Trang chủ   /   Tiềm năng, cơ hội đầu tư   /   Huyện Quan Sơn - Thế mạnh về phát triển kinh tế lâm nghiệp
Huyện Quan Sơn - Thế mạnh về phát triển kinh tế lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành kinh tế lâu đời và phát triển mạnh trong thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX, với hướng chính là khai thác lâm sản. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, chủ yếu là trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Rừng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia, của tỉnh Thanh Hóa nói chung và của huyện Quan Sơn nói riêng.


Rừng trồng ở huyện Quan Sơn
Quan Sơn có các loại đất thích hợp cho cây rừng: loại thứ nhất là nhóm đất feralit trên núi có mầu vàng đến nâu vàng, phần lớn tầng dày trên một mét là điều kiện tốt cho cây rừng phát triển. Loại đất này chiếm phần lớn diên tích đất Quan Sơn. Loại thứ 2: Nhóm đất phù sa macma axit bồi tụ ven sông, suối, bãi bằng núi có độ dốc thấp, nhóm này là đất tốt cho cả cây trồng nông nghiệp và cây lâm nghiệp.
Những yếu tố của đất và khí hậu ở huyện Quan Sơn rất thuận lợi cho cây lâm nghiệp lá rộng nhiệt đới phát triển. Do đó, công tác trồng rừng ở huyện Quan Sơn có nhiều thuận lợi và Đảng bộ nhân dân phát huy ưu thế để bảo vệ, khoanh nuôi, trồng chăm sóc phát triển rừng đạt kết quả cao.
Quan Sơn đã có nhiều biện pháp hữu hiệu phát triển nghề rừng. Tại Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ I đã nêu khẩu hiệu “Bảo vệ rừng là bảo vệ chính mình, phá rừng là tự giết mình”, “trồng cây, gây rừng là yêu nước”. Thực hiện mục tiêu chính trị đó, nhân dân Quan Sơn đã trồng rừng bằng nhiều cách như: cách thứ nhất là các hộ dân tự bỏ vốn, công sức để trồng, nhất là cây luồng, do đó rừng luồng phát triển nhanh nhất. Khi mới chia tách thành lập huyện năm 1997, toàn huyện chỉ có 2.800ha rừng luồng. Đến năm 2010, có trên 8.363ha rừng luồng, chủ yếu là rừng sản xuất; Cách thứ hai là trồng theo dự án 327, 661, 147 do Nhà nước đầu tư hỗ trợ vốn. Bao gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Đặc biệt từ khi Hạt Kiểm lâm được giao làm chủ dự án 147 tốc độ trồng rừng sản xuất hằng năm càng cao chất lượng tốt. Cách thứ ba là các chủ rừng Nhà nước: 3 Đồn biên phòng, 2 Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu tư trồng rừng nơi đất trống trong diện tích được giao quản lý kể cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tính đến năm 2010, toàn huyện có 11.931,36ha rừng trồng. Trong đó: rừng sản xuất do nhân dân trồng là chủ yếu 10.205,87ha rừng trồng các loại tăng so với khi mới thành lập huyện là: 9.131,36ha; rừng phòng hộ do chủ rừng Nhà nước trồng: 1.725,49ha; nhiều khu rừng trồng từ năm 2005 trở về trước đã cho sản phẩm khai thác, nhất là luồng trên địa bàn huyện Quan Sơn. Mỗi năm khai thác tiêu thụ hàng triệu cây, do nhân dân khai thác từ rừng trồng, đem lại thu nhập khá. Nhân dân thường gọi cây luồng là “Cây xóa đói, giảm nghèo”. Rừng luồng trồng sau 5 năm đã cho sản phẩm, mỗi năm, mỗi bụi mọc thêm 3 đến 10 cây măng, 1ha luồng có từ 250 - 300 bụi luồng, chu kỳ khai thác luồng khoảng 60 năm với điều kiện chăm sóc tốt, khai thác đúng kỹ thuật, cường độ chặt cho phép không quá 25% tổng số cây.
Những năm gần đây, cây luồng bị xuống giá so với cây nứa, cây vầu. Đồng bào đã chuyển phương thức tiêu thụ luồng cây sang chế biến đũa để tiêu thụ sản phẩm tinh có giá trị cao ra thị trường. Tính ra 1 cây luồng nhóm 2 nếu bán cây thu được 18.000 đồng/cây. Sau khi chế biến sẽ có giá trị 30.000 - 35.000 đồng/cây, trừ chi phí chế biến giá trị thực của cây luồng cũng nâng lên được trên 20.000 đồng/cây, tăng 2.000 đồng/cây. 
Việc thực hiện dự án 147 do Hạt kiểm lâm làm chủ dự án, nhân dân đã chuyển mạnh sang trồng cây thân gỗ như keo, xoan, lát. Trồng keo, xoan, lát làm giàu đất, tạo mùn và ít khô đất. Dưới tán xoan, keo 2 năm đầu đồng bào kết hợp trồng ngô, sắn tăng thu nhập. Đến nay khoảng trống trong đất lâm nghiệp của huyện Quan Sơn, nhất là 6 xã biên giới còn rất ít do được trồng rừng liên tục từ khi thành lập huyện đến nay. Rừng tạp, thảm cỏ cũng được cải tạo thành rừng luồng, keo, xoan, lát. Riêng cây quế mấy năm gần đây bị mất giá nên đồng bào không còn trồng. Chỉ còn lại một ít diện tích ở Sơn Điện, Na Mèo, Tam Lư, Tam Thanh và Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, nhưng chất lượng rừng bị giảm nhiều.
Cây co phèn (cây chủ thả cánh kiến) trước đây co nhiều dọc sông Lò, sông Luồng, nhất là xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy nay rất hiếm. Sản lượng cánh kiến hằng năm không đáng kể. Nếu việc này được khôi phục chắc sẽ tạo việc làm và thu nhập tốt vì hiện nay thị trường cánh kiến đỏ đang khan hiếm.
Khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên
Đây là một biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp tác động để phục hồi rừng, phát triển rừng ít tốn kém mà hiệu quả lớn, đa dạng. Trong đó ngoài việc phục hồi rừng còn yếu tố môi trường rất tốt do không phát dọn, không đốt nên không tạo xói mòn, không diệt phá mầm hạt.
Huyện Quan Sơn luôn chú ý đến biện pháp khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên. Đến nay nhiều khu rừng đã phục hồi và phát triển tốt, đa dạng sinh học, rừng nhiều tầng rất đẹp, có tác dụng phục hồi tốt. Riêng giai đoạn năm 2001 đến năm 2010, huyện Quan Sơn đã khoanh nuôi tái sinh được 10.815 lượt ha. Các chương trình dự án 661; 147 và 30a là 9.165ha, dự án khác 1.650ha.
Tuy nhiên, do rừng mới phục hồi chưa có sản phẩm khai thác nên tạm thời người lao động chưa có thu nhập. Nhưng chi phí đầu tư khoanh nuôi tái sinh thấp chỉ từ 200.000 đồng - 500.000 đồng/ha/năm (tính cả công và chi phí khác), do vậy khi có sản phẩm cho thu hoạch chủ rừng và người lao động sẽ có lợi nhuận cao.
 Nhìn tổng quan, ta thấy tài nguyên rừng ở huyện Quan Sơn phong phú. Quan Sơn có nhiều rừng gỗ, nứa, vầu, giang, bương, cây dược liệu và lâm sản khác trong rừng. Trên địa bàn huyện Quan Sơn diện tích đất lâm nghiệp hầu như không có đồi trọc. Độ che phủ rừng cao nhất toàn tỉnh. Nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, cho sản phẩm và có thu nhập khá cao. Nhiều tiểu khu rừng tự nhiên độ tàn che trên 0,7 đó là những tiềm năng và lợi thế cho huyện Quan Sơn phát triển đi lên từ nghề rừng. 
Rừng trồng cũng được chú ý phát triển mạnh nhất là luồng, mỗi năm tăng 300 - 500ha. Những năm gần đây thu nhập lâm nghiệp thông qua tiểu thủ công nghiệp (chế biến tại chỗ) từng bước được tăng lên nhất là dọc các tuyến đường 217, đường liên xã, đường vành đai biên giới, nhiều cửa hàng, cửa hiệu, nhiều xưởng chế biến đã mở ra. Đây là hướng đi tích cực để tận dụng tài nguyên góp phần bảo vệ, phát triển rừng. Giảm khai thác tiêu thụ hàng thô về lâm sản sẽ tiết kiệm tài nguyên, tạo việc làm mới ổn định, nâng cao giá trị hàng hóa, sản phẩm.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, huyện Quan Sơn đã xác định thế mạnh của kinh tế rừng. Tiến tới cần xây dựng khu chế biến lâm sản tập trung theo quy hoạch để có đầu tư thỏa đáng cho việc phát triển kinh tế rừng bền vững. Việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng, trồng chăm sóc khoanh nuôi phát triển rừng những năm qua đã được chú ý đúng mức. Trồng rừng luồng thuần loài tạo vùng nguyên liệu hàng hóa nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do luồng bị mất giá, khuy (thoái hóa) thì thu nhập của người dân sẽ rất khó khăn. Nứa, vầu nhiều nhưng nhiều nơi khai thác không đúng quy trình kỹ thuật, cường độ chặt quá lớn làm giảm khả năng sinh trưởng phục hồi rừng, rừng bị thoái hóa. Nứa loại 1, 2, 3 giảm nhiều chỉ còn loại 4 và tép, giá trị thấp.
Rừng gỗ cần được chú ý quản lý bảo vệ. Một số xưởng chế biến luồng, nứa, vầu cần chú ý đến bảo vệ môi trường. Nhiều diện tích đất lâm nghiệp là rừng tự nhiên có độ che phủ cao nhưng độ tàn che thấp (rừng nghèo), nứa, vầu cần có biện pháp khai thác hợp lý, có biện pháp kỹ thuật để chăm sóc khoanh nuôi, ngừng khai thác có thời hạn để cho rừng phục hồi.
Rừng ở huyện Quan Sơn còn nhiều độ che phủ, độ tàn che cao là thế mạnh cả về kinh tế và môi trường ở trên địa bàn của huyện. Song, cần quan tâm chú ý việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tuân thủ quy định về quy trình kỹ thuật cường độ khai thác, nhất là với nứa, vầu, luồng để không làm cho rừng nghèo kiệt, thoái hóa. Việc khai thác chế biến lâm sản trên địa bàn cần có quy hoạch đồng bộ với các giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu. 
Quan Sơn có nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi, cải tạo rừng nghèo kiệt sang cây trồng có giá trị kinh tế, đồng thời tăng cường bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng. Phát triển các mô hình trang trại rừng, tăng số lượng từ 15 trang trại với doanh thu bình quân 40 triệu đồng/trang trại năm 2010, lên 22 trang trại, doanh thu 70 triệu đồng/trang trại năm 2015. 
Các sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu tiếp tục tăng, từ năm 2010 đến năm 2015, khai thácgỗ tăng từ 2.395m3 lên 2.917m3, khai thác củi giảm từ 61.000Ste xuống 60.000Ste, khai thác tre, luồng giảm từ 1.756 nghìn cây xuống còn 1.645 nghìn cây do chế biến giảm, khai thác nứa giấy tăng từ 40.500 tấn lên 59.120 tấn.
Nhìn chung, rừng ở huyện Quan Sơn còn nhiều tài nguyên, đất lâm nghiệp bình quân đầu người còn khá lớn. Nếu Quan Sơn có chiến lược sử dụng rừng và đất lâm nghiệp đúng quy hoạch, kế hoạch, đúng quy trình kỹ thuật thì rừng và đất lâm nghiệp sẽ là nguồn lợi lớn, là nguồn thu nhập chủ yếu hàng ngày của người dân.

Trích cuốn dư địa chí huyện Quan Sơn (Trang 569 - 574)
 


Các bài viết gần đây

Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 16
 Hôm nay: 299
 Tổng số truy cập: 565348
  • Bản quyền © Huyện Quan Sơn
  • Địa chỉ: Thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Email: bbtquanson@gmail.com - ĐT:0942.530.693
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa
  • Ghi rõ nguồn tin: "huyenquanson.vn" khi phát lại thông tin từ Cổng TTĐT