẳn như một số huyện miền núi khác mà những chiếc khung dệt và tiếng thoi đưa vẫn thấp thoáng hiện hữu trong đời sống thường nhật ở từng gia đình, bản làng.
Cũng như rẫy lúa, rẫy bông được tiến hành theo phương pháp: phát, đốt, tra hạt. Trong khâu tra hạt người Thái thường dùng gậy chọc lỗ, hoặc dùng thuổng xỉa lỗ trỉa hạt.
Theo nông lịch cổ truyền, dựa vào thời tiết khí hậu, người dân ở đây thường gieo trồng bông từ cuối tháng Chạp cho đến tháng Giêng - Hai âm lịch. Thời gian làm cỏ chăm sóc bắt đầu từ tháng 3, tháng 4 trở đi. Đến khoảng tháng 6, 7 âm lịch là lúc quả bông nở rộ trên rẫy, các cô thôn nữ rủ nhau đi hái, vui đùa như ngày hội, lúc này bông mới là nguyên liệu thô được chuẩn bị để đưa vào khâu liên hoàn trong quy trình sản xuất ra tấm vải. Những người phụ nữ với đôi tay khéo léo của mình đã bắt đầu bằng những việc: phơi nắng cho bông nở hết cỡ và đưa bông vào máy cán quay tay để tách hạt. Tiếp đó, đưa bông vào khâu bật, cuốn bông thành từng đọt ngắn (người Thái gọi là lo phải) để kéo thành sợi trên guồng xa quay tay. Sau đó bông đã thành sợi thì được đưa vào guồng cuốn thành từng con để đem hồ bằng cháo gạo tẻ nấu loãng với độ nửa chín nửa sống rồi đem dăng trên sàn phơi nắng cho sợi khô. Tiếp đến việc đưa sợi cuốn vào suốt, dăng sợi, lắp go và đưa vào khung cửi để dệt thành tấm vải.
- Nghề làm đệm, chăn, gối
Đây là một nghề thủ công truyền thống hầu như gia đình Thái nào cũng tự làm được. Sau khi thu hoạch thì bông được lựa chọn, phân thành những loại khác nhau. Các loại bông đó được phơi nắng cho khô rồi cất vào bồ, bịch để sử dụng dần. Loại sợi để dệt vải mặc được kéo từ loại bông quả lứa đầu, lứa quả này cho loại sợi trắng và mịn màng hơn. Từ những lứa quả sau, sợi bông ngắn, không nõn nà lắm thường để kéo thành sợi dệt mặt chăn hay bật thành bông làm mền chăn. Mền chăn làm bằng bông bật phồng và được can bằng những đường chỉ ngang, dọc, chéo tạo thành tấm. Sự tập trung chú ý để tạo nét văn hóa là ở phần vỏ chăn. Mặt ngoài, hay còn gọi là mặt phà (ná phà) là chỗ thể hiện ra bên ngoài những ý niệm thẩm mỹ nên được khâu phủ bằng tấm thổ cẩm. Bằng thổ cẩm, mặt chăn gợi một cảm giác rực rỡ bởi những hoa văn hình kỷ hà và đường chạy đan xen của các mầu sắc trắng, vàng, tím, xanh... dệt trên nền đỏ tươi sáng. Có hẳn loại thổ cẩm dệt để dùng cho việc này nên mang tên đặc trưng là mặt chăn (ná phà) thì chỉ hai mầu có thể coi như sở trường của nghệ thuật dân tộc: Màu trắng là nền, còn đen dệt hoa văn biểu đạt đầy đủ các họa tiết trang trí Thái. Khâu nối với mặt thổ cẩm để thành túi bọc lấy ruột chăn là miếng vải trắng hoặc kẻ sọc, mang tên là “tấm lót chăn” (phả lóp phà). Đây là mặt phía trong của vỏ chăn, phần trực tiếp đắp sát thân người, có thể tháo ra thường xuyên để giặt.
Đệm Thái đã nổi tiếng là bền, ấm và đẹp. Chất liệu bông để nhồi là tên gọi đệm, đồng thời cũng là chỗ căn cứ để phân loại tốt hay xấu. Đệm bông gạo được xếp vào loại tốt nhất vì nó có độ mềm, nhẹ và đặc biệt ấm. Xếp sau đệm bông gạo là đệm bông cỏ gianh và sau cùng là đệm bông lau vì cứng nặng, độ ấm kém hơn. Hiện nay, người Thái ở huyện Quan Sơn rất ưa dùng đệm bông lau, đệm không giặt được nên chỉ phơi, đập cho sạch bụi, do đó mặt trên mới có vải ga lót thường dùng vải mầu trắng để luôn luôn phải sạch sẽ hoặc những vải kẻ sọc đẹp mắt. Trong xã hội truyền thống, chăn, đệm còn là sản phẩm tượng trưng cho sự chăm chỉ và giàu có. Đã chăm và giàu thì phải có những đệm chăn, xếp thành từng tầng ở mé đầu gian ngủ.
Ngoài đệm nằm, người ta còn làm đệm ngồi, tựa... Gối Thái có hình hộp chữ nhật chiều dài khoảng 30 - 35cm và chiều cao vừa tầm là 8 - 10 cm, có thể làm đơn và kép. Trước đây, người Thái ở huyện Quan Sơn sử dụng cả gối đơn và gối kép, nhưng hiện nay chủ yếu dùng gối đơn. Gối kép tiện dụng hơn cho những người không gối cao đầu. Lõi gối được nhồi bằng bông gạo, cỏ gianh, hoặc bông lau nên đệm mềm. Đặt đầu lên gối để ngủ ít khi có hiện tượng nhức đầu, mỏi cổ, đau gáy như loại gối đẽo bằng khúc gỗ hay đan bằng mây tre. 
-    Nghề thêu 
Bộ trang phục của phụ nữ Thái luôn có chiếc khăn đội đầu, được nhuộm màu đen hoặc chàm đậm và hai đầu khăn được thêu hoa văn. Cũng như dệt vải, việc thêu rất cầu kì và đòi hỏi sự chính xác cao được giới nữ đảm nhiệm. Hoa văn trên khăn đội đầu thường là hình quả trám, hình thoi, khi đội khăn thì người đối diện sẽ không nhìn thấy hoa văn mà phải nhìn từ đằng sau hoặc nhìn ngang, tạo nên nét đẹp duyên dáng.
Ngoài ra, những người phụ nữ khéo léo còn biết áp dụng kỹ năng thêu vào y phục, vật dụng khác như thêu vỏ gối, thêu khăn tay, thêu hoa văn lên mặt chăn, thân váy, chân váy... Trước đây thì người ta dùng chỉ tằm, chỉ bông nhuộm màu để thêu, còn bây giờ chủ yếu là dùng chỉ hoặc len công nghiệp. Khăn thêu bằng loại chỉ truyền thống có ưu điểm là chi chít rất chắc, rất vững, không lo bị tuột, còn các loại khăn thêu bằng chỉ công nghiệp thì chỉ có ưu điểm là màu sắc sáng hơn, đẹp hơn và không bị đổ màu.
-    Nghề đan lát
Nghề đan lát được hình thành và gắn bó mật thiết với đời sống nông nghiệp và săn bắn hái lượm của người nông dân qua nhiều thời kỳ lịch sử. Nguyên liệu dùng để đan lát chủ yếu là tre, nứa, giang, vầu, mây... Các nguyên liệu này thường được khai thác tại chỗ ở vườn nhà hoặc trong rừng. Trước khi đan, ngoài việc chẻ, vót thành các nan để đan còn một số khâu kỹ thuật xử lý thanh nan bền, đẹp hơn như ngâm nước vôi hay treo gác bếp...
Các đồ dùng thông dụng đan bằng nguyên liệu tre, vàu, giang, tiêu biểu như: Gùi (đớp pế) để vận chuyển, đớp cặp (một loại hòm đựng quần áo, đan bằng mây), bung (bồ để gánh thóc, chứa thóc), cái ớp để nam đeo, cái dăng (tiếng Mường gọi là dón) để phụ nữ đeo bên hông, cái kè đè - công dụng như cái ớp, mặt mâm cơm, mặt ghế ngồi và nong, nia, dần, sàng, rổ, rá, ép khảu.... 
Hoa văn trang trí trên những đồ đan chính là do kỹ thuật đan tạo ra. Cũng có khi người ta cố tạo ra hoa văn bằng cách cài xen kẽ các kiểu đan với nhau hay có khi do kỹ thuật đan quy định. Loại đồ đan được cài hoa văn điển hình như là bem, lớp cặp. Hoa văn bem kết hợp hai loại môtíp: Mô típ ngôi sao và mô típ ô vuông đồng tâm. Do kỹ thuật cài hoa khéo léo nên những hình sao nổi lên rất rõ trên phần thân và nắp bem.
Loại hoa văn đáng kể thứ hai được đan lóng đôi trên bung, dăng, ớp... Loại này không cài hoa mà hoa văn được tạo ra do kỹ thuật đan vận dụng một cách linh hoạt.
Loại đan lóng như gùi, sọt... không thành hoa văn.
Ở người Thái có loại đan mắt cáo khá phổ biến. Có loại mắt cáo vuông như giỏ (xà hè) để đựng rau, rửa rau (xạ), có loại mắt cáo chéo hay lục giác như sọt gánh lúa, gánh mạ...
Sau đây là một số sản phẩm đan lát tiêu biểu:
+ Đan gùi: đây là sản phẩm làm chủ yếu từ vàu, nứa, giang. Người Thái gọi gùi là đớp, và họ có hai loại đớp đó là đớp bế và đớp cặp. Đớp bế chuyên dùng để vận chuyển lương thực, rau, củi..., còn đớp cặp có chức năng như cái rương, hòm chuyên dùng để đựng màn, áo, váy, khăn... 
 Nghề đan gùi chủ yếu mang tính tự phát dưới hình thức truyền nghề. Đó là người biết nghề dạy cho con cháu và người học việc, học đến đâu thực hành luôn đến đó. Công việc tổ chức sản xuất mang tính chất riêng lẻ, quy trình đan lát cũng không phức tạp lắm, do đó những ai chịu khó và tinh ý một chút cũng có thể làm được vật dụng như ý. 
+ Đan dón: dón tiếng thái gọi là Kgiăng là một trong những sản phẩm đan lát đặc sắc, là dụng cụ quan trọng rất cần thiết trong đời sống thường nhật, nhất là đối với phụ nữ. Dón có hai loại: dón lạt dẹp và dón hộp.
Dón lạt dẹp là dón được đan bằng nan mỏng, dón có hình khối gần vuông, chiều rộng đáy chừng khoảng 20cm, miệng dón rộng hơn chút ít, chiều cao dón cũng khoảng 20cm.
Theo kinh nghiệm dân gian, nguyên liệu dùng để đan dón tốt nhất là giang. Giang được khai thác vào mùa thu - đông, không nên khai thác vào mùa mưa để tránh bị mọt. Nan đan dón lạt dẹp phải chọn loại giang bánh tẻ (không quá già cũng không quá non) có lóng dài, thẳng để dễ chẻ và dễ đan; không bị gãy trong khi đan và cho sản phẩm đẹp.
Để tạo hoa văn, người thợ đan phải nhuộm màu một số nan. Tuy nhiên, nhuộm màu sắc nào là do người thợ đan dón quy định, thể hiện ký thác ý nghĩa cần nhắn gửi với người dùng dón.
Quy trình đan dón cũng giống như phần lớn các dụng cụ đan lát khác, người thợ bắt đầu đan từ đáy dón đến thân dón và miệng dón. Sau khi đan xong người ta trang trí cho chiếc dón trở nên duyên dáng hơn và cuối cùng trang điểm cho dón sợi dây vải nhỏ đẹp và bền. Sợi dây này chính là quai dón dùng để buộc dón bên người khi ra khỏi nhà đi chơi, đi chợ hay đi vào rừng, lên rẫy...
Dón lạt dẹp chỉ dành để dựng kim chỉ và đồ trang sức của các cô gái trẻ. Qua đôi bàn tay của những người thợ khéo léo, có đôi mắt thẩm mỹ và óc sáng tạo thì chiếc dón sẽ tăng phần hấp dẫn và duyên dáng cho các cô gái Thái, gái Mường. Những chiếc dón có chủ ý tặng người yêu thì bao giờ hoa văn trên dón cũng mang những ẩn ý tinh tế. Người được tặng dón sẽ dễ dàng hiểu được ẩn ý trong những loại hoa văn này. 
Dón hộp, tiếng Mường gọi là chòn trôộp, là một loại dụng cụ đựng của hồi môn của những cô gái khi về nhà chồng. Xưa kia, của hồi môn của những cô gái là váy áo, các tấm vải thổ cẩm, chăn, các loại vòng bằng bạc, những gia đình quý tộc, giàu có thì có vòng vàng.... Chiếc dón hộp trở thành vật trang trí trong buồng cưới, thậm chí nó còn là của hồi môn của mẹ cho con đối với những gia đình nghèo khó, vì thế nó không chỉ có giá trị ở góc độ vật chất mà nó còn có giá trị ở phương diện tinh thần.
Nguyên liệu chính để làm sản phẩm này là tre (pheo). Cũng theo kinh nghiệm truyền thống, để cho dón đẹp và bền người ta thường chỉ dùng cật của những cây tre thẳng, có lóng dài, tất nhiên là phải chọn tre không quá non cũng không quá già.
Dón hộp đan theo kiểu đan nong đôi. Phần đáy được đan trước, đáy dón hình tròn, đường kính thường có kích thước 30cm, ở giữa đáy đan vồng lên để chống ẩm khi tiếp xúc với sàn nhà. Sau phần đáy dón là phần thân và phần vai dón. Vai dón là nơi bắt đầu đan luống dọc chụm vào nhau để làm miệng dón. Chiều cao của dón tính từ đáy lên đến cổ và lên đến vai dón chừng khoảng 30cm, đường kính phần vai dón khoảng 40cm, miệng dón tròn có đường kính khoảng 25cm. Trên cùng là nắp đậy, vì có nắp đậy này nên mới gọi là dón hộp( ).
+ Đan giỏ: 
Giỏ (tiếng Thái Quan Sơn gọi là Xạ, KChọ, Muống...). Giỏ và dón là hai vật dụng không thể thiếu của gia đình người Thái.
Giỏ có cấu tạo hình trụ, có khi là 3 cạnh (muống), phình ở giữa, phần cổ bóp nhỏ, miệng có nắp (pha hốm), được dùng để đựng các loại côn trùng, con vật (làm thức ăn) bắt được như: Châu chấu, dế, cá... Giỏ được đan từ các thanh tre được chẻ nhỏ, vót nhẵn, kích thước to hay nhỏ tuỳ thuộc vào mục đích của người sử dụng. Phần nắp đậy (pha hốm) được nối với giỏ bằng một đoạn dây ngắn được đan từ lạt tre.
+ Đan nong, nia, thúng, mủng, rổ, rá, dần, sàng: đây là các vật dụng vừa hỗ trợ sản xuất vừa phục vụ sinh hoạt hằng ngày. Những vật dụng này thường đan theo kiểu nong mốt hoặc nong đôi, có loại đan kín, có loại đan hở, kích thước lớn, nhỏ tùy tên gọi và mục đích sử dụng. Phần giữa thường đan bằng lạt dày, phần bao phía ngoài đan bằng nan tạo nên sự chắc chắn. Khi đan xong, tấm đan sẽ được cắt tạo hình tròn để lèn vào cạp, tạo thành vật dụng. Cạp cũng được làm từ thân cây tre, cạp nong thì to gần bằng 3 ngón tay, thúng mủng thì nhỏ hơn, cạp rổ, rá to bằng một ngón tay. Cạp được đánh nhẵn, mỗi vật dụng cần có hai cạp để lèn trong lèn ngoài. Khi tấm đan lát đã được lèn vào cạp thì dùng dây mê buộc chặt cố định.
Ngày nay mặc dù kinh tế hàng hóa phát triển, nhưng các sản phẩm đan lát truyền thống này vẫn được nhiều gia đình người Thái, Mường và các tộc người khác ở huyện Quan Sơn ưa chuộng và chính những sản phẩm này đang dần trở thành một loại hàng hóa phổ biến trên thị trường.
- Nghề làm rượu cần
Người Thái gọi rượu cần là láu xá, vì nguyên liệu chính làm rượu cần là sắn hoặc gạo, tấm, ngô. Những thứ này trộn với nhau thành “xa láu”. Còn người Mường gọi rượu cần là ráo toòng (nghĩa là rượu được giấu kín, mắt không nhìn thấy rượu, uống vào thì biết).
Để làm được men phải dùng cả gánh cây, cỏ, củ, rễ, quả... Tuy là cỏ cây trong rừng, nhưng mỗi khu rừng chỉ có một vài thứ. Vì thế, muốn có đủ nguyên liệu làm men dùng cho cả năm, những người phụ nữ khi đi rừng hễ thấy cây cỏ nào làm được men thì lấy về, rửa sạch, phơi khô rồi cất lên gác bếp để dành.
Nguyên liệu ủ rượu tuy không nhiều thứ bằng nguyên liệu ủ men nhưng lại quyết định chất lượng và nồng độ của rượu. Có những thứ tưởng chừng như không có ý nghĩa gì như trấu mà lại rất quan trọng, phải chọn lựa kỹ càng và xử lý công phu.
Kỹ thuật chế biến rượu cần, trước hết là kỹ thuật chế biến men. Men là chất xúc tác, là chất kích thích làm cho cơm rượu lên men, tạo ra vị ngọt, cay, đắng, chua...
Men để ủ rượu gọi là men cỏ, nguyên liệu làm men của người Thái gồm các thứ cơ bản sau: bột gạo, củ riềng, đọt móc, lá chua me, lá me đất, lá và rễ cây ớt chỉ thiên... Nguyên liệu làm men của người Mường khác dân tộc Thái là thêm vỏ quế, cây mun. Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì những nơi người Mường và người Thái sống gần gũi nhau thì thường có sự ảnh hưởng lẫn nhau...
Như vậy, men cỏ đều lấy bột gạo là nguyên liệu chính để nắm thành hình dạng cái men. Chất thuốc của men là các loại cây cỏ có vị chua, cay, nóng. Tuy cùng công thức trên nhưng men của các gia đình không giống nhau, bởi vì kinh nghiệm là một trong những bí quyết quan trọng tạo nên sự khác biệt này. Cũng đủ những thứ cỏ như truyền thống vẫn làm, nhưng chưa có cân đong chính xác mà chỉ áng chừng như một nắm, một bó, một vốc,... nên chất lượng men phải khác nhau. Hoặc khi lấy đủ thứ rồi, nhặt bỏ vào một xanh bảy, xanh tám nấu sôi cho cạn đi khoảng 2/3 lượng nước, 1/3 nước còn lại gọi là nước cốt mới đem trộn với bột gạo để làm men, nên đo ước chừng 1/3 kia cũng tương đối, tất cả phụ thuộc vào kinh nghiệm.
Công đoạn tiếp theo là kỹ thuật ủ rượu. Người Thái gọi là vào rượu, trong khi đó người Mường lại gọi là bốc rượu. Trước hết là chuẩn bị dụng cụ cần thiết như nong, mẹt, ớp, thúng... Các loại lá để lót và ủ như lá chuối, lá dáy, lá tai voi... Tất cả những những thứ này đều được cọ rửa sạch sẽ rồi hong khô. Dụng cụ để làm cơm rượu cũng phải chuẩn bị sẵn như hông để đồ và các thứ kèm theo.
Sắn khô là nguyên liệu chính để làm cơm rượu. Sắn khô thường để trên gác bếp, nên ám khói, do đó phải kỳ công tước vỏ, rửa sạch, hong khô rồi thái nhỏ.
Ngâm trấu nếp ngoài sông hoặc suối có nước chảy vài ngày cho ngấm nước đều rồi nhấc lên xắc xắc cho trôi sạch bụi đến khi nào nước trong mới được. Sau khi phơi, trấu cũng được đồ chín rồi đem hong gió cho khô.
Sau khi chuẩn bị xong, người ta tiến hành làm cơm rượu. Cách làm cơm rượu để ủ rượu cần cũng giống như hiện nay làm cơm để nấu rượu. Chỉ khác là cơm rượu không nấu mà đồ.
Trước hết, người ta giã dập sắn lát rồi chao qua nước, bốc vào hông để đồ. Sắn chín đổ ra nong hoặc mẹt có lá lót, canh ra cho đều, chờ nguội.
Công việc tiếp theo là vào men. Khi cơm còn hơi ấm, bóp viên men cho vụn rắc lên rồi trộn đều. Tùy thời tiết và cũng tùy thời gian định sử dụng chĩnh rượu đó mà tăng giảm lượng men cho hợp lý. Khi men được trộn đều, đậy lá lên trên và trận lại để ủ. Thời gian ủ thường hai ba ngày đêm là dậy men (người có kinh nghiệm không cần mở ra xem mà chỉ ngửi thấy mùi cơm rượu là biết đem ủ được chưa).
Công đoạn tiếp theo là bốc rượu vào chum, chỉnh, vò. Công việc này thường do các mẹ, các chị là những người có nhiều kinh nghiệm tự tay làm. Con dâu, con gái phụ giúp mẹ và cũng đồng thời ghi nhớ kinh nghiệm, thứ tự làm như sau:
Trước hết bốc trấu lót vào đáy chum dầy khoảng một gang tay.
Bốc bã rượu đã ủ chín đều vào chum, chỉnh, vò...
Trên cùng, lót một lớp trấu ở phần cổ chum.
Tro bếp nhào với nước sền sệt để trát miệng chum.
Lấy lá chuối hoặc ni lông bịt miệng chum.
Khi chum rượu đã bịt miệng, người ta khiêng vào nơi để cố định trong nhà. Sau 1 tháng trở lên đối với vò nhỏ, 3 tháng trở lên đối với chum, chỉnh lớn là rượu cần đã dùng được, càng để lâu thì rượu cần càng ngon.
+ Làm rượu nếp cẩm:
 Rượu nếp cẩm ở huyện Quan Sơn có 2 loại: một loại dành cho các bà đẻ thì chôn xuống đất (trong rượu có chế thêm trứng gà, mật ong), loại khác để như rượu cần. Đây là đồ uống truyền thống thường được chuẩn bị chu đáo mỗi độ tết đến xuân về, hay mỗi khi có cưới hỏi, mỗi khi có khách quý tới thăm nhà...
Điều kiện thổ nhưỡng, đất đai ở huyện Quan Sơn phù hợp với nhiều giống lúa nếp quý của địa phương, trong đó đặc biệt có giống nếp cẩm. Gạo nếp cẩm có màu đỏ tím tạo nên một hương vị đặc biệt, khác với nhiều loại nếp thường. Đặc điểm của giống lúa này chịu hạn rất tốt, sâu bệnh ít phá hoại, thân cao bông to và hạt mẩy. Người ta gieo lúa vào khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 âm lịch, thu hoạch vào khoảng cuối tháng 9 và tháng 10 âm lịch, lúa thường được trồng trên rẫy.
Sau thu hoạch người ta bảo quản rất cẩn thận. Khi nào cần sử dụng người ta mới xay giã, dần sàng, chuẩn bị cho việc làm rượu. Quy trình ủ rượu rất công phu, quan trọng hàng đầu là việc chọn men. Men rượu cũng có những bí quyết gia truyền, nguyên liệu bao gồm các loại rễ, củ, lá cây rừng, đồng thời phải vào tận rừng sâu kiếm sa nhân và thiên niên kiện là hai vị chính dùng để làm men, đảm bảo cho rượu nếp cẩm có hương vị riêng. Lâu nay người ta dùng cả loại men thường dùng nấu rượu để ủ nếp cẩm.
Gạo nếp cẩm có thể cho vào nấu như nấu cơm hoặc ngâm gạo nửa ngày rồi đồ như đồ xôi. Yêu cầu cơm phải chín kỹ, khô ráo, (nếu cơm nấu bị nhão thì rượu không ngọt thơm mà thường có vị chua nồng). Đổ cơm vào nong, nia, hoặc mẹt quạt cho nguội. Giã men thật nhỏ trộn đều vào cơm, sau đó cho cơm đã trộn men vào thùng, hoặc xoong, nồi, lấy lá chuối đắp phủ kín mặt trên của đồ đựng, che thêm lớp vải mỏng lên phía trên cùng, dùng chăn bông hoặc bì gai quấn chặt đưa vào nơi kín gió ủ cơm. Khoảng 2 - 3 ngày sau, khi có mùi thơm vị ngọt toát ra là lúc cơm chín. Cho thứ cơm này vào chum sành hoặc vò, bình men... đổ thêm một lượng rượu nếp (hoặc rượu nấu bằng gạo tẻ), sau đó bịt kín miệng bằng lá chuối khô, hoặc bằng nhiều lượt vải ni lông. Người ta thường ủ rượu bằng cách đào lỗ chôn xuống đất, tuy nhiên có thể cho cơm rượu vào bình rượu không cần chôn xuống đất, thời gian càng lâu rượu càng ngon. Khi làm lễ hạ thổ vò rượu, người Mường thường khấn có nội dung đại ýlà “xin thổ thần thổ địa cai quản giúp cho bình rượu này được thơm ngon tinh khiết, đem lại sức khỏe cho người ốm yếu, sự trẻ trung cho người già cả, lòng chung thủy cho đôi trẻ...”. Phải đủ 3 tháng 10 ngày mới đào rượu lên dùng. Vì trong khoảng thời gian 100 ngày đã tụ kết đủ âm dương của trời đất, cho vị rượu thơm ngon đặc biệt. Rượu nếp cẩm có hai cách thưởng thức, có thể xúc cả bã rượu lẫn nước để ăn, hoặc dùng khăn lọc, chắt lấy nước cốt để uống, do đó có thể nói ăn rượu nếp cẩm, hay uống rượu nếp cẩm cũng được.
Rượu nếp cẩm có màu tím sánh như mật. Tùy theo độ tuổi và thể trạng mà thưởng thức, cảm giác như là một liều thuốc tăng lực làm phấn chấn tinh thần. Phụ nữ mới sinh nở có thể dùng thứ rượu này ngâm với lòng đỏ trứng gà để phục hồi sức khỏe.
Món ăn, đồ uống này được phổ biến rộng rãi. Nhiều gia đình ở đồng bằng hay thành phố cũng đã học được cách ngâm ủ rượu để dùng. Sự có mặt của rượu nếp cẩm trên thị trường nó đã khẳng định sự sáng tạo cũng như tri thức ẩm thực Thái, Mường từ lâu đã đạt đến trình độ cao và rất tinh tế.
5.2. KINH TẾ HUYỆN QUAN SƠN HIỆN NAY
5.2.1. Sự chuyển dịch chung của kinh tế huyện Quan Sơn 
Đi qua hai cuộc chiến tranh liên tiếp, cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng đã trải qua những năm tháng khó khăn. Chỉ từ khi thực hiện công cuộc đổi mới khởi đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), với Khoán 100 (năm 1981 và Khoán 10 năm 1988), thì bộ mặt nông nghiệp - nông thôn của cả nước nói chung mới bắt đầu có những bước chuyển mình rõ rệt( ). 
Vận dụng sáng tạo các nghị quyết của Trung ương, Thanh Hóa đã triển khai việc thực hiện khoán hộ trong nông nghiệp. Chính sách khoán hộ đã tạo điều kiện để nông dân Thanh Hóa làm chủ mảnh ruộng được giao ổn định, lâu dài. “Kinh tế ở Thanh Hóa bắt đầu đi vào quỹ đạo của kinh tế hàng hóa và đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình thực hiện đổi mới( ).
Quá trình phát triển kinh tế của huyện Quan Sơn từ năm 1986 đến nay được ghi nhận qua những giai đoạn, gắn liền với những bước ngoặt lớn trong hoạch định chính sách của Nhà nước nói chung và của tỉnh, của huyện Quan Sơn nói riêng. 
Giai đoạn 1986 - 1995, cả nước thực hiện công cuộc đổi mới gắn liền với Khoán 100, Khoán 10. Nhờ đó mà người dân cả nước nói chung có động lực trong sản xuất, nâng cao hiệu quả của kinh tế hộ gia đình. Tuy vậy, kinh tế huyện Quan Sơn thời kỳ này cơ bản vẫn trong quỹ đạo của kinh tế truyền thống, các ngành dịch vụ thời kỳ này chưa có sự chuyển dịch, bứt phá nếu không muốn nói là còn bỡ ngỡ với cơ chế thị trường.
Giai đoạn 1996 - 2000: vào thời điểm năm 1996, cả nước nói chung, Thanh Hóa nói riêng đã đi qua một chặng đường 10 năm thực hiện quá trình đổi mới. Ngành nông nghiệp tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh việc tiến hành việc giao đất ổn định, lâu dài cho người dân còn thực hiện nhiều chính sách cải cách trong nông nghiệp như thâm canh, tăng năng suất cây trồng. Nhờ đó mà người dân cả nước nói chung và của Thanh Hóa nói riêng có động lực trong sản xuất, từng bước nâng cao hiệu quả và vai trò của kinh tế hộ gia đình. Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bắt đầu được đẩy mạnh; phát triển thương mại - dịch vụ theo định hướng của nền kinh tế hàng hóa; kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, phát triển nông nghiệp - nông thôn.
Trên cơ sở những thành tựu đạt được trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển chung của cả nước, kinh tế Thanh Hóa khởi sắc và hoàn thành kế hoạch 5 năm (1996 - 2000), kết thúc thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, nhân dân Thanh Hóa cùng đồng bào cả nước bước vào thời kỳ mới sau khi ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đánh giá “5 năm qua, trong bối cảnh vượt qua những yếu kém của nền kinh tế, những tác động của cuộc khủng khoảng tài chính, tiền tệ khu vực và mặt trái của kinh tế thị trường vừa phải nỗ lực giải quyết hậu quả thiên tai lũ lụt gây ra. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn giữ vững tinh thần đoàn kết nhất trí, chủ động vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, coi trọng phát huy những thành quả đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, tiếp tục khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong nhân dân và các nguồn lực của địa phương, đồng thời tranh thủ có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XV đề ra, tạo ra bước phát triển quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị”( ).
Tuy vậy, hiệu quả việc chuyển đổi cơ chế không diễn ra tức thì và đồng đều ở mọi nơi. Sau khi thành lập huyện, Quan Sơn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ nhất đã viết: “Xuất phát điểm nền kinh tế của huyện còn rất thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu. Trình độ dân trí thấp, vốn liếng chủ yếu là tỉnh trợ cấp, tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, trông chờ còn nặng nề. Tập quán sản xuất lạc hậu, tư duy kinh tế kiểu cũ còn nặng nề ở phần đông trong nhân dân các dân tộc. Là huyện vùng cao biên giới, địa hình phức tạp, đất rộng người thưa, đi lại khó khăn, giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các vùng trong huyện cũng như đối với bên ngoài không thuận lợi, hạn chế rất nhiều đến quá trình phát triển kinh tế của huyện. Mô hình HTX kiểu cũ không còn phù hợp, chuyển sang kinh tế hộ, lấy hộ làm kinh tế tự chủ, giao đất giao rừng đến hộ và người lao động có nhiều mặt tốt và thuận lợi, nhưng có nhiều mặt đáng lo, đó là vốn và kinh nghiệm sản xuất của nông dân không đồng đều, bên cạnh mặt tích cực như kích thích sản xuất thì cơ chế thị trường đã tác động mạnh đến sự phân hóa giàu nghèo. Đội ngũ cán bộ trong bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể của huyện còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm và còn nhiều bất cập. Khó khăn lớn nhất của huyện là piềng, bãi ít, việc giải quyết đất canh tác hoa màu cạn cho nhân dân đang mâu thuẫn với việc bảo vệ rừng( ).
Mặc dù ban đầu có nhiều khó khăn thách thức như vậy, nhưng trong những năm đầu thành lập huyện, để tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã mạnh dạn đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, xóa bỏ những yếu tố lạc hậu trong tập quán cũ, những ràng buộc và thói quen của cơ chế cũ, đẩy lùi khó khăn, thách thức, không ngừng lao động sáng tạo, xây đắp nên những thành quả mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng cả nước đẩy lùi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vượt qua thử thách to lớn của thời đại, tạo những bước tiền đề cơ bản đưa huyện Quan Sơn phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Xác định được những khó khăn, trở lực lớn, những tiềm năng, thuận lợi của huyện, trong giai đoạn 1997-2000, Quan Sơn đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Cơ cấu kinh tế của huyện được xác định là Lâm - Nông nghiệp - Thương mại dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp. 
Chủ trương phát triển kinh tế của huyện Quan Sơn trong giai đoạn này là tập trung giải quyết vững chắc vấn đề lương thực trên cơ sở ổn định diện tích lúa nước, diện tích ngô, sắn; đẩy mạnh các loại cây củ như củ mài, cử từ, khoai mán, khoai sọ,.. chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, đưa vụ hè thu lên thành một vụ sản xuất chính; Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh các biện pháp thâm canh; Phát triển mạnh vườn rừng, trại rừng để trồng cây ăn quả có giá trị cao, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và nguyên liệu chế biến; Đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính và có tỷ trọng trong kinh tế nông thôn; đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc nhưng phải phù hợp với quy hoạch và đồng cỏ. Đối với lâm nghiệp, Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn xác định đây là tiềm năng thế mạnh trong nền kinh tế của huyện, bảo vệ tốt rừng tự nhiên hiện có, bằng khoanh nuôi bảo vệ rừng tái sinh. Trong các loại cây công nghiệp ở huyện Quan Sơn thì cây luồng là chủ lực bên cạnh các loại cây khác cũng rất quan trọng như cây quế, dổi, lát hoa, cây chủ thả cánh kiến và các loại cây ăn quả. Chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động trong nông thôn, phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp dịch vụ ở nông thôn như sản xuất vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi, gạch, ngói...); chuẩn bị cho sự ra đời các doanh nghiệp nhỏ ở các tụ điểm kinh tế để sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm sản, tăm mành, sơ chế gỗ, làm cót ép; Cải tạo và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế( ).
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện Quan Sơn đã vươn lên trong khó khăn thử thách, quyết tâm xây dựng huyện phát triển với nghị lực và niềm tin mạnh mẽ. Mô hình kinh tế vườn rừng, nhất là vườn luồng, quế bắt đầu vươn bóng phủ xanh đất trống đồi trọc, độ che phủ rừng trước năm 1997 là 45%, đến tháng 6 năm 1997 là 59%. Các tụ điểm kinh tế đang dần dần hình thành theo các tụ điểm dân cư trên địa bàn huyện; Các hoạt động thương nghiệp và dịch vụ đã bước đầu đáp ứng nhu cầu tối thiểu những mặt hàng thiết yếu. 
Tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ cũng có những chuyển biến nhất định. Các khu dân cư tập trung đã hình thành các tụ điểm buôn bán, trao đổi hàng hóa; các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cảm, đan lát được thổi sinh khí mới để duy trì, phát huy. Một bộ phận dân cư trước đây chưa biết buôn bán, đã bắt đầu có thay đổi trong tư duy, thoát ly thuần nông - lâm, tiếp cận với kinh tế hàng hóa thị trường. 
Tuy vậy, trong những tháng năm đầu của huyện vừa mới thành lập, sự tăng trưởng kinh tế chưa thật sự vững chắc, chưa có kinh tế hàng hóa và sản phẩm mũi nhọn; Chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn lúng túng; Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đời sống, nhất là giao thông khó khăn đang cản trở đến sự phát triển kinh tế; Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ đang ở dạng sơ khai; xuất khẩu chưa có gì; mất cân đối về thu chi ngân sách; số hộ đói nghèo nhiều (52%), nhất là ở vùng sâu vùng xa(2).
Giai đoạn 2001 - 2005, kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, phát triển nông nghiệp - nông thôn. Cơ cấu kinh tế của huyện tiếp tục được xác định là Lâm - Nông nghiệp - Thương mại dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện bình quân hằng năm thời kỳ này đạt 5,4%, tăng hơn so với thời kỳ 1997 - 2000 là 0,7%; Thu nhập bình quân đầu người 2.780.000 đồng/năm, tăng hơn năm 2000 là 530.000 đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ đói nghèo 27,53% (theo chuẩn mới). 
 Lâm nghiệp phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, bình quân hằng năm giai đoạn 2001- 2004 trồng được 382ha rừng tập trung, nâng độ che phủ rừng đạt 71% vào năm 2004. Hạ tầng kinh tế cũng được đầu tư đáng kể, tạo ra động lực phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện.
Giai đoạn 2006 - 2010: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Thời kỳ này, kinh tế huyện Quan Sơn tiếp tục có bước tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trong ngành công nghiệp và dịch vụ( ).
Bước sang giai đoạn này, tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 9,44% cao hơn thời kỳ 2001 - 2005 là 3,44%. Thu nhập bình quân đầu người 7,5 triệu đồng/người/năm. Tăng hơn so năm 2005 là 4,8 triệu đồng/người/năm.
 Giá trị gia tăng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 11,4% cao hơn thời kỳ 2001 - 2005 là 6,34%. Trồng mới được 800ha rừng, quản lý bảo vệ rừng đạt kết quả tốt. Tiếp tục nâng độ che phủ rừng vào năm 2010 đạt 76%.
 Giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng bình quân hằng năm đạt 15,04% ước đạt 53 tỷ đồng. Dịch vụ phát triển đa dạng và có nhiều chuyển biến tích cực. 
 Sự nổi bật của thời kỳ này là cơ cấu kinh tế huyện Quan Sơn tiếp tục chuyển dịch đúng hướng và từng bước khai thác được thế mạnh của huyện. Cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ năm 2010 là 53% - 17% - 30%. Tỷ lệ ngành nông, lâm, ngư nghiệp năm 2005 là 57%, giảm xuống 53%. Tỷ trọng công nghiệp từ 14,59% năm 2005, tăng lên 17%, dịch vụ năm 2005 là 28,36%, tăng lên 30%. Tổng vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm là 1.070 tỷ đồng. 
 Trên cơ sở những bước chuyển mình về kinh tế của giai đoạn này, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 25%. Bên cạnh đó, huyện Quan Sơn còn phấn đấu trở thành một trong những huyện đứng đầu về giữ gìn chủ quyển an ninh biên giới và quản lý bảo vệ rừng tốt, tiếp tục tạo thế và lực cho những bước phát triển kinh tế bền vững của huyện trong những chặng đường tiếp theo.
 Giai đoạn 2011 - 2015: huyện Quan Sơn thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011 - 2015) trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và có bước phát triển đáng kể; kinh tế trong tỉnh phát triển đột phá, nâng cao khả năng cạnh tranh trong thu hút đầu tư; kinh tế - xã hội của huyện có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương. Trên địa bàn huyện, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém, thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi. Năng lực của đội ngũ cán bộ và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, với sự tập trung cao, phối hợp tốt trong chỉ đạo điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, sự nỗ lực của toàn thể nhân dân trong huyện đã tạo sự chuyển biến về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Huyện Quan Sơn tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, gắn liền với quá trình đô thị hóa, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Bắt đầu phát triển rõ nét các hướng mũi nhọn phát riển kinh tế. Cơ cấu kinh tế của huyện bước sang giai đoạn này được xác định là: lâm, nông, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ thương mại và du lịch. Quan Sơn đã chú trọng đến phát triển chuyên môn hóa theo các tiểu vùng lãnh thổ: Tiểu vùng cao phía tây, tiểu vùng thấp phía Đông, các điểm phát triển tiểu thủ công nghiệp, các khu - cụm du lịch, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, khu đô thị,...
Bước sang giai đoạn này, dẫu vẫn còn nhiều khó khăn phải nỗ lực vượt qua, nhưng kinh tế huyện Quan Sơn đã duy trì phát triển với tốc độ tăng trưởng khá và tương đối toàn diện, năng lực sản xuất từng bước được nâng lên, quy mô kinh tế đang được mở rộng( ).
Sự tổng hợp các các biện pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp kết hợp với các ngành nghề phi nông nghiệp, đã thúc đẩy kinh tế huyện tăng trưởng khá cao, bình quân đạt 14,37% tăng 4,93% so với giai đoạn 2006 - 2010.
 Cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực: tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản từ 53% năm 2010 giảm xuống 49% năm 2015, ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 17% năm 2010 lên 19% năm 2015, dịch vụ từ 30% lên 32% năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người 14,3 triệu đồng/người/năm tăng 7 triệu đồng so với năm 2010. So với năm 1997 tăng 5,14 lần
Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp năm 2015 đạt 223 tỷ đồng, gấp 1,78 lần so với năm 2010. Trong đó nông nghiệp 103 tỷ đồng, lâm nghiệp 115 tỷ đồng, thủy sản đạt 5 tỷ đồng. Độ che phủ rừng năm 2015 duy trì mức 83,9% so với năm 2010 tăng 7,9%.
Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng 115 tỷ đồng, gấp 1,98 lần năm 2010. Giá trị ngành dịch vụ tăng trưởng 16,49%. Dư nợ cho vay của Ngân hàng nông nghiệp 88 tỷ đồng, Ngân hàng chính sách xã hội 140 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách bình quân hằng năm 364 tỷ đồng, tăng 12,61%. Tổng vốn đầu tư phát triển 331 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện theo chuẩn mới năm 2015 là 20,84%.
Phát huy những thành quả đã đạt được trong các giai đoạn đã qua, chặng đường phát triển tiếp theo của huyện Quan Sơn đã được xác định với mục tiêu là: tranh thủ nguồn lực hỗ trợ của Tỉnh, Trung ương, khơi dậy mạnh mẽ nội lực của huyện đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hàm lượng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất. Chú trọng phát triển nông - lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển kinh tế lâm nghiệp trên cơ sở quy hoạch, lựa chọn trồng các cây mũi nhọn gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội; tiếp tục phát huy mạnh mẽ mọi tiềm năng thế mạnh của huyện, đồng thời cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tranh thủ thời cơ vận hội, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp, nhất là cấp xã; Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội; Phấn đấu đến năm 2020 thoát khỏi huyện nghèo và trở thành huyện khá ở khu vực miền núi( ). 
5.2.2. Các nhóm ngành kinh tế hiện nay
5.2.2.1. Nông, lâm, thủy sản
a. Nông nghiệp
Bước sang thời kỳ phát triển và hội nhập, nông nghiệp huyện Quan Sơn đã có bước chuyển biến theo định hướng thị trường và sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện; không chỉ giải quyết vấn đề an ninh lương thực tại chỗ, nhất là đối với vấn đề an ninh lương thực vùng biên giới, nông nghiệp còn giải quyết việc làm, khai thác tốt hơn tiềm năng và thế mạnh của huyện, xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện. 
* Các loại đất nông nghiệp của huyện Quan Sơn
Đất đai luôn là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp, nhất là đối với trồng trọt. 
Đặc điểm địa hình chủ đạo của huyện Quan Sơn là núi cao, hiểm trở và chia cắt phức tạp với tập hợp các dạng địa hình đồi cao, núi thấp, núi trung bình xen các thung lũng hẹp; trên 91% diện tích của huyện là đồi núi với độ cao trung bình 600 - 700m, độ dốc cấp IV, V, VI (trên 150). Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; với nhiều dãy núi cao hiểm trở như Pù Mằn - Sơn Hà; Pa Panh - Sơn Điện - Sơn Lư. Vùng địa hình có độ dốc dưới 150 chiếm diện tích rất nhỏ với gần 9%. Như vậy, diện tích đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp của huyện không nhiều, tập trung chủ yếu ở các xã phía Đông Bắc như Trung Thượng, Trung Xuân, Trung Hạ,... khu vực có địa hình cao chiếm phần lớn lãnh thổ của huyện chỉ thích hợp với trồng rừng, phát triển lâm nghiệp.
Quan Sơn có tài nguyên đất đa dạng nhưng lại bị hạn chế bởi yếu tố địa hình. Trên địa bàn của huyện, đất đỏ vàng trên đá macma axit, đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất là hai loại có diện tích lớn nhất và phân bố ở tất cả các xã trong huyện, loại đất này thích hợp trồng rừng, cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả. Ngoài ra huyện còn có đất mùn vàng đỏ trên núi cao, phân bố ở các đỉnh núi trên 1.000m; đất phù sa bồi tụ ven sông suối, đất dốc tụ chân đồi... thích hợp để sản xuất lương thực, hoa màu,...
Do đặc thù về điều kiện tự nhiên nên hiện trạng sử dụng đất của huyện cũng thể hiện những điểm riêng. Trong tổng diện tích tự nhiên rộng lớn, diện tích đất đã được đưa vào sử dụng chiếm 91,7%, đất chưa sử dụng chiếm 8,3%. Trong đó, riêng dùng cho lâm nghiệp đã chiếm tới 86% với quy mô 80 nghìn ha; đất sản xuất nông nghiệp của huyện rất nhỏ 2,5 nghìn ha chiếm 2,7%. Đặc biệt là đất phi nông nghiệp có tỷ lệ thấp nhất ở tỉnh Thanh Hóa (2,9%). 
Như vậy, trong cơ cấu sử dụng đất ở huyện Quan Sơn, đất đai chủ yếu được dùng cho mục đích lâm nghiệp. Đáng chú ý là diện tích rừng tự nhiên của huyện rất lớn và phân bố đều khắp các xã trong huyện, đất rừng phòng hộ phân bố dọc các xã biên giới với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Sơn Hà, Tam Thanh, Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Thủy,...). Đất sản xuất nông nghiệp của huyện có quy mô rất nhỏ, trong đó 60% dùng vào trồng cây hằng năm với quy mô chỉ có 1,5 nghìn ha, riêng đất lúa là 1,2 nghìn ha, trồng cây lâu năm chỉ đạt gần 1.000ha. Nhóm đất này phân bố rải rác, manh mún ở các thung lũng ven sông suối.
Diện tích đất chưa sử dụng của huyện Quan Sơn còn rất lớn với 7.743ha, chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng, việc đưa diện tích đất này vào canh tác gặp nhiều khó khăn do chủ yếu là núi đá khó cải tạo, địa hình chia cắt,... Diện tích đất phi nông nghiệp của huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ chiếm 2,9% diện tích tự nhiên, tỷ lệ đạt cao nhất là thị trấn Quan Sơn (9,2%), xã Tam Lư (5,43%), xã Trung Hạ (6,43%), các xã còn lại chỉ chiếm từ 1 - 3%. Điều này cũng cho thấy, Quan Sơn là huyện có dân cư thưa, kinh tế còn mang tính thuần nông, thuần lâm, đô thị hóa và công nghiệp hóa chưa phát triển mạnh.
Riêng đối với loại hình đất nông nghiệp được phân chia như sau: đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm;
 
Bảng 10: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Quan Sơn( )
Đơn vị tính: Ha
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Tổng diện tích đất nông nghiệp (1+2+3)    73.603    73.553    73.529    73.520    73.520    82.565
1. Đất sản xuất nông nghiệp    2.519    2.515    2.505    2.505    2.505    2.540
1.1. Cây hằng năm    1.543    1.540    1.531    1.530    1.530    1.549
Đất trồng lúa    1.195    1.195    1.192    1.192    1.192    1.210
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi        1                
Đất trồng cây hằng năm khác    348    345    339    339    339    339
1.2. Cây lâu năm    976    975    974    974    974    991
Cây công nghiệp lâu năm                        
Cây ăn quả    525    525    525    525    525    525
Cây lâu năm khác    452    450    449    449    449    466
2. Đất lâm nghiệp    71.015    70.968    70.955    70.946    70.946    79.952
Đất rừng sản xuất    35.772    35.726    35.713    35.704    35.704    43.500
Đất rừng phòng hộ    35.242    35.242    35.242    35.242    35.242    36.453
Đất rừng đặc dụng                        
3. Đất nuôi trồng thủy sản    70    70    70    69    69    73
Đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt    70    70    70    69    69    73
Qua bảng trên cho thấy, mặc dù là một huyện miền núi có 4/5 diện tích là đồi núi, nhưng diện tích đất trồng cây hằng năm lại lớn hơn đất trồng cây lâu năm. Vì vậy, trong thời gian tới, để khai thác hiệu quả và bền vững về nguồn tài nguyên quý giá này, huyện Quan Sơn cần phải quy hoạch chuyển đổi sang trồng cây lâu năm hoặc trồng rừng. Tuy nhiên, mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi cần phải giải quyết đó là nhóm cây trồng lâu năm gặp trở ngại về vấn đề thu nhập do chi phí đầu tư ban đầu lớn, yêu cầu khắt khe về kỹ thuật sản xuất, thời gian kiến thiết dài, không phù hợp với kinh tế hộ miền núi nếu không có chính sách hỗ trợ sản xuất và đầu tư của chính quyền, đặc biệt là đối với cây trồng có hiệu quả cao như cây ăn quả. 
* Các hoạt động sản xuất nông nghiệp và kết quả đạt được trong một số năm gần đây
- Về trồng trọt 
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, trồng trọt là lĩnh vực sản xuất quan trọng của huyện trong những năm qua. Ngành trồng trọt phát triển tương đối ổn định, năng suất cây trồng được cải thiện rõ rệt nhờ việc áp dụng tốt khoa học, kỹ thuật trong sản xuất, đưa các giống cây trồng có năng suất chất lượng cao và áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ... cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đang được chuyển đổi một cách phù hợp, nhiều mô hình sản xuất áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến đang được mở rộng về quy mô. Bên cạnh đó, hệ thống khuyến nông của huyện hoạt động rất tích cực trong triển khai các mô hình trình diễn, phổ biến kiến thức kỹ thuật canh tác, hỗ trợ giống mới cho nhân dân vì vậy sản xuất nông nghiệp của huyện Quan Sơn đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả khả quan.
Trong cơ cấu cây trồng, cây lương thực chiếm vai trò chủ đạo, trong đó lúa là cây chủ lực, tiếp đến là cây ngô, sắn; nhóm cây rau đậu có vị trí đáng kể, song chủ yếu là tự cấp tự túc; cây công nghiệp hằng năm của huyện chủ yếu là đậu tương, lạc và mía nhưng quy mô nhỏ. Sản lượng lương thực có hạt của huyện Quan Sơn đến năm 2015 đã đạt 15.269 tấn, bình quân đạt 399kg/người. Diện tích lúa cả năm tăng từ 1.986ha (năm 2010) lên 2.341ha (năm 2015), năng suất lúa tăng từ 34,7 tạ/ha (năm 2010) lên 42,4tạ/ha (năm 2015). Diện tích ngô tăng từ 1.627ha (năm 2010) lên 2.167ha (năm 2015), năng suất ngô tăng từ 22,4 tạ/ha (năm 2010) lên 22,5 tạ/ha (năm 2015).

Bảng 11: Diện tích gieo trồng cây hằng năm ( )
Đơn vị tính: Ha
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Tổng số    7.220    7.575    7.731    7.733    8.015    7.865
Phân theo vụ                        
Vụ đông    603    724    749    630    696    724
Vụ chiêm xuân    3.638    3.774    3.880    3.939    4.015    3.880
Vụ mùa    2.979    3.076    3.101    3.164    3.304    3.261
Phân theo loại cây                        
1. Cây lương thực    3.613    3.650    4.015    4.080    4.508    4.634
Cây lúa cả năm    1.986    2.070    2.080    2.114    2.341    2.430
Lúa chiêm xuân    668    669    672    692    834    977
Lúa mùa    1.318    1.401    1.408    1.422    1.507    1.453
Màu lương thực    1.627    1.580    1.935    1.967    2.167    2.203
Ngô    1.627    1.580    1.935    1.967    2.167    2.203
2. Cây chất bột                        
Sắn    1.300    1.400    1.500    1.500    1.250    1.276
3. Cây rau đậu các loại                        
Rau các loại    749    788    790    805    981    1,021
Đậu các loại    101    104    107    78    93    65
4. Cây công nghiệp hằng năm                        
Đậu tương    560    563    563    489    397    238
Lạc    69    69    75    72    87    118
Mía    41    45    46    39    40    32

Bảng 12: Năng suất các loại cây chủ yếu( )
Đơn vị tính: Tạ/ha
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
1. Cây lương thực có hạt                        
Lúa cả năm    34,70    35,77    34,29    41,97    40,75    42,38
Lúa chiêm xuân    40,01    42,00    43,01    48,00    46,80    45,50
Lúa thu mùa    32,01    32,79    30,12    39,04    37,41    40,28
Màu lương thực                        
Ngô    22,42    22,52    19,86    22,40    22,52    22,56
2. Cây chất bột                        
Sắn    115    110    105    105    110    111
3. Cây rau, đậu các loại                        
Rau các loại    42,67    43,00    43,04    43,48    44,34    34,74
Đậu các loại    21,88    23,08    23,36    24,30    23,66    24,92
4. Cây công nghiệp hằng năm                        
Đậu tương    14,96    17,58    17,12    17,89    17,98    18,82
Lạc    9,19    7,10    7,15    7,50    7,63    7,63
Mía    450,00    550,00    546,44    519,18    510,00    519,25

Bảng 13: Sản lượng một số cây trồng chủ yếu
Đơn vị tính: Tạ/ha
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
1. Sản lượng cây lương thực có hạt     10.538      10.963      10.974      13.277      14.419      15.269 
Lúa cả năm     6.890      7.405      7.132      8.872      9.539      10.299 
Lúa chiêm xuân     2.672      2.810      2.890      3.322      3.903      4.447 
 Lúa thu mùa     4.218      4.595      4.242      5.550      5.636      5.852 
Màu lương thực     3.648      3.559      3.843      4.405      4.880      4.970 
Ngô     3.648      3.559      3.843      4.405      4.880      4.970 
2. Cây chất bột                              
Sắn     14.950      15.400      15.750      15.750      13.745      14.099 
3. Cây rau, đậu các loại                              
Rau các loại      3.196      3.388      3.400      3.500      4.350      3.547 
Đậu các loại      221      240      250      190      220      162 
4. Cây công nghiệp hằng năm                              
Đậu tương     838      990      964      875      714      448 
Lạc     63      49      54      54      67      90 
Mía     1.845      2.475      2.530      2.030      2.040      1.670 

Bảng 14: Sản lượng lương thực phân theo vụ( )
Đơn vị tính: Tấn
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Sản lượng cây lương thực - Tổng số (tấn)    10.538    10.963    10.974    13.277    14.419    15.269
Vụ đông      579      380      600      630      770      792 
Vụ chiêm xuân     4.221      4.432      4.526      5.332      6.133      6.514 
Vụ mùa      5.738      6.151      5.848      7.315      7.516      7.963 
Trồng lúa: diện tích trồng lúa trên địa bàn của huyện Quan Sơn trong nhiều năm ít biến động. Diện tích gieo trồng lúa năm 2000 là 1.786ha, năm 2005 tăng lên 2.060ha, đến năm 2010 giảm xuống 1.986ha, năm 2012 tăng lên đạt hơn 2.000ha. Đáng chú ý là năng suất lúa của huyện tăng nhanh từ 25,0 tạ/ha năm 2000 lên 29,0 tạ/ha năm 2005 và đạt 35,7 tạ/ha năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu là nhờ việc đưa vào các giống lúa lai có năng suất cao thay thế các giống lúa năng suất thấp của địa phương. Diện tích lúa lai đưa vào gieo cấy hằng năm tăng từ 15% năm 2000 lên 20% năm 2005 và đạt trên 35% năm 2010, ngoài ra nhờ việc đầu tư các công trình thủy lợi, đảm bảo nhu cầu tưới cho bộ phận diện tích lúa trước đây dựa vào tưới trời. Nhờ năng suất lúa tăng mà sản lượng lúa cũng tăng nhanh, sản lượng lúa tăng từ 4.363 tấn năm 2000 lên 5.965 tấn năm 2005, năm 2012 tăng lên 7.419 tấn.
Về cơ cấu giống lúa, chủ yếu là các giống lúa lai có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao như: lúa lai Đ.Ưu 527, Nhị Ưu 63, Nhị Ưu 838, Nhị Ưu 69; TH3-3, TH3-4; các giống lúa thuần Khang Dân 18, Q5, Xi21, Xi23...; các giống lúa chất lượng cao như: Hương thơm, Bắc thơm số 7... đang được đưa vào sản xuất đại trà.

Bảng 15: Diện tích lúa cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    1.986     2.070     2.080     2.114     2.341     2.430 
1    Trung Xuân    132     126      129      143      129      117 
2    Trung Hạ      222      224      224      228      209      209 
3    Trung Tiến     134      122      126      135      242      229 
4    Trung Thượng     90      111      111      106      70      67 
5    Sơn Lư     123      127      127      101      123      145 
6    Sơn Hà     109      120      120      120      164      164 
7    Tam Lư     161      167      167      205      196      217 
8    Tam Thanh     214      215      215      251      243      250 
9    Sơn Điện     229      232      234      174      208      184 
10    Mường Mìn     141      158      158      165      145      145 
11    Sơn Thủy     269      261      262      273      318      377 
12    Na Mèo     146      183      183      198      280      313 
13    Thị trấn Quan Sơn     15      24      24      15      14      12 

Bảng 16: Năng suất lúa cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tạ/ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    34,70    35,77    34,29    41,97    40,75    42,38
1    Trung Xuân    34,72    37,58    34,38    40,82    45,24    41,77
2    Trung Hạ    35,04    36,85    34,73    44,52    48,63    42,58
3    Trung Tiến    35,07    36,56    34,60    41,21    40,26    41,96
4    Trung Thượng    36,21    36,31    34,19    39,38    39,29    41,85
5    Sơn Lư    33,93    34,49    32,68    39,43    40,21    43,10
6    Sơn Hà    34,74    35,83    34,58    44,59    41,78    42,09
7    Tam Lư    34,29    35,93    34,82    44,40    40,14    42,64
8    Tam Thanh    34,28    36,05    34,95    43,50    41,01    42,26
9    Sơn Điện    34,05    35,56    35,17    41,67    41,41    42,85
10    Mường Mìn    35,23    37,03    34,62    41,59    41,32    42,70
11    Sơn Thủy    34,60    34,37    33,78    38,25    40,55    42,13
12    Na Mèo    35,04    34,15    32,73    42,74    40,71    42,46
13    TT Quan Sơn    36,84    33,96    32,29    42,86    41,26    42,73

Bảng 17: Sản lượng lúa cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tấn
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    6.890    7.405    7.132    8.872    9.539    10.299
1    Trung Xuân    458    474    444    585    520    490
2    Trung Hạ    779    826    778    1.015    860    890
3    Trung Tiến    470    446    436    555    975    960
4    Trung Thượng    327    403    380    417    275    280
5    Sơn Lư    418    438    415    399    495    625
6    Sơn Hà    379    430    415    535    685    690
7    Tam Lư    552    600    582    908    785    927
8    Tam Thanh    735    775    752    1.090    995    1.055
9    Sơn Điện    779    825    823    725    860    790
10    Mường Mìn    495    585    547    687    600    620
11    Sơn Thủy    930    897    885    1.045    1.290    1.590
12    Na Mèo    512    625    599    845    1.140    1.330
13    Thị trấn Quan Sơn    56    82    78    66    59    52

Bảng 18: Diện tích lúa chiêm xuân phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    668    669    672    692    834    977
1    Trung Xuân    44    43,0    44,0    45,5    37    37
2    Trung Hạ     82    78,0    78,0    96,2    77    80
3    Trung Tiến    45    43,0    43,0    47,5    66    72
4    Trung Thượng    35    44    44    45    25    26
5    Sơn Lư    29    28    28    28    38    62
6    Sơn Hà    41    38    38    38    82    82
7    Tam Lư    60    57    57    69    70    91
8    Tam Thanh    70    78    78    93    96    101
9    Sơn Điện    75    74    75    48    79    76
10    Mường Mìn    59    58    58    61    61    61
11    Sơn Thủy    78    78    79    76    98    129
12    Na Mèo    45    44    44    37    99    154
13    Thị trấn Quan Sơn    7    6    6    8    7    7
Bảng 19: Năng suất lúa chiêm xuân phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    40,01    42,00    43,01    48,00    46,80    45,50
1    Trung Xuân    40,92    42,79    42,61    48,35    45,21    45,21
2    Trung Hạ     40,02    42,56    42,95    49,90    46,68    45,00
3    Trung Tiến    40,27    42,09    45,35    48,42    45,52    45,20
4    Trung Thượng    41,64    40,45    41,93    44,89    46,00    44,57
5    Sơn Lư    39,30    42,14    42,86    47,86    47,49    46,85
6    Sơn Hà    39,26    41,05    42,11    47,37    46,97    45,14
7    Tam Lư    38,99    42,46    43,07    47,47    46,33    45,77
8    Tam Thanh    39,43    42,31    42,50    47,64    47,38    45,51
9    Sơn Điện    39,92    41,89    43,33    48,76    47,98    45,84
10    Mường Mìn    39,70    41,90    42,24    46,97    47,46    45,83
11    Sơn Thủy    39,90    41,79    43,67    49,60    46,94    45,64
12    Na Mèo    41,20    42,05    43,30    46,20    46,46    45,16
13    Thị trấn Quan Sơn    43,08    41,67    42,50    46,75    45,45    45.45

Bảng 20: Sản lượng lúa chiêm xuân phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tấn
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    2.672    2.810    2.890    3.322    3.903    4.447
1    Trung Xuân    178    184    188    220    165    165
2    Trung Hạ    329    332    335    480    358    360
3    Trung Tiến    180    181    195    230    300    325
4    Trung Thượng    147    178    185    202    115    115
5    Sơn Lư    112    118    120    134    180    290
6    Sơn Hà    159    156    160    180    385    370
7    Tam Lư    232    242    246    328    325    417
8    Tam Thanh    276    330    332    445    455    460
9    Sơn Điện    301    310    325    235    380    350
10    Mường Mìn    235    243    245    287    290    280
11    Sơn Thủy    310    326    345    375    460    590
12    Na Mèo    185    185    191    170    460    695
13    Thị trấn Quan Sơn    28    25    26    36    30    30

Bảng 21: Diện tích lúa mùa phân theo xã, thị trấn
 Đơn vị tính: Ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    1.318    1.401    1.408    1.422    1.507    1.453
1    Trung Xuân    88    83    85    98    93    81
2    Trung Hạ    140    146    146    132    132    129
3    Trung Tiến    90    79    83    87    176    157
4    Trung Thượng    55    67    67    61    45    41
5    Sơn Lư    95    99    99    73    85    83
6    Sơn Hà    69    82    82    82    82    82
7    Tam Lư    102    110    110    135    125    126
8    Tam Thanh    144    137    137    157    147    149
9    Sơn Điện    153    158    159    126    128    108
10    Mường Mìn    81    100    100    104    84    84
11    Sơn Thủy    191    183    183    198    220    248
12    Na Mèo    101    139    139    161    181    159
13    Thị trấn Quan Sơn    9    18    18    8    8    6

Bảng 22: Năng suất lúa mùa phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tạ/ ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    32,01    32,79    30,12    39,04    37,41    40,28
1    Trung Xuân    31,67    34,88    30,12    37,32    38,25    40,22
2    Trung Hạ    32,12    33,80    30,34    40,59    38,02    41,08
3    Trung Tiến    32,40    33,54    29,04    37,28    38,29    40,47
4    Trung Thượng    32,73    33,58    29,10    35,30    35,56    40,15
5    Sơn Lư    32,31    32,32    29,80    36,20    36,97    40,31
6    Sơn Hà    32,07    33,41    31,10    43,31    36,60    39,04
7    Tam Lư    31,53    32,55    30,55    42,84    36,68    40,38
8    Tam Thanh    31,79    32,48    30,66    41,03    36,84    40,05
9    Sơn Điện    31,16    32,59    31,32    38,95    37,36    40,74
10    Mường Mìn    31,98    34,20    30,20    38,42    36,86    40,43
11    Sơn Thủy    32,44    31,20    29,51    33,91    37,70    40,30
12    Na Mèo    32,31    31,65    29,39    41,95    37,57    39,86
13    Thị trấn Quan Sơn    32,18    31,39    28,89    38,96    37,66    39,50

Bảng 23: Sản lượng lúa mùa phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tấn
TT    Xã, phường, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    4.218    4.595    4.242    5.550    5.636    5.852
1    Trung Xuân    280    290    256    365    355    325
2    Trung Hạ    450    494    443    535    502    530
3    Trung Tiến    290    265    241    325    675    635
4    Trung Thượng    180    225    195    215    160    165
5    Sơn Lư    306    320    295    265    315    335
6    Sơn Hà    220    274    255    355    300    320
7    Tam Lư    320    358    336    580    460    510
8    Tam Thanh    459    445    420    645    540    595
9    Sơn Điện    478    515    498    490    480    440
10    Mường Mìn    260    342    302    400    310    340
11    Sơn Thủy    620    571    540    670    830    1,000
12    Na Mèo    327    440    409    675    680    635
13    Thị trấn Quan Sơn    28    57    52    30    29    22

Trồng ngô: trong những năm qua, ngô là cây lương thực được phát triển mạnh. Diện tích ngô năm 2000 đạt 959,0ha, năm 2005 tăng lên 1.381ha, năm 2012 tăng diện tích trồng ngô lên 1.915ha. Năng suất ngô cũng tăng lên từ 13,6 tạ/ha năm 2000, lên 16,4 tạ/ha năm 2005 năm 2012, đạt 20,1tạ/ha. Sản lượng ngô năm 2000 là 1.148 tấn, năm 2005 đạt 2.260 tấn, đến năm 2012 tăng lên 3.843 tấn. Diện tích ngô phân bố đồng đều ở tất cả các xã trong huyện, trong đó nhiều nhất là ở các xã Trung Hạ, Sơn Thủy, Sơn Điện... Cơ cấu giống ngô chủ yếu được đưa vào gieo trồng trong thời gian qua như: CP888, CP999, CP919, NK4300, NK67, NK6654, NK54, NK66, LVN10, LVN855, VN8960, LCH... (thời gian sinh trưởng vào khoảng 95-100 ngày), là các giống có khả năng chống đỡ, chịu hạn tốt phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của huyện. Sự phát triển của cây ngô đã đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng lương thực toàn huyện, góp phần gia tăng giá trị sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất.
Bảng 24: Diện tích ngô cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    1.627     1.580     1.935     1.967     2.167     2.203 
1    Trung Xuân    171    162    178    168    182    184
2    Trung Hạ     165    165    206    187    231    272
3    Trung Tiến    97    95    116    121    126    170
4    Trung Thượng    95    93    97    108    131    143
5    Sơn Lư    95    92    113    120    126    115
6    Sơn Hà    90    90    121    127    90    80
7    Tam Lư    152    147    173    166    205    187
8    Tam Thanh    143    144    179    186    178    162
9    Sơn Điện    148    141    200    220    208    212
10    Mường Mìn    105    97    145    130    150    161
11    Sơn Thủy    200    194    209    209    292    325
12    Na Mèo    151    145    183    209    228    170
13    Thị trấn Quan Sơn    15    15    15    16    21    22

Bảng 25: Năng suất ngô cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tạ/ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    1.627    1.580    1.935    1.967    2.167    2.203
1    Trung Xuân    171    162    178    168    182    184
2    Trung Hạ    165    165    206    187    231    272
3    Trung Tiến    97    95    116    121    126    170
4    Trung Thượng    95    93    97    108    131    143
5    Sơn Lư    95    92    113    120    126    115
6    Sơn Hà    90    90    121    127    90    80
7    Tam Lư    152    147    173    166    205    187
8    Tam Thanh    143    144    179    186    178    162
9    Sơn Điện    148    141    200    220    208    212
10    Mường Mìn    105    97    145    130    150    161
11    Sơn Thủy    200    194    209    209    292    325
12    Na Mèo    151    145    183    209    228    170
13    TT Quan Sơn    15    15    15    16    21    22

Bảng 26: Sản lượng ngô cả năm phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Tạ/ha
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    22,42      22,52      19,86      22,40      22,52      22,56 
1    Trung Xuân    22,40     20,73     19,02      22,08      22,47      22,77 
2    Trung Hạ     23,49     22,58     18,79      22,02      22,60      22,71 
3    Trung Tiến    23,81     22,74     20,56      22,48      23,03      22,61 
4    Trung Thượng    22,95     22,37     23,97      22,15      22,15      22,92 
5    Sơn Lư    22,11     22,82     21,95      22,72      23,02      22,83 
6    Sơn Hà    21,89     22,63     18,39      21,29      22,91      23,49 
7    Tam Lư    20,66     22,41     19,94      22,28      22,29      23,16 
8    Tam Thanh    21,54     23,54     20,00      21,90      22,92      22,21 
9    Sơn Điện    22,64     25,87     19,05      22,56      22,68      22,99 
10    Mường Mìn    22,86     24,95     20,62      22,46      22,77      22,44 
11    Sơn Thủy    23,43     20,00     19,86      23,91      21,74      21,55 
12    Na Mèo    21,66     21,87     18,52      22,47      22,42      22,07 
13    Thị trấn Quan Sơn    19,00     21,33     25,87      21,15      23,94      24,26 

Trồng sắn: trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển của thị trường, đặc biệt là nhu cầu nguyên liệu của nhà máy chế biến tinh bột sắn. Diện tích gieo trồng sắn của huyện không ngừng được tăng lên và trở thành cây trồng quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo của huyện trong thời gian qua. Vùng nguyên liệu sắn cung cấp cho Nhà máy chế biến tinh bột sắn Bá Thước, kết quả thực hiện qua các năm như sau: Năm 2000 trồng được 910ha, sản lượng đạt 8.191 tấn; năm 2005 trồng được 898ha, sản lượng đạt 8.702 tấn và đến năm 2010 vùng sắn nguyên liệu đạt 1.300ha với sản lượng là 14.300 tấn. Tuy nhiên, sắn là cây hằng năm được trồng chủ yếu trên đất dốc, nên đất bị xói mòn và rửa trôi mạnh, lại trồng độc canh nên năng suất không cao. Thực tế vùng nguyên liệu sắn chưa năm nào cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động hết công suất.
Cây công nghiệp: cây công nghiệp ngắn ngày của huyện chủ yếu là mía, lạc và đậu tương... Tổng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày được phát triển ổn định, năm 2000 là 86,0ha, tăng lên 476,0ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 670,0ha. Trong các cây công nghiệp ngắn ngày thì đậu tương chiếm diện tích chủ yếu.
 Đậu tương: trong những năm qua diện tích trồng đậu tương đều tăng. Năm 2000, trồng được 66ha tăng lên 352ha năm 2005 và đến năm 2010 đạt 560ha. Năng suất nhìn chung còn thấp, năm 2000 đạt 11 tạ/ha, tăng lên 17,1 tạ/ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 17,54 tạ/ha.
Cây lạc: tổng diện tích gieo trồng năm 2005 là 77ha, năm 2010 giảm xuống còn 69ha, năng suất lạc hằng năm đạt từ 7,2 tạ/ha đến 8 tạ/ha; sản lượng đạt thấp và không ổn định, năm 2005 là 46 tấn và đến năm 2010 tăng lên 50 tấn, chưa có vùng chuyên canh có quy mô lớn để trở thành sản phẩm hàng hóa xuất khẩu với số lượng lớn.
Cây mía: diện tích gieo trồng nhỏ lẻ, không tập trung, năm 2005 diện tích đạt 47,1ha, giảm xuống 41ha vào năm 2010. Sản lượng tăng từ 2.519 tấn năm 2005, giảm xuống 2.419 tấn vào năm 2010.
Rau đậu các loại: diện tích trồng rau các loại toàn huyện năm 2000 là 271,5ha, tăng lên 525,2ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 749,0ha; Tổng sản lượng rau các loại tăng dần theo từng năm, năm 2000 là 1.422,66 tấn, tăng lên 2.337,14 tấn vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 3.924,8 tấn. 
Diện tích trồng đậu các loại toàn huyện năm 2000 là 40,5ha, giảm xuống 34,8ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 44,0ha; Tổng sản lượng đậu các loại theo từng năm, năm 2000 là 213,34 tấn, giảm xuống 154,86 tấn vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 231,9 tấn. 
Cây ăn quả: cây ăn quả của huyện phát triển chậm, diện tích trồng manh mún, phân tán trong vườn của các hộ gia đình, chưa hình thành các vùng chuyên canh cây ăn quả. Năm 2005, diện tích trồng là 108ha, đến năm 2010 tăng lên 139ha chủ yếu là trồng các loại cây ăn quả phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong huyện với các loại cây chính như nhãn, vải, dứa, chuối... tuy nhiên nhiều diện tích cây già cỗi cho năng suất, hiệu quả thấp. Do không được coi là thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của huyện, nên người dân không đầu tư mà sản xuất chủ yếu mang tính tận dụng nhằm tăng thêm nhu nhập.
- Về chăn nuôi
Chăn nuôi của huyện Quan Sơn liên tục có bước phát triển khá mạnh về số lượng đàn gia súc và gia cầm, từng bước chuyển đổi mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ của các hộ gia đình là chủ yếu sang hình thành một số trang trại chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò) theo phương thức sản xuất hàng hóa, từng bước đem lại hiệu quả kinh tế, tạo động lực góp phần chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp huyện trong những năm qua; công tác kiểm soát, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm có nhiều chuyển biến tiến bộ, tỷ lệ tiêm phòng hằng năm đạt từ 60 - 85% tổng đàn. 
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2001 đạt 720 tấn, năm 2005 tăng lên 770 tấn, năm 2006 đạt 848 tấn, năm 2010 đạt 1.023 tấn. Giá trị sản xuất (GTSX) ngành chăn nuôi năm 2000 đạt 7,29 tỷ đồng tăng lên 9,18 tỷ đồng năm 2005, năm 2010 đạt 21,5 tỷ đồng. Tốc độ phát triển GTSX bình quân hằng năm cả giai đoạn 2001-2010 đạt 10,3%. Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chiếm 25,5% năm 2000, giảm xuống 23,1% năm 2005, năm 2010 đạt 31,8%. 
Phát triển chăn nuôi, trước hết là phát triển chăn nuôi đại gia súc là một thế mạnh của huyện Quan Sơn. Với tiềm năng đất đai phong phú cho phép huyện Quan Sơn có thể phát triển chăn nuôi gia súc thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi phát triển chưa thật sự ổn định theo từng giai đoạn: giai đoạn 2001-2005, số lượng đàn gia súc, gia cầm của huyện tăng trưởng đều. Năm 2001, đàn trâu có 5.364 con, đàn bò có 2.965 con, đàn lợn 12.459 con, đàn gia cầm có khoảng 36,7 nghìn con, đến năm 2005 số lượng đàn gia súc, gia cầm đều tăng, đặc biệt đàn bò và đàn gia cầm. Đàn trâu có 6.263 con, tăng trưởng bình quân 3,1%; đàn bò có 3.880 con, tăng trưởng bình quân 5,6%; đàn lợn 14.840 con, tăng trưởng bình quân 3,6%; đàn gia cầm có khoảng 68,6 nghìn con, tăng trưởng bình quân 13,3%. Bước sang giai đoạn 2006 - 2010, số lượng đàn gia súc, gia cầm của huyện tăng trưởng không đều. Năm 2006, đàn trâu có 6.602 con, đàn bò có 4.334 con, đàn lợn 13.728 con, đàn gia cầm có khoảng 210 nghìn con. Đến năm 2010, đàn trâu có 7.697 con, tăng trưởng bình quân 3,1%; Đàn bò có 6.104 con, tăng trưởng bình quân 7,1%; Đàn lợn 17.067 con, tăng trưởng bình quân 4,5%; Đàn gia cầm có khoảng 154 nghìn con, tăng trưởng bình quân giảm 6%.
Giai đoạn 2010 - 2015, huyện thực hiện một số chương trình, dự án hỗ trợ nông dân phát triển chăn nuôi đã thúc đẩy chăn nuôi trong huyện phát triển nhanh hơn, chất lượng đàn lợn, đàn gia súc, gia cầm được nâng lên. Công tác quản lý thức ăn chăn nuôi được tăng cường, mở rộng hoạt động cung ứng thức ăn chăn nuôi cho các hộ nông dân. 
Năm 2015, đàn gia súc phát triển có 7.240 con trâu, 8.740 con bò, 17,4 nghìn con lợn và 150 nghìn con gia cầm. Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2015 đạt 63,4 tỷ đồng (giá 2010); tăng trưởng bình quân 21%/năm thời kỳ 2011-2015 và chiếm 45% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Hiện chăn nuôi đang chuyển dần từ tập quán chăn nuôi phân tán sang mô hình sản xuất tập trung. 
 
Bảng 27: Số lượng gia súc, gia cầm và sản lượng thịt hơi xuất chuồng
(Thời điểm ngày 01 tháng 10 hằng năm)
Chỉ tiêu    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Trâu (con)    7.697    7.701    8.105    7.503    7.133    6.240
Bò (con)    6.104    6.883    7.440    7.472    7.624    8.421
Lợn (con)    17.067    9.395    17.470    17.574    17.967    17.537
Gia cầm (1.000 con)    113    134    107    125    139    139
Trọng lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)    1.183    1.808    2.430    2.999    3.193    3.333
Trong đó: thịt lợn (tấn)    957    1.502    2.049    2.444    2.554    2.647

Bảng 28: Đàn trâu chia theo xã, thị trấn
(Thời điểm ngày 01 tháng10 hằng năm)
Đơn vị tính: Con
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    7.697    7.701    8.105    7.503    7.133    6.240
1    Trung Xuân    750    750    790    731    671    547
2    Trung Hạ     794    793    833    753    738    551
3    Trung Tiến    626    626    661    597    572    378
4    Trung Thượng    252    272    313    317    302    285
5    Sơn Lư    447    448    480    450    423    375
6    Sơn Hà    579    576    597    536    466    372
7    Tam Lư    681    688    728    667    627    541
8    Tam Thanh    899    899    937    900    905    644
9    Sơn Điện    693    693    720    605    514    798
10    Mường Mìn    488    492    519    484    441    289
11    Sơn Thủy    612    612    647    642    714    858
12    Na Mèo    758    742    757    731    698    535
13    Thị trấn Quan Sơn    118    110    123    90    62    67

Bảng 29: Đàn bò chia theo xã, thị trấn
(Thời điểm ngày 01 tháng 10 hằng năm)
                                    Đơn vị tính: Con
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    6.104     6.883     7.440     7.472      7.624     8.421 
1    Trung Xuân    417    428    452    469    468    460
2    Trung Hạ     642    529    568    628    645    553
3    Trung Tiến    676    817    876    880    877    746
4    Trung Thượng    557    698    767    776    763    762
5    Sơn Lư    680    392    439    413    427    437
6    Sơn Hà    286    252    264    281    309    396
7    Tam Lư    288    405    435    487    512    444
8    Tam Thanh    656    789    857    870    873    904
9    Sơn Điện    776    1.202    1.285    1.170    1.148    1.042
10    Mường Mìn    331    493    536    508    531    805
11    Sơn Thủy    473    584    643    686    690    927
12    Na Mèo    194    160    184    198    296    862
13    Thị trấn Quan Sơn    128    134    134    106    85    83

Bảng 30: Đàn lợn chia theo xã, thị trấn
(Thời điểm ngày 01 năm 10 hằng năm)
Đơn vị tính: Con
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Tổng số    17.067    9.395    17.470    17.574    17.967    17.537
1    Trung Xuân    985    359    901    924    870    946
2    Trung Hạ    1.520    538    1.378    1.069    1.003    917
3    Trung Tiến    987    1.022    1.444    1.106    976    1.010
4    Trung Thượng    860    282    842    833    873    597
5    Sơn Lư    1.049    673    1.237    1.493    1.483    1.343
6    Sơn Hà    814    545    904    998    1.066    809
7    Tam Lư    2.006    645    1.797    1.817    1.703    1.548
8    Tam Thanh    1.469    945    1.503    1.568    1.682    1.623
9    Sơn Điện    1.661    1.929    2.783    2.983    2.908    3.514
10    Mường Mìn    1.375    716    1.147    852    906    1.141
11    Sơn Thủy    1.928    857    1.803    1.849    1.950    1.826
12    Na Mèo    1.758    687    1.263    1.510    1.975    1.863
13    Thị trấn Quan Sơn    657    197    468    572    572    400

b. Lâm nghiệp
* Kết quả trồng khoanh nuôi tái sinh rừng huyện Quan Sơn
Lâm nghiệp là ngành kinh tế lâu đời và phát triển mạnh trong thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX, với hướng chính là khai thác lâm sản. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, chủ yếu là trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Rừng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia, của tỉnh Thanh Hóa nói chung và của huyện Quan Sơn nói riêng
- Rừng trồng ở huyện Quan sơn: Quan Sơn có các loại đất thích hợp cho cây rừng: loại thứ nhất là nhóm đất feralit trên núi có mầu vàng đến nâu vàng, phần lớn tầng dày trên một mét là điều kiện tốt cho cây rừng phát triển. Loại đất này chiếm phần lớn diên tích đất Quan Sơn. Loại thứ 2: Nhóm đất phù sa macma axit bồi tụ ven sông, suối, bãi bằng núi có độ dốc thấp, nhóm này là đất tốt cho cả cây trồng nông nghiệp và cây lâm nghiệp.
Những yếu tố của đất và khí hậu ở huyện Quan Sơn rất thuận lợi cho cây lâm nghiệp lá rộng nhiệt đới phát triển. Do đó, công tác trồng rừng ở huyện Quan Sơn có nhiều thuận lợi và Đảng bộ nhân dân phát huy ưu thế để bảo vệ, khoanh nuôi, trồng chăm sóc phát triển rừng đạt kết quả cao.
Quan Sơn đã có nhiều biện pháp hữu hiệu phát triển nghề rừng. Tại Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ I đã nêu khẩu hiệu “Bảo vệ rừng là bảo vệ chính mình, phá rừng là tự giết mình”, “trồng cây, gây rừng là yêu nước”. Thực hiện mục tiêu chính trị đó, nhân dân Quan Sơn đã trồng rừng bằng nhiều cách như: cách thứ nhất là các hộ dân tự bỏ vốn, công sức để trồng, nhất là cây luồng, do đó rừng luồng phát triển nhanh nhất. Khi mới chia tách thành lập huyện năm 1997, toàn huyện chỉ có 2.800ha rừng luồng. Đến năm 2010, có trên 8.363ha rừng luồng, chủ yếu là rừng sản xuất; Cách thứ hai là trồng theo dự án 327, 661, 147 do Nhà nước đầu tư hỗ trợ vốn. Bao gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Đặc biệt từ khi Hạt Kiểm lâm được giao làm chủ dự án 147 tốc độ trồng rừng sản xuất hằng năm càng cao chất lượng tốt. Cách thứ ba là các chủ rừng Nhà nước: 3 Đồn biên phòng, 2 Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu tư trồng rừng nơi đất trống trong diện tích được giao quản lý kể cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tính đến năm 2010, toàn huyện có 11.931,36ha rừng trồng.
Trong đó:
+ Rừng sản xuất do nhân dân trồng là chủ yếu 10.205,87ha rừng trồng các loại tăng so với khi mới thành lập huyện là: 9.131,36ha.
+ Rừng phòng hộ do chủ rừng Nhà nước trồng: 1.725,49ha.
+ Nhiều khu rừng trồng từ năm 2005 trở về trước đã cho sản phẩm khai thác, nhất là luồng trên địa bàn huyện Quan Sơn. Mỗi năm khai thác tiêu thụ hàng triệu cây, do nhân dân khai thác từ rừng trồng, đem lại thu nhập khá. Nhân dân thường gọi cây luồng là “Cây xóa đói, giảm nghèo”. Rừng luồng trồng sau 5 năm đã cho sản phẩm, mỗi năm, mỗi bụi mọc thêm 3 đến 10 cây măng, 1ha luồng có từ 250 - 300 bụi luồng, chu kỳ khai thác luồng khoảng 60 năm với điều kiện chăm sóc tốt, khai thác đúng kỹ thuật, cường độ chặt cho phép không quá 25% tổng số cây.
Những năm gần đây, cây luồng bị xuống giá so với cây nứa, cây vầu. Đồng bào đã chuyển phương thức tiêu thụ luồng cây sang chế biến đũa để tiêu thụ sản phẩm tinh có giá trị cao ra thị trường. Tính ra 1 cây luồng nhóm 2 nếu bán cây thu được 18.000 đồng/cây. Sau khi chế biến sẽ có giá trị 30.000 - 35.000 đồng/cây, trừ chi phí chế biến giá trị thực của cây luồng cũng nâng lên được trên 20.000 đồng/cây, tăng 2.000 đồng/cây. 
Việc thực hiện dự án 147 do Hạt kiểm lâm làm chủ dự án, nhân dân đã chuyển mạnh sang trồng cây thân gỗ như keo, xoan, lát. Trồng keo, xoan, lát làm giàu đất, tạo mùn và ít khô đất. Dưới tán xoan, keo 2 năm đầu đồng bào kết hợp trồng ngô, sắn tăng thu nhập. Đến nay khoảng trống trong đất lâm nghiệp của huyện Quan Sơn, nhất là 6 xã biên giới còn rất ít do được trồng rừng liên tục từ khi thành lập huyện đến nay. Rừng tạp, thảm cỏ cũng được cải tạo thành rừng luồng, keo, xoan, lát. Riêng cây quế mấy năm gần đây bị mất giá nên đồng bào không còn trồng. Chỉ còn lại một ít diện tích ở Sơn Điện, Na Mèo, Tam Lư, Tam Thanh và Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, nhưng chất lượng rừng bị giảm nhiều.
Cây co phèn (cây chủ thả cánh kiến) trước đây co nhiều dọc sông Lò, sông Luồng, nhất là xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy nay rất hiếm. Sản lượng cánh kiến hằng năm không đáng kể. Nếu việc này được khôi phục chắc sẽ tạo việc làm và thu nhập tốt vì hiện nay thị trường cánh kiến đỏ đang khan hiếm.
- Khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên: đây là một biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp tác động để phục hồi rừng, phát triển rừng ít tốn kém mà hiệu quả lớn, đa dạng. Trong đó ngoài việc phục hồi rừng còn yếu tố môi trường rất tốt do không phát dọn, không đốt nên không tạo xói mòn, không diệt phá mầm hạt.
Huyện Quan Sơn luôn chú ý đến biện pháp khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên. Đến nay nhiều khu rừng đã phục hồi và phát triển tốt, đa dạng sinh học, rừng nhiều tầng rất đẹp, có tác dụng phục hồi tốt. Riêng giai đoạn năm 2001 đến năm 2010, huyện Quan Sơn đã khoanh nuôi tái sinh được 10.815 lượt ha. Các chương trình dự án 661; 147 và 30a là 9.165ha, dự án khác 1.650ha.
Tuy nhiên, do rừng mới phục hồi chưa có sản phẩm khai thác nên tạm thời người lao động chưa có thu nhập. Nhưng chi phí đầu tư khoanh nuôi tái sinh thấp chỉ từ 200.000 đồng - 500.000 đồng/ha/năm (tính cả công và chi phí khác), do vậy khi có sản phẩm cho thu hoạch chủ rừng và người lao động sẽ có lợi nhuận cao.
 Nhìn tổng quan, ta thấy tài nguyên rừng ở huyện Quan Sơn phong phú. Quan Sơn có nhiều rừng gỗ, nứa, vầu, giang, bương, cây dược liệu và lâm sản khác trong rừng. Trên địa bàn huyện Quan Sơn diện tích đất lâm nghiệp hầu như không có đồi trọc. Độ che phủ rừng cao nhất toàn tỉnh. Nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, cho sản phẩm và có thu nhập khá cao. Nhiều tiểu khu rừng tự nhiên độ tàn che trên 0,7 đó là những tiềm năng và lợi thế cho huyện Quan Sơn phát triển đi lên từ nghề rừng. 
Rừng trồng cũng được chú ý phát triển mạnh nhất là luồng, mỗi năm tăng 300 - 500ha. Những năm gần đây thu nhập lâm nghiệp thông qua tiểu thủ công nghiệp (chế biến tại chỗ) từng bước được tăng lên nhất là dọc các tuyến đường 217, đường liên xã, đường vành đai biên giới, nhiều cửa hàng, cửa hiệu, nhiều xưởng chế biến đã mở ra. Đây là hướng đi tích cực để tận dụng tài nguyên góp phần bảo vệ, phát triển rừng. Giảm khai thác tiêu thụ hàng thô về lâm sản sẽ tiết kiệm tài nguyên, tạo việc làm mới ổn định, nâng cao giá trị hàng hóa, sản phẩm.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, huyện Quan Sơn đã xác định thế mạnh của kinh tế rừng. Tiến tới cần xây dựng khu chế biến lâm sản tập trung theo quy hoạch để có đầu tư thỏa đáng cho việc phát triển kinh tế rừng bền vững. Việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng, trồng chăm sóc khoanh nuôi phát triển rừng những năm qua đã được chú ý đúng mức. Trồng rừng luồng thuần loài tạo vùng nguyên liệu hàng hóa nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do luồng bị mất giá, khuy (thoái hóa) thì thu nhập của người dân sẽ rất khó khăn. Nứa, vầu nhiều nhưng nhiều nơi khai thác không đúng quy trình kỹ thuật, cường độ chặt quá lớn làm giảm khả năng sinh trưởng phục hồi rừng, rừng bị thoái hóa. Nứa loại 1, 2, 3 giảm nhiều chỉ còn loại 4 và tép, giá trị thấp.
Rừng gỗ cần được chú ý quản lý bảo vệ. Một số xưởng chế biến luồng, nứa, vầu cần chú ý đến bảo vệ môi trường. Nhiều diện tích đất lâm nghiệp là rừng tự nhiên có độ che phủ cao nhưng độ tàn che thấp (rừng nghèo), nứa, vầu cần có biện pháp khai thác hợp lý, có biện pháp kỹ thuật để chăm sóc khoanh nuôi, ngừng khai thác có thời hạn để cho rừng phục hồi.
Rừng ở huyện Quan Sơn còn nhiều độ che phủ, độ tàn che cao là thế mạnh cả về kinh tế và môi trường ở trên địa bàn của huyện. Song, cần quan tâm chú ý việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tuân thủ quy định về quy trình kỹ thuật cường độ khai thác, nhất là với nứa, vầu, luồng để không làm cho rừng nghèo kiệt, thoái hóa. Việc khai thác chế biến lâm sản trên địa bàn cần có quy hoạch đồng bộ với các giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu. 
Quan Sơn có nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi, cải tạo rừng nghèo kiệt sang cây trồng có giá trị kinh tế, đồng thời tăng cường bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng. Phát triển các mô hình trang trại rừng, tăng số lượng từ 15 trang trại với doanh thu bình quân 40 triệu đồng/trang trại năm 2010, lên 22 trang trại, doanh thu 70 triệu đồng/trang trại năm 2015. 
Các sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu tiếp tục tăng, từ năm 2010 đến năm 2015, khai thácgỗ tăng từ 2.395m3 lên 2.917m3, khai thác củi giảm từ 61.000Ste xuống 60.000Ste, khai thác tre, luồng giảm từ 1.756 nghìn cây xuống còn 1.645 nghìn cây do chế biến giảm, khai thác nứa giấy tăng từ 40.500 tấn lên 59.120 tấn.
Nhìn chung, rừng ở huyện Quan Sơn còn nhiều tài nguyên, đất lâm nghiệp bình quân đầu người còn khá lớn. Nếu Quan Sơn có chiến lược sử dụng rừng và đất lâm nghiệp đúng quy hoạch, kế hoạch, đúng quy trình kỹ thuật thì rừng và đất lâm nghiệp sẽ là nguồn lợi lớn, là nguồn thu nhập chủ yếu hàng ngày của người dân.
c. Thủy sản
Mạng lưới sông suối trên địa bàn huyện phong phú. Ngoài ra, ở trong các làng bản còn có các khe suối nhỏ khác. Từ những lợi thế trên, từ rất lâu đời người dân nơi đây đã biết khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước vào sản xuất cũng như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản góp phần bổ sung nguồn thức ăn hàng ngày.
Đánh bắt nguồn thủy sản là một hoạt động kinh tế bổ trợ nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống. Bởi vậy, người dân bản địa nơi đây đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong việc đánh bắt và có nhiều loại dụng cụ đánh bắt khác nhau, với nhiều kỹ thuật đánh bắt phong phú và đa dạng. 
Là huyện miền núi nên tiềm năng về phát triển thủy sản của Quan Sơn không nhiều. Các hoạt động về thủy sản của người dân chủ yếu khai thác, đánh bắt tự nhiên và nuôi thủy sản trên các ao hồ nhỏ mang tính tự cấp, tự túc. Nuôi trồng thủy sản của huyện chủ yếu tận dụng diện tích ao hồ, mặt nước để nuôi thả. Diện tích nuôi trồng năm 2000 là 63,1ha với sản lượng đạt 117,2 tấn; Năm 2005, diện tích nuôi trồng là 76ha, sản lượng 130 tấn; đến năm 2010 diện tích nuôi trồng là 69,7ha, sản lượng đạt 122 tấn. Góp phần tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn.
Năm 2000, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 0,86 tỷ đồng, đến năm 2005 tăng lên 1,2 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1,39 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân hằng năm cả thời kỳ 2000 - 2010 là 4,5%. Tỷ trọng thủy sản trong nội bộ ngành nông lâm thủy sản chiếm 1,6% năm 2005 và giảm còn 1,1% vào năm 2010.
Năm 2015, sản lượng thủy sản đạt 245 tấn, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2010, giá trị sản xuất thủy sản tăng từ 04 tỷ đồng lên 11 tỷ đồng, góp phần tạo nguồn thực phẩm và thu nhập cho một số hộ nông dân. 
5.2.2.2. Công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng
a. Công nghiệp, thủ công nghiệp
Số cơ sở sản xuất công nghiệp của Quan Sơn chủ yếu là các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp mang dáng dấp công nghiệp, chưa có cơ sở công nghiệp hiện đại.
Cơ cấu ngành công nghiệp chủ yếu đang thuộc về chế biến nông sản và các cơ sở sản xuất gạch. Mặc dù huyện có thế mạnh về lâm sản nhưng ngành công nghiệp chế biến lâm sản chưa phát triển mạnh, chủ yếu là sơ chế, như các xưởng đũa luồng, tăm mành từ nứa vầu...
Tuy vậy, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công ghiệp của huyện vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá, giá trị sản xuất (giá 2010) tăng bình quân 20,4%/năm, năm 2015 đạt 54 tỷ đồng. Trong 5 năm 2011 - 2015, số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng lên gấp 2,1 lần, từ 321 cơ sở lên 670 cơ sở, nên đã góp phần tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện. 
Các sản phẩm chủ yếu gồm khai thác sản xuất vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi, gạch), sản phẩm may mặc, chế biến thức ăn gia súc, sản xuất nông cụ, chế biến lâm sản (đũa, tăm, ván ép), dịch vụ sửa chữa cơ khí, sản xuất đồ mộc, đồ dân dụng. 
Hiện tại trên địa bàn huyện có quy hoạch cụm công nghiệp Trung Hạ và cụm công nghiệp Sơn Điện. 
Sự phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã tận dụng được thời gian lao động nông nhàn ở nông thôn, tăng thêm thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong huyện. Song nhìn chung, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô còn nhỏ, hiệu quả hoạt động còn thấp, các cơ sở sản xuất phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, vốn đầu tư thấp, phổ biến vẫn là vốn kinh tế hộ cá thể, sức thu hút lao động và thu hút đầu tư chưa hấp dẫn. Vấn đề vay vốn của các doanh nghiệp và các hộ sản xuất theo chính sách Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn đã tác động không nhỏ đối với phát triển ngành nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Đồng thời, thị trường tiêu thụ chưa được khai thông, sản xuất hàng hóa, khai thác nội lực tại chỗ còn yếu; thiếu vốn, thiếu công nghệ sản xuất, đặc biệt là thiếu khoa học kỹ thuật và lao động chất lượng cao.
Bảng 31: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu, giai đoạn 2011 - 2015( )
TT    Chỉ tiêu    ĐVT    2005    2010    2015    TT (%/năm)
                        2006 -2010    2011 - 2015
    GTSX (giá 1994)    tỷ đồng    3,1    7,6    20,0    19,6    21,4
2    GTSX (giá 2010)    tỷ đồng        17,0    43,0        20,4
3    GTSX (giá thực tế)    tỷ đồng        16,3    54,0        
4    Một số sản phẩm chủ yếu                        
5    Đá hộc khai thác    1.000m3    24,2    38    56    9,4    8,1
6    Cát sỏi các loại    1.000m3    6,2    13    20    16,0    9,0
7    Gạo ngô xay xát    Tấn    3.940    7.221    8.300    12,9    2,8
8    Gỗ xẻ các loại    1.000m2        376    520        6,7
9    Gạch xây các loại    1.000 viên    860    1.468    1.879    11,3    5,1
10    Giường tủ các loại    cái    522    1.279    1.544    19,6    3,8

Về nghề thủ công, trước đây người Thái có nghề trồng bông dệt vải thô để tự túc và làm chăn hoa “Pha lai” bằng sợi đen, trắng rất đẹp. Ngày nay, nghề này hầu như không còn phổ biến như trước, nghề trồng dâu nuôi tằm để làm “phá” tức vải thổ cẩm làm chăn, đệm và trang trí vì có hoa văn phong phú, đa dạng, đẹp mắt có thể làm thành hàng hóa, đặc biệt là dùng làm “chướng kha” tức là sắm đồ cho thiếu nữ đến tuổi kết hôn về nhà chồng như: chăn, đệm, gối, đủ cho đôi vợ chồng trẻ; đệm cho ông bà nội và 1 bộ đệm biếu cho cậu, mợ bên ngoại, ngoài ra còn có chăn, đệm dành cho tiếp khách. Vì thế xưa có câu “ngủ nhà Thái, không lo chăn đắp”.
Nghề thêu dệt, làm phá thổ cẩm, làm váy mặc hiện nay vẫn phát huy truyền thống như xưa, nghề đan lát, mộc có từ xưa đến nay, nhưng vẫn chưa được cải tiến nhiều, chỉ làm để tự cung tự cấp, chưa thành hàng hóa, chưa có thợ chuyên nghiệp. Một số nghề truyền thống như dệt thổ cẩm đang được khôi phục lại ở các bản, nhưng chưa tập trung thành làng nghề. Hoạt động kinh tế tiểu thủ công nghiệp của Quan Sơn còn chịu sự chi phối bởi tập quán sản xuất của cư dân. Nghề thủ công truyền thống phản ánh sinh động tiềm năng, trí tuệ và sức lao động cần mẫn của con người trong tiến trình lịch sử. Dù vậy, thủ công nghiệp vẫn nằm trong khuôn khổ của kinh tế tiểu nông, chưa trở thành nghề chuyên môn hóa, vẫn tồn tại dưới hình thức cá thể hộ gia đình.
b. Xây dựng
 Xây dựng là ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Đối với huyện Quan Sơn, trong những năm qua, ngành xây dựng có những bước phát triển nhanh trên cả phương diện công trình dân dụng và các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, giao thông vận tải, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế.
Từ lâu đời, đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn đã biết sử dụng các nguyên liệu của núi rừng như: tre, nứa, mây, gỗ,... làm nhà sàn để ở. Về mặt kiến trúc, cách thức làm nhà ở được trình bày ở chương sáu của cuốn địa chí này. Ở đây chỉ đề cập đôi nét về công trình xây dựng.
Dưới thời các triều đại phong kiến và chế độ thực dân Pháp, việc xây dựng các công trình theo kiểu mới trên vùng đất Quan Sơn không có gì đáng kể. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến kết thúc 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, do điều kiện chiến tranh và tình hình kinh tế - xã hội chưa phát triển, việc xây dựng được tiến hành tương đối chậm. Chủ yếu là xây dựng các công trình công cộng như: đường giao thông, cầu cống, đập, hồ, công sở, trường học, trạm xá... phục vụ cho sản xuất, đời sống và các lợi ích công cộng. Trong các giai đoạn tiếp theo, ở vùng nông thôn miền rừng núi như Quan Sơn, việc xây dựng theo phương thức truyền thống vẫn được duy trì. Mặt khác, cùng với sự di dân của đồng bào miền xuôi lên, việc xây dựng đường giao thông, nhà cửa cũng được tiến hành, làm thay đổi cảnh quan của địa phương. Bên cạnh một số nhà sàn, nhà trệt truyền thống của đồng bào các dân tộc địa phương, ngày càng có nhiều ngôi nhà của đồng bào Kinh, được xây dựng bằng các nguyên liệu như gạch, ngói, xi măng... theo kiểu dáng hiện đại.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), và khi huyện Quan Sơn được thành lập (1996), sự ra đời của thị trấn và các trung tâm thị tứ, việc xây dựng được đẩy mạnh. Các cơ quan, trụ sở của Đảng, Chính quyền, Ban, Ngành chuyên môn, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, đường giao thông, Đài phát thanh, truyền hình, Bưu điện... ngày một khang trang, hiện đại. Tại các xã, cuộc vận động kiên cố hóa đường sá, xây dựng trạm điện, trạm xá, trường học, trụ sở Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, Nhà Văn hóa, chợ... thu được nhiều kết quả. Bộ mặt bản làng, đời sống của đồng bào các dân tộc ở huyện Quan Sơn ngày càng được đổi mới và cải thiện.
Các công trình thủy lợi, như hồ, đập, trạm bơm nước được chú trọng xây dựng để chống lũ lụt, đảm bảo nước tưới tiêu cho cây trồng nông, lâm nghiệp và đáp ứng yêu cầu nước của công nghiệp... Tốc độ, quy mô xây dựng đang ngày càng nhanh chóng, hiện đại hơn trước. 
Bước sang giai đoạn 2011- 2015, ngành xây dựng tăng trưởng nhanh, bình quân 13,5%/năm. Trên cơ sở các quy hoạch đã được phê duyệt, trong đó xây dựng kết cấu hạ tầng với trọng tâm là phát triển giao thông, hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, dịch vụ, công nghiệp. Đến nay nhiều công trình đã cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng như: đường tuần tra biên giới, đường Sơn Thủy - Na Mèo, đường Sơn Hà - Tam Lư, cầu thị trấn Quan Sơn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
5.2.2.3. Giao thông vận tải
Giao thông vận tải có vai trò đảm bảo cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội giữa các vùng miền, là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác. Mọi hoạt động kinh tế trên địa bàn huyện Quan Sơn được thực hiện chủ yếu bằng đường bộ và đường sông, ngoài ra cũng có thể sử dụng đường hàng không qua Cảng hàng không Thọ Xuân. Trong đó, hệ thống giao thông đường bộ có vai trò quan trọng nhất trong việc kết nối kinh tế - xã hội của huyện với các huyện khác trong và ngoài tỉnh. 
a. Đường bộ
- Quốc lộ 217 nối với Quốc lộ 1A tại thị trấn Lèn, huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa lên Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo sang tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Đoạn qua huyện Quan Sơn dài 75,2km: Km 120+200 (thuộc địa phận xã Trung Hạ) đến km 195+400 (Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo). Đường 217 là đường quốc lộ cấp 4 miền núi, chiều rộng nền 7,5m; mặt đường 6,5m. Đường 217 thi công vào ngày 01 tháng 12 năm 1955, hoàn thành tháng 4 năm 1956, rải nhựa mặt đường năm 1976, năm 1990 và nâng cấp hoàn thành năm 2015, hiện nay chiều rộng mặt đường là 7,5m đã được rải thảm nhựa.
- Đường nối các huyện phía Tây Thanh Hóa (nay là Quốc lộ 16): bắt nguồn từ tỉnh Sơn La, qua huyện Mường Lát - Thanh Hóa, đi qua các xã biên giới của huyện Quan Sơn như: Sơn Thủy, Mường Mìn, Sơn Điện, Sơn Lư, Sơn Hà về Yên Khương, huyện Lang Chánh, tiếp tục kéo dài vào phía nam.
Quốc lộ 16 đoạn đi qua huyện Quan Sơn dài 42,7km, nền đường rộng 6,0m, mặt nhựa 3,5 m, thi công năm 2009 - 2010. Trong đó đi trùng vào Quốc lộ 217 từ km 173+370 (bản Luốc Làu xã Mường Mìn) xuống đến km 145+020 (bản Păng, xã Sơn Lư) dài 28,35km.
- Đường tuần tra biên giới của Biên phòng đi theo đường biên giới của huyện Quan Sơn, dài 69,1 km, khởi công từ năm 2010 đến nay đã hoàn thành.
- Đường liên xã, gồm có các tuyến đường sau:
+ Đường Trung Hạ - Trung Xuân (giao với Quốc lộ 217 tại km 125 + 60) dài 6km, nền đường rộng 6,0m, mặt đường rải nhựa 3,5m. Từ Trung Xuân có đường mòn rộng 1,5m qua Pha Lý ra Hồi Xuân tại cửa sông Lò dài 8km.
+ Đường bản Xày (giao với Quốc lộ 217 tại km 126+380) vào xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh, đoạn qua bản Xày xã Trung Hạ dài 4km, dân địa phương thường gọi tuyến đường này là đường Xày - Tiên.
+ Đường từ Km 129+860 - Quốc lộ 217 (thuộc địa phận xã Trung Tiến) đi Nam Động - Quan Hóa. Đường dài 21km, rộng 3,5m, do đội thanh niên tình nguyện 426 thi công năm 1978. Hiện tại đang tiến hành nâng cấp đường mặt nhựa đến bản Chiềng, xã Nam Động, huyện Quan Hóa, dài 9km.
+ Đường Sơn Lư - Tam Lư - Tam Thanh lên biên giới Việt - Lào Mường Pao dài 18km, nền đường rộng 6,0m, mặt nhựa 3,5m.
+ Đường từ Km 164+580 - Quốc lộ QL217 đi bản Xa Mang, xã Sơn Điện sang bản Pa, xã Tam Thanh dài 12km (đoạn từ bản Xa Mang, xã Sơn Điện đến bản Pa, xã Tam Thanh chưa xây dựng), nền đường rộng 5,0m, chưa xây dựng phần mặt đường.
+ Đường mòn liên xã, liên huyện từ km 166+200 - Quốc lộ 217 qua bản Ngàm, Na Hồ xã Sơn Điện đi qua bản Bau, bản Lở - huyện Quan Hóa nối với tuyến đường Hồi Xuân - Mường Lát tại bản Chiềng xã Nam Động, đường rộng 2 - 3m, đường đất chỉ lưu thông xe thô sơ, đi bộ, đi ngựa được, tuyến đường dài 21km. Đoạn qua huyện Quan Sơn dài 7km. Trước năm 1957 khi chưa có đường 217, tuyến đường này là mạch giao thông đường bộ chủ yếu đi từ Cửa khẩu Na Mèo xuống Hồi Xuân - Quan Hóa dài trên 80km. 
+ Đường từ bản Luốc Làu, xã Mường Mìn (giao với Quốc lộ 217 tại km 137+370) đi Sơn Thủy lên km 185+700 (Quốc lộ 217) bản Sộp Huối, xã Na Mèo dài 15 km. Trong đó đoạn trùng với đường vành đai biên giới từ km 173+370 Quốc lộ 217 đến trụ sở xã Sơn Thủy dài 6km, nền đường rộng 6m, mặt đường rải nhựa 3,5m. 
Các tuyến đường xã có chiều dài lớn, gồm có: 
+ Đường từ bản Cha Lang (km 122+800 - Quốc lộ 217) đi bản Xanh, xã Trung Hạ dài 5 km, đường đất rộng 3,5m.
+ Đường từ Km 130+30 - Quốc lộ127 qua bản Lốc vào bản Toong dài 2 km, đường đất rộng 3m.
+ Đường nối từ Quốc lộ 217 đến bản Cum đi bản Tiên, xã Lâm Phú nối với tuyến đường bản Xày vào Lâm Phú tại bản Tiên, đường đất rộng 4,5m, đoạn qua đất Quan Sơn dài 3km.
+ Đường từ Km 132+780 - Quốc lộ 217 (trung tâm xã Trung Tiến) vào bản Pa Chè, Cum, xã Trung Tiến dài 1,5km, nền đường 5m, mặt đường bê tông 3,5m. Từ bản Cum đến bản Hón Sài, xã Lâm Phú dài 13,5km, đường đất rộng 3,5m.
+ Đường Máy - Bàng từ phía Bắc cầu Pha Lò (km 140+150 - Quốc lộ 217) vào bản Máy đến bản Bàng, xã Trung Thượng dài 6km, nền đường 6m, chưa xây dựng mặt đường.
+ Đường nối từ đường Máy - Bàng lên bản Khạn, xã Trung Thượng dài 4,5 km, đường đất rộng 6m. 
+ Đường từ Km 159+820 - Quốc lộ 217 (thuộc địa phận bản Bun) đi bản Na Hồ, Na Phường, Sủa, xã Sơn Điện kéo dài đến bản Bâu, xã Nam Động, huyện Quan Hóa dài 9 km, mặt đường đất rộng 3,5m.
+ Đường từ Km 173+990 (thuộc địa phận bản Mìn) qua bản Yên đến Đồn Biên phòng Mường Mìn, xã Mường Mìn dài 10 km, nền đường 6m, mặt đường cấp phối rộng 3,5m.
+ Đường từ Km 186+650 - Quốc lộ 217 (tại bản Sộp Huối) đi bản Na Poọng, Cha Khót, xã Na Mèo dài 12km, mặt đường rộng 3,5m, mặt đường đất.
+ Đường bản Na Mèo đi qua bản Ché Lầu, xã Na Mèo đến bản Mùa Xuân xã Sơn Thủy dài 25km, do Bộ đội biên phòng Thanh Hóa thi công năm 2008, có 2km đường nhựa với chiều rộng nền 6m, mặt 3,5m còn lại là đường đất rộng 3,5m.
+ Đường từ bản Hiềng đi bản Sa Ná, bản Son, bản Ché Lầu xã Na Mèo dài 12km mặt đường đất rộng 3,5m.
+ Đường từ bản Thủy Thành đi Ka Lóc qua Pha Lài lên bản Mùa Xuân xã Sơn Thủy dài 25 km, mặt đường đất rộng 3,5m.
+ Đường từ bản Muống qua bản Khà lên bản Mùa Xuân, Xia Nọi, xã Sơn Thủy dài 24 km, đường đất rộng 3,5m.
b. Đường thủy
Giao thông đường thủy ở huyện Quan Sơn gồm có sông Lò, sông Luồng và các suối lớn như: Suối Xia, suối Hạ, suối Đe, trước những năm 1980, các tuyến sông suối này nhân dân thường vận chuyển bè, mảng hoặc kéo luồng, nứa, gỗ, vầu theo dòng nước. Nhất là sông Lò, sông Luồng trước những năm 1970 là mạch giao thông đường thủy chính ở Quan Sơn. Mỗi năm, hai con sông này vận chuyển hàng triệu cây nứa, vầu, luồng, hàng nghìn m3 gỗ tròn về sông Mã - Hồi Xuân bán cho Nhà nước. Nay tuyến giao thông đường thủy ít sử dụng do nguồn nước cạn, vận chuyển khó khăn, năng suất thấp, mất nhiều thời gian, công sức, hơn nữa giao thông đường bộ phát triển, xe vận tải các loại thuận tiện cho việc vận chuyển lưu thông hàng hóa hơn đường thủy.
c. Vai trò của hệ thống giao thông thủy bộ trên địa bàn huyện Quan Sơn
Quốc lộ 217: đường Quốc lộ 217 bắt nguồn từ Thị trấn Lèn huyện Hà Trung - Thanh Hóa chạy lên Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo sang nước bạn Lào, dài 195,4km. Đoạn qua huyện Quan Sơn, từ xã Trung Hạ (từ km 120+200) lên đến Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo (195+400) dài 75,2 km.
Quốc lộ 217 là huyết mạch giao thông đường bộ chạy qua huyện Quan Sơn. Từ khi được khai thông đến nay nó đã phát huy tác dụng con đường phục vụ dân sinh, kinh tế quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện nói riêng, thông thương giữa Thanh Hóa - Hủa Phăn và Việt Nam - Lào nói chung.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quốc lộ 217 ngày đêm vận chuyển lương thực, thực phẩm, hàng hóa, thuốc men, đạn dược, phương tiện... phục vụ nhân dân các dân tộc huyện Quan Hóa cũ, nay là huyện Quan Sơn, đảm bảo đời sống nhân dân giữ yên biên giới, chiến đấu bắn trả máy bay Mỹ bảo vệ quê hương, cầu đường quốc lộ, giữ vững mạch giao thông, tiếp tế cho chiến trường thượng Lào. Đặc biệt là căn cứ địa cách mạng Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nơi Trung ương cách mạng Lào đặt căn cứ giáp với huyện Quan Sơn. Do ý nghĩa và tầm quan trọng đó nên máy bay Mỹ đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm. Những điểm xung yếu như: cầu Pha Lò km 140+150, cầu suối Yên km 172+200, cầu suối Cài km 191+180, cầu Na Mèo; các đỉnh núi khúc cua nguy hiểm như km 130+30, km 156, km 175, km 182, km 193, 194 Các bãi tập kết kho tàng phương tiện vận tải của ta ở km 168+600, km 191+500, km 191 là trọng điểm quan trọng máy bay Mỹ bắn phá hầu như 24/24h, chúng đã thả xuống những nơi này hàng chục ngàn tấn bom đạn, đủ các loại, các cỡ. Trong đó có cả bom nổ chậm, bom Na pan, bom tấn, bom bi sát thương...
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã dồn hết sức người, sức của cùng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến giữ vững mạch giao thông, giặc phá ta sửa, bom đào, ta lấp, giặc đánh ban ngày, ta sửa ban đêm, giặc đánh cả ngày đêm ta sửa cả đêm lẫn ngày. Cứ ngớt tiếng bom thì hàng đoàn người từ lực lượng xung kích của địa phương cùng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến lại lao ra đường lấp hố bom, sửa cầu, sửa đường cho xe và người đi qua. Là tuyến huyết mạch giao thông giữa Việt Nam lên thượng Lào trực tiếp với căn cứ Trung ương Cách mạng Lào, có ngày hàng trăm xe quân sự vận chuyển người, phương tiện, đạn dược, lương thực, thực phẩm sang giúp nước bạn Lào nhưng không bị thiệt hại đáng kể do con đường 217 luôn được đảm bảo thông suốt. 
Năm 1966, tại cầu Pha Lò (sông Lò) km 140+150, dân quân 2 xã Trung Hạ, Tam Lư đã bắn cháy máy bay phản lực Mỹ bằng súng bộ binh (xã Trung Hạ (năm 1966) bao gồm các xã: Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Xuân, Trung Thượng; xã Tam Lư bao gồm: Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Hà, Sơn Lư và thị trấn Quan Sơn hiện nay).
Sau khi hòa bình lập lại, Quốc lộ 217 được tu sửa, nâng cấp, rải nhựa (1976 - 1990) là đường giao thông huyết mạch xuyên qua huyện, phát huy tác dụng thông thương, vận chuyển hàng hóa. Mỗi năm Quốc lộ 217 lưu thông hàng ngàn lượt xe đến lấy hàng tại huyện Quan Sơn hoặc chuyên chở hàng hóa sang nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Từ khi thành lập huyện đến nay, ngoài sử dụng tại chỗ, mỗi năm huyện Quan Sơn xuất ra ngoài huyện hàng trăm ngàn tấn nan thanh, hàng triệu cây vầu, nứa, luồng, hàng ngàn m3 gỗ cũng chính là nhờ tuyến đường 217.
Ngoài việc phục vụ dân sinh, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đường 217 còn có tác dụng nâng cao dân trí, văn hóa cho đồng bào các dân tộc trong huyện. Nhờ có đường 217 mà các đoàn nghệ thuật của tỉnh, của trung ương đến lưu diễn. Viễn thông Viettel, Vinaphone đến lắp đặt sóng truyền hình. Điểm Bưu điện văn hóa xã, các trường học được Nhà nước xây dựng mới khang trang ở hầu hết các trung tâm xã, thị trấn của huyện, hàng hóa, hành khách lưu thông thuận lợi, tạo mối giao lưu giữa các vùng miền trong và ngoài huyện.
Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn coi đường 217 là cột sống của mình, là huyết mạch chính trong cả thời chiến lẫn thời bình, giúp cho kinh tế, đời sống của nhân dân địa phương phát triển, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Đồng thời tăng cường mối tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào cũng có một phần tác dụng của tuyến đường 217.
Quốc lộ 16: đoạn qua huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa dài 42,7 km, là tuyến đường phục vụ dân sinh, kinh tế - quốc phòng - an ninh của huyện và cả nước.
Từ khi Nhà nước thi công và đưa vào sử dụng đường vành đai biên giới nhiều khu dân cư của huyện đã thoát khỏi cảnh biệt lập, được thông thương với bên ngoài, đời sống tinh thần vật chất của đồng bào biên giới được nâng lên rõ rệt như: khu vực Vũng Cộp, hang Bo Cúng, bản Chanh, bản Hiết, bản Muống, xã Sơn Thủy, bản Hạ, bản Làu, bản Xum, xã Sơn Hà... Những địa phương này khi chưa có đường vành đai biên giới đi qua là vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, đời sống nhân dân gặp nhiều gian khổ nhưng chưa có cách nào để tự thoát ra được. Khi có đường vành đai biên giới chạy qua đồng bào như thể mình được khai thông giải phóng đã có đường đi, lối lại đàng hoàng. Có đường đi lại, đồng bào mua được xe máy, ô tô, công nông, máy cày, máy bừa, làm được nhà mới cho mình ở, chở vật liệu vào xây mới trường lớp cho con em học hành, giao lưu mua bán hàng hóa, từ đó thoát khỏi cảnh vùng sâu, vùng xa hẻo lánh xưa kia, tốc độ giảm nghèo nhanh hơn trước. Đây là những tác dụng nhìn thấy trực tiếp của tuyến đường mà đồng bào miền núi vùng cao nói chung, nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn nói riêng được thụ hưởng đường vành đai biên giới Quốc gia. Nhờ có đường vành đai biên giới, nhiều khu dân cư mới được mở ra làm nơi trao đổi mua bán hàng hóa, dân số vùng cao tăng lên góp phần giữ vững an ninh biên giới.
Quốc lộ 16 đi qua huyện Quan Sơn bắt đầu từ Vũng Cộp, xã Sơn Thủy (nối với đường đi Mường Lát tại bản Chiềng - Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa) đến km 173+370 - Quốc lộ 217 (bản Luốc Lầu, xã Mường Mìn) dài 22,7 km. Từ km 145+20 - Quốc lộ 217 qua bản Hạ, bản Làu, bản Xum - xã Sơn Hà - huyện Quan Sơn đến giáp huyện Lang Chánh dài 20km, tổng 42,7 km. Từ km 173+370 đến km 145+20 - Quốc lộ 217 (bản Păng, xã Sơn Lư) trùng tuyến Quốc lộ 217 dài 28,35 km.
 Đường tuần tra biên giới: đường tuần tra biên giới do bộ đội biên phòng quản lý, phục vụ việc tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc biên giới trên địa bàn toàn huyện nói riêng, cả tỉnh, cả nước nói chung. Tuy nhiên, nó cũng góp phần giao lưu thông thương hàng hóa, có vai trò như đường dân sinh cho các bản giáp biên giới.
Đường liên xã: là các tuyến đường nối liền các xã trong huyện với nhau tạo thành sự thông thương, giao lưu hàng hóa, kinh tế xã hội, quốc phòng - an ninh và phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành mọi công tác của Đảng, Chính quyền, đoàn thể các cấp đến với dân và nhân dân lên xã lên huyện làm việc dễ dàng, tạo sự gắn bó, gần gũi giữa dân với Đảng, Chính quyền với nhân dân, tạo sự liên kết gắn bó thông thương giữa các xã trong mọi hoạt động thời chiến cũng như thời bình. Đường liên xã thời nay hầu như đã đi được ô tô, xe máy nên rất thuận tiện cho kinh tế xã hội phát triển, góp phần giữ vững quốc phòng - an ninh trên địa bàn mà tuyến đường đi qua.
Các tuyến đường liên thôn: đường liên thôn một số sử dụng từ đường quốc lộ, đường vành đai biên giới, đường tuần tra biên giới, đường liên xã... Chỗ nào không có các tuyến đường đó đi qua thì nhân dân xây dựng đường liên thôn, liên bản. Đường liên thôn chủ yếu do nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí nên đường thường có khổ hẹp và chưa đạt chuẩn về độ dốc, độ cua, việc đi xe ô tô ít lưu hành được, chủ yếu là cho người đi xe máy, đi bộ. Đường liên thôn phần lớn được hình thành từ xa xưa, đến nay do đời sống xã hội phát triển, nhân dân tự tu sửa, mở rộng hoặc được Nhà nước hỗ trợ đầu tư nên một số tuyến đường đã rộng hơn, đi lại dễ dàng hơn, có thể đi xe máy và ô tô loại nhỏ.
Đường liên thôn có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội bảo vệ quốc phòng - an ninh trên địa bàn, góp phần giữ vững an ninh biên giới. Nếu không có các tuyến đường đó thì mọi hoạt động ở địa phương sẽ khó khăn. Từ trước đến nay, các con đường liên thôn đã phát huy tác dụng góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước ngay tại địa bàn. Nhân dân huyện Quan Sơn mong rằng trong tương lai gần, đường liên thôn được mở rộng, nâng cấp để phục vụ tốt hơn nữa cho đời sống của đồng bào góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng thành công công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàn vùng núi Quan Sơn.
Ngoài các thôn lợi dụng đường quốc lộ, đường vành đai, đường tuần tra, đường liên xã. Hiện nay, trên địa bàn huyện Quan Sơn có hàng chục tuyến đường liên thôn, có tổng chiều dài hàng trăm km, nằm khắp các thôn bản trong huyện. Ngoài tác dụng giao lưu kinh tế xã hội, đường liên thôn còn là cầu nối tình cảm thăm thân giữa bản này, bản kia, giữa nhân dân hai bên biên giới thông qua đường tiểu ngạch chính là các đường liên thôn được hình thành từ xa xưa giữa ta và bạn để lại cho đến ngày nay.
5.2.2.5. Hạ tầng điện, thủy lợi
a. Về hệ thống điện
Sau khi thành lập huyện, năm 1996 đến năm 2000, huyện Quan Sơn đã có lưới điện quốc gia về đến huyện. Đây là nỗ lực lớn của ngành điện lực cũng như sự cố gắng vượt qua khó khăn về địa hình chia cắt phức tạp của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân từ cấp huyện đến cấp xã, thị trấn để nhân dân trong huyện có điện phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất. Hiện nay, toàn huyện có 111 trạm biến áp, với 201km đường dây 35KV, 119,37km đường dây hạ thế 0,4KV. Có 93/99 bản với 8.395 hộ (chiếm 96%) được sử dụng điện lưới quốc gia. Còn lại 6 bản với 350 hộ chưa được sử dụng điện là: bản Mùa Xuân, bản Xia Nọi, bản Khà, bản Chanh, bản Sa Mang, bản Pa.
Nhờ có hệ thống lưới điện quốc gia về đến các khu, bản, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân Quan Sơn được nâng lên, thông tin liên lạc được thông suốt, tạo điều kiện để người dân tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn lao động sản xuất, các ngành nghề, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, giao thông, thủy lợi có điều kiện phát triển hơn trước, khoảng cách về thông tin, hưởng thụ văn hóa của người dân miền núi được thu hẹp so với miền xuôi.
b. Về thủy lợi
Bên cạnh hệ thống thủy lợi cổ truyền, hiện nay huyện Quan Sơn còn có 127 đập thủy lợi và 287,2km kênh mương, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích 972,9ha. Được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện đang được xây dựng theo hướng hiện đại hóa để phục vụ phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp của huyện Quan Sơn.
5.2.2.6. Thương mại, du lịch
a. Thương mại
Hoạt động thương mại có vai trò lưu thông phân phối hàng hóa ở các vùng đến được tay người tiêu dùng. Vì thế nên sản xuất càng phát triển, thì càng phải có sự cung ứng, trao đổi lưu thông các loại sản phẩm sản xuất. Thương mại góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, mang lại nguồn thu nhập cho người dân lao động. Ngoài ra, thương mại còn có khả năng tạo việc làm cho người lao động. Hoạt động thương mại còn góp phần tạo ra các mối quan hệ, trao đổi về văn hóa giữa con người ở các địa phương, các vùng miền khác nhau.
Trước năm 1945, các hoạt động kinh tế trên vùng đất Quan Sơn về cơ bản vẫn là nền kinh tế tiểu nông mang tính chất tự cung tự cấp, trong đó kinh tế nông nghiệp (trước hết là trồng trọt và chăn nuôi) kết hợp với hoạt động săn bắn và hái lượm chiếm vị trí chủ đạo. Còn lại các lĩnh vực khác các nghề thủ công hay hoạt động buôn bán, chợ búa chỉ là mặt thứ yếu có tính chất bổ trợ trong thời gian nông nhàn. Tuy nhiên, do những tác động khách quan và chủ quan của một vùng đất biên giới, nền kinh tế hàng hóa của huyện Quan Sơn cũng bước hình thành và phát triển.
Trước hết phải thấy rằng, vị trí địa lý, địa hình huyện Quan Sơn cũng khó khăn và phức tạp, dẫn đến hạn chế nhiều tới vấn đề giao lưu, giao thương nội vùng cũng như ngoại vùng. Do đó, trong suốt thời kỳ ngàn năm phong kiến, khi giao thông đường bộ còn chưa phát triển thì sự liên hệ giữa các bản làng trong huyện với nhau chủ yếu là những con đường mòn men đồi và men theo khe suối. Ngoài những con đường mòn truyền thống, dòng sông Luông, sông Lò cũng góp phần quan trọng, trở thành một tuyến đường thủy kết nối với vùng đồng bằng. 
Xưa kia, ở các bản làng người Thái, người Mường, bên cạnh hình thức trao đổi truyền thống vật đổi vật ngang giá. Và trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển thì người dân dần dần thích ứng với tiền, từng bước chuyển từ tiền xu, tiền bạc cho đến tiền giấy, tiền polimer như hiện nay là cả một quá trình phát triển của hoạt động thương mại và kinh tế thông qua trao đổi và buôn bán. Những sản phẩm của người nông dân ở Quan Sơn xưa kia dùng để trao đổi và buôn bán chủ yếu là những sản phẩm lương thực họ tự làm ra như lúa, ngô, sắn... và những hàng lâm sản khai thác được ngay trong không gian núi rừng như: măng khô, măng tươi, mộc nhĩ, nấm hương, mật ong, ... Trước khi người Kinh ở dưới đồng bằng lên đây trao đổi và giao lưu buôn bán thì những sản phẩm này người ta chủ yếu dùng để trao đổi giữa các gia đình với nhau, hay giữa bản này với bản khác, mường này với mường khác. Dần dần, thông qua con đường trao đổi và mua bán hàng hóa, nhiều cư dân Kinh ở những khu vực đồng bằng trong tỉnh và một số tỉnh ngoài cũng đã đến vùng đất Quan Sơn sinh sống, buôn bán và lập nghiệp, họ cư trú tập trung chủ yếu ở khu vực thị trấn, ngã ba, ngã tư của huyện. Hiện nay, hình thức buôn bán và trao đổi đã khác, đồng bào từ bỏ hình thức hàng đổi hàng, vật đổi vật và thay vào đó là quy sản phẩm hàng hóa ra tiền theo giá chung thị trường.
Tuy vậy, hoạt động giao thương hiện nay ở huyện Quan Sơn chưa nhộn nhịp như các huyện miền xuôi. Nguyên nhân chính đó là cư dân sống thưa thớt, không tập trung, địa bàn chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là do đời sống kinh tế chưa phát triển cao, vì thế chưa kích thích sự hình thành và phát triển những trung tâm buôn bán sầm uất và trao đổi hàng hóa ngay trên địa bàn huyện. 
Trước đây, người nông dân đến với chợ không chỉ để mua bán và trao đổi hàng hóa mà còn để chơi chợ và ăn chợ; để giải tỏa những vất vả, lo toan của đời thường. Còn những nam thanh, nữ tú họ đến với chợ không chỉ đơn thuần để mua bán mà ý nghĩa lớn hơn đó là đi chơi chợ, và chợ còn là môi trường là không gian thuận lợi nhất để họ được gặp nhau tâm sự, tỏ tình, nhờ đó mà nhiều đôi nam nữ đã nên duyên vợ chồng từ những phiên chợ quê. 
Hiện nay, hệ thống đường bộ cho ô tô, xe gắn máy và khách hành bộ đi lại được mở ra nhiều tuyến, có thể đi từ thành phố Thanh Hóa lên Bái Thượng, từ Bái Thượng lên thị trấn Ngọc Lặc, và từ Ngọc Lặc đi thẳng lên Quan Sơn. Hoặc đi theo tuyến đường Quốc lộ 217 cũng đến được huyện và từ Quan Sơn qua Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo sang nước bạn Lào. Giao thông thuận tiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân từ miền xuôi thường xuyên qua lại nơi đây, các mặt hàng ở thị trấn, thị tứ ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, kích thích sự giao lưu và phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc trong huyện, tỉnh và cả các địa phương khác trong nước và nước ngoài.
Đến nay, trên địa bàn huyện Quan Sơn tuy chưa có những trung tâm thương mại lớn xứng tầm mà vẫn chủ yếu là các điểm bán hàng như: thị trấn Quan Sơn, chợ cửa khẩu Na Mèo, chợ Sơn Hà, chợ Tam Thanh vẫn là những trung tâm thương mại quan trọng của huyện. Các mặt hàng bán ra chủ yếu vẫn là lâm thổ sản và sản phẩm chăn nuôi. Các mặt hàng mua vào chủ yếu là nhiên liệu, điện, vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc phòng trừ bệnh dịch, hàng tiêu dùng, các giống cây, giống con.
Bên cạnh các chợ kể trên đang hoạt động thì trên các dãy phố chính ở thị trấn huyện phần lớn các gia đình đã tận dụng mặt tiền và không gian nhà ở của mình để mở các cửa hiệu bán hàng tạp hóa, các đại lý bán buôn bán lẻ, các nhà hàng ăn uống, góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hóa. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ, thương mại tiếp tục được mở rộng, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và cung ứng hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn. Đến giai đoạn 2011 - 2015, trung bình hằng năm số cơ sở kinh doanh dịch vụ thương mại tăng thêm khoảng 70 - 80 cơ sở; giá trị sản xuất dịch vụ thương mại tăng bình quân 12%/năm. Giá trị sản xuất dịch vụ thương mại (giá thực tế) năm 2015 đạt 426 tỷ đồng, tăng gấp 1,8 lần so mức năm 2010 (238 tỷ đồng). 
Đến thời điểm năm 2015, toàn huyện có 850 cơ sở kinh doanh thương mại nhà hàng, khách sạn, thu hút trên 1,3 nghìn lao động; tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 234 tỷ đồng. Các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, sắt thép, xăng dầu, vật liệu xây dựng, hàng may mặc, tiêu dùng gia đình được lưu thông đến các xã.
Các điểm trung tâm tập trung kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện hiện có 05 địa điểm: thị trấn Quan Sơn, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và các tụ điểm kinh tế Km 19 Trung Hạ, Km 22 Trung Thượng, Km 61 Sơn Điện. Toàn huyện có 04 chợ đầu mối gồm chợ thị trấn huyện, chợ Cửa khẩu Na Mèo, chợ đường biên Tam Thanh và chợ Sơn Điện. 
Mạng lưới các điểm cung ứng xăng dầu hiện có 03 điểm gồm ở thị trấn huyện, khu vực cửa khẩu Na Mèo và Trung Thượng cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ vận tải lưu thông hàng hóa trên trục quốc lộ đi Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. 
Về xuất khẩu, năm 2015 giá trị hàng hóa xuất khẩu trên địa bàn đạt 1,6 triệu USD, tăng bình quân 10,9%/năm. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng tiểu thủ công nghiệp (tăm mành, đũa tre,...).
Cùng với hoạt động thương mại, các hoạt động dịch vụ của Quan Sơn cũng được duy trì và bắt đầu có tốc độ phát triển nhanh. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, doanh nghiệp vay vốn tín dụng phát triển sản xuất. Tổng dư nợ tín dụng năm 2015 đạt 182,2 tỷ đồng, tăng gấp 1,2 lần so với năm 2010. Số cơ sở kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách tiếp tục tăng lên, đến năm 2015, toàn huyện có 69 phương tiện vận tải (ô tô tải và xe khách), khối lượng vận chuyển đạt 105.000 tấn hàng hóa và 113,8 nghìn lượt hành khách, tăng gấp 1,4 lần về khối lượng hàng vận chuyển và 2,2 lần về khối lượng hành khách vận chuyển so với năm 2010. Hiện tại, mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện nhất là Quốc lộ 217 đang tiếp tục được nâng cấp hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho dịch vụ vận tải lưu thông hàng hóa, hành khách ngày càng thuận lợi đến các trung tâm xã. 
Dịch vụ thông tin truyền thông phát triển nhanh, đến nay 100% số xã đã có các điểm phục vụ bưu chính, viễn thông. Trên địa bàn huyện có 01 bưu cục cấp II tại trung tâm huyện và 13 điểm bưu điện văn hóa xã, 80% các thôn, bản trên địa bàn các xã, thị trấn được phủ sóng thông tin di động, cung cấp các dịch vụ điện thoại cố định.
b. Du lịch
* Lợi thế và tiềm năng
Du lịch là ngành kinh tế thuộc khu vực dịch vụ. Phát triển các ngành dịch vụ, trong đó có du lịch là nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế là rất lớn. Huyện Quan Sơn có tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch. Du lịch phát triển góp phần mang lại nguồn thu nhập cho nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, đồng thời thúc đẩy nhiều ngành kinh tế và dịch vụ khác phát triển như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, sản xuất lương thực thực phẩm phục vụ du lịch, sản xuất các mặt hàng lưu niệm. Du lịch phát triển còn có tác động đến việc bảo vệ môi trường cảnh quan, bảo vệ tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, ngoài ra còn tăng cường mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các địa phương trong nước và quốc tế.
Vị trí địa lý của huyện Quan Sơn cũng phát huy được lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng. Nơi đây có Quốc lộ 217, nhiều tỉnh lộ chạy qua, có đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dài 64 km với Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, là cầu nối giữa Thanh Hóa và huyện Quan Sơn với tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào bằng hệ thống đường bộ qua các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ quan trọng. Những tuyến đường này giúp cho Quan Sơn mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng miền trong tỉnh, với cả nước và khu vực trên mọi lĩnh vực. 
Trên địa bàn huyện Quan Sơn có nhiều điểm du lịch: Động Bo Cúng, Pha Dua (Sơn Thủy), động Nang Non (Sơn Lư); Thác bản Nhài (Sơn Điện), Thác Ma Hao (Trung Hạ), thác Sao (Tam Thanh); Phù Mằn, Cầu Pha Lò (Trung Thượng), hang Hòm (Trung Xuân); Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo; không gian văn hóa Mường Mìn, Núi Lá Hoa - bản mùa Xuân, Xia Nọi, Pha Dùa, đền thờ Tư Mã Hai Đào, động Bo Cúng (Sơn Thủy), thác bản Nhài (Sơn Điện).
Quan Sơn có nhiều điểm du lịch tự nhiên có giá trị, đó là các thác nước, hang động trên địa bàn huyện. Những địa danh nổi tiếng của huyện cũng là những địa điểm du lịch thu hút khách trong và ngoài tỉnh nên có thể hình thành các tour du lịch từ Quan Sơn tới các địa phương khác và ngược lại. Khí hậu Quan Sơn rất thuận lợi để phát triển hệ sinh thái với những cảnh quan thiên nhiên đa dạng để phát triển du lịch.
Cùng với lợi thế về tài nguyên du lịch, về hệ sinh thái rừng, Quan Sơn còn có di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội của đồng bào Thái nơi đây với những nét sắc thái truyền thống có ý nghĩa trong việc thu hút khách du lịch. Những nét đặc sắc của văn hóa các dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn về ẩm thực, đồ uống, trang phục, nhà ở, cũng tạo thành một lợi thế trong việc thu hút du lịch.
* Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất của ngành du lịch 
Du lịch của huyện Quan Sơn có nhiều tiềm năng, song muốn trở thành hiện thực thì phải được đầu tư, tổ chức. Điều này vẫn còn là một vấn đề lớn của huyện.
Về giao thông phục vụ du lịch, cho đến nay tình trạng giao thông ở huyện Quan Sơn đã được cải thiện nhiều và trong kế hoạch sẽ được đầu tư hơn nữa để tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung. Phương tiện vận tải phục vụ du lịch chủ yếu là đường bộ với loại hình vận chuyển bằng ô tô...
Hệ thống cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc phục vụ du lịch ở huyện Quan Sơn mới bước đầu hình thành nhưng cũng phần nào đáp ứng nhu cầu. Các cơ sở lưu trú trên địa bàn chưa phát triển. Dịch vụ ăn uống cũng còn phải tổ chức, cải tiến nhiều hơn nữa để bảo đảm các mặt cần thiết cho khách du lịch, như vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ thuật chế biến các món ăn dân tộc, vừa thể hiện tính chất đặc sản của địa phương vừa hợp khẩu vị của khách du lịch.
Hiện nay, hệ thống cơ sở khách sạn, nhà hàng phục vụ du lịch trên địa bàn huyện được quan tâm phát triển. Đến năm 2105, toàn huyện có 144 cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng.
* Tổ chức hoạt động du lịch
Nhìn chung, tổ chức hoạt động du lịch hiện nay ở huyện Quan Sơn chưa phát triển so với tiềm năng du lịch to lớn của huyện. Điều này đòi hỏi trong thời gian tới địa phương phải tổ chức, huy động mọi nguồn lực để phát triển du lịch trên tất cả các mặt về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, về nội dung hoạt động, về chuyên môn nghiệp vụ.
Quan Sơn là địa phương có nhiều tiềm năng về khai thác, phát triển du lịch. Du lịch sinh thái - nghiên cứu khoa học, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng là những thế mạnh mà huyện có thể khai thác để góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch nói riêng và kinh tế nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tiềm năng du lịch của mình nên Đảng bộ, chính quyền huyện đã đề ra nhiều phương án nhằm tăng cường, mở rộng hơn nữa hoạt động du lịch. Hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đang từng bước được xây dựng là một điều kiện thuận lợi cho du lịch Quan Sơn phát triển trong một tương lai gần.
Quan Sơn đang tập trung khai thác thế mạnh về tài nguyên du lịch nhằm phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các danh lam thắng cảnh thiên nhiên và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện; đồng thời kêu gọi thu hút đầu tư các điểm du lịch đã được quy hoạch như: Khu du lịch sinh thái Bản Khạn, Động Bo Cúng, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, tạo thành tuyến du lịch kết nối với các điểm du lịch tại huyện Viêng Xay nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Đồng thời tổ chức hợp lý không gian du lịch của huyện trên cơ sở khai thác tổng hợp các tài nguyên du lịch trên địa bàn như du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; Liên kết các tuyến, điểm du lịch của huyện với các tuyến điểm du lịch của tỉnh Thanh Hóa và vùng Tây Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, tạo thành các tour, các tuyến du lịch liên tỉnh, liên vùng.
Tuy nhiên, Quan Sơn cũng gặp không ít khó khăn trong việc phát triển hoạt động du lịch. Điều kiện địa hình của huyện Quan Sơn khá phức tạp, đồi núi cao, do đó việc đi lại, giao lưu giữa các vùng, các bản làng với nhau còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành các tour du lịch; nhiều danh lam thắng cảnh chưa có dịp giới thiệu đến các du khách.
Một yếu tố trở ngại nữa đối với du lịch Quan Sơn là trình độ dân cư, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ ngành du lịch cũng chưa được đào tạo một cách hệ thống, vì thế phần nào cũng ảnh hưởng chất lượng hoạt động của ngành du lịch.
Mặc dù có khá nhiều thắng cảnh tự nhiên nhưng trên thực tế số lượng các địa danh đưa vào hoạt động du lịch ở huyện Quan Sơn còn hạn chế( ). Có thể trong giai đoạn này, Quan Sơn cần chỉ tập trung vào một số mục tiêu, một số di tích danh thắng trọng điểm nhằm đem lại dấu ấn cho khách du lịch thập phương. Nhưng xét về lâu dài, huyện cần phải có sự đầu tư đồng đều hơn để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch của mình. Hoạt động du lịch của Quan Sơn hứa hẹn sẽ là một ngành đem lại nguồn thu ngân sách cao và ổn định. 
Tổng quan bức tranh kinh tế huyện Quan Sơn cho ta thấy, cùng với sự phát triển chung của toàn tỉnh Thanh Hóa, huyện Quan Sơn đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội cả về quy mô và chất lượng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ sở hạ tầng được cải thiện, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên. Nền kinh tế của huyện đang phát huy thế mạnh về phát triển lâm nghiệp, thương mại, dịch vụ; du lịch, khai thác khoáng sản; xây dựng kết cấu hạ tầng; mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng trong tỉnh, trong khu vực và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tiềm lực kinh tế được củng cố và phát triển, tạo nền tảng cơ bản cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Tuy nhiên, điểm xuất phát kinh tế của huyện còn thấp so với bình quân chung của toàn tỉnh, tốc độ phát triển kinh tế khá nhưng chưa đủ để tạo ra sự bứt phá. Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp. Kinh tế huyện Quan Sơn đã có một quá trình tăng trưởng liên tục, tăng trưởng khá nhưng nền sản xuất vẫn chưa thật sự chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa.
Về nguồn lực phát triển kinh tế của Quan Sơn có cả thuận lợi và khó khăn. Quan Sơn là một trong 62 huyện nghèo của cả nước được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư bằng nhiều chương trình, dự án cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên đất đai đa dạng, đặc biệt là đất rừng chiếm diện tích lớn với 80,89% tổng diện tích tự nhiên. Đây là lợi thế cạnh tranh của huyện để sản xuất được nhiều sản phẩm lâm sản xuất khẩu.
Tiềm năng về khai thác đất sản xuất nông nghiệp còn nhiều, khí hậu phù hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp, thảm thực vật đa dạng phong phú, vì vậy an ninh lương thực sẽ được đảm bảo nếu đầu tư tốt và đúng hướng;
Vị trí địa lý nằm trung tâm giao lưu khu kinh tế động lực Lam Sơn - Khu đô thị Ngọc Lặc, có điều kiện giao lưu Bắc - Nam và giao lưu với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Nguồn thủy năng và địa hình thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp thủy điện quy mô vừa và nhỏ phục vụ cấp điện tại chỗ đáp ứng yêu cầu cho phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân;
Tài nguyên rừng khá lớn, thuận lợi phát triển các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh, là điều kiện thuận lợi để huyện phối hợp với các cơ sở công nghiệp, các khu công nghiệp, các trung tâm phát triển kinh tế của tỉnh;
Về đất đai, Quan Sơn có lợi thế cho phát triển đa dạng các loại hình kinh tế: kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại; phát triển các vùng cây chuyên canh cây nguyên liệu công nghiệp, cây dược liệu, trồng rừng sản xuất; phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp; Quan Sơn có nghề truyền thống mang bản sắc dân tộc cho phát triển tiểu thủ công nghiệp chế biến lâm sản, làm hàng mây tre, hàng thổ cẩm và các hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu; cho phát triển các công nghiệp vừa và nhỏ gắn vùng nguyên liệu, phát triển các cụm công nghiệp làng nghề;
 Quan Sơn có các di tích, danh thắng vùng sơn cước huyền bí với những thiết chế văn hóa, những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt và trong tín ngưỡng, lễ hội mang đậm nét văn hóa các dân tộc; là những tài nguyên cho phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế; 
Những khó khăn chủ yếu là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường học, thủy lợi... Các công trình cơ sở hạ tầng khác chưa được xây dựng đồng bộ. Quá trình hội nhập kinh tế trong thời gian tới sẽ tạo sự cạnh tranh gay gắt, quyết liệt hơn đối với phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong khi nội lực chưa đủ mạnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, việc kêu gọi đầu tư từ bên ngoài gặp nhiều khó khăn. Dân cư thưa, thiếu lao động, đặc biệt là tỷ lệ lao động trong nông - lâm nghiệp còn cao; chất lượng nguồn lao động còn hạn chế, tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của huyện. Khí hậu có nhiều yếu tố bất lợi, chịu nhiều ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra; địa hình chia cắt hiểm trở, khó đi lại, ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Phong tục tập quán sản xuất tự túc, tự cấp; tư duy sản xuất hàng hóa còn hạn chế. Đó là những lực cản mà Quan Sơn đang phải đối diện. Để đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, Quan Sơn phải nhận diện đầy đủ những lợi thế và những khó khăn thách thức. Đồng thời cần phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực với quyết tâm chính trị cao tin chắc kinh tế của huyện sẽ có bước phát triển nhanh và bền vững.
 


Các bài viết gần đây

Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 5
 Hôm nay: 156
 Tổng số truy cập: 508421
  • Bản quyền © Huyện Quan Sơn
  • Địa chỉ: Thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Email: bbtquanson@gmail.com - ĐT:0942.530.693
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa
  • Ghi rõ nguồn tin: "huyenquanson.vn" khi phát lại thông tin từ Cổng TTĐT